TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI SỰ
NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH
1.1. Từ học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin
1.2. Từ những bài học kinh nghiệm và tinh hoa quân sự thế giới
Trang
2
3
3
1.3. Từ truyền thống quân sự của dân tộc và thực tiễn quân sự Việt Nam
3
4
2. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ
CHÍ MINH
5
2.1. Dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng để
giành và giữ chính quyền. Tư tưởng bạo lực cách mạng thống
nhất với tư tưởng hoà bình nhân đạo
2.2. Tư tưởng khởi nghĩa vũ trang toàn dân
2.3. Tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào
sức mình là chính
2.4. Nghệ thuật quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh
thống tư tưởng của Người. Đó là những vấn đề có tính qui luật của cách mạng
bạo lực trong đấu tranh để giành và giữ chính quyền, trong khởi nghĩa vũ
trang và chiến tranh cách mạng, trong việc xây dựng căn cứ địa, hậu phương,
đặc biệt là xây dựng các lực lượng vũ trang và nền quốc phòng toàn dân.
Nghiên cứu tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng, nhất là trong tình hình hiện nay.
1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ sự kế thừa và phát triển
truyền thống quân sự của dân tộc, tinh hoa quân sự nhân loại mà đỉnh cao là lý
luận quân sự Mác - Lênin, đồng thời tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn là sự
tổng kết từ thực tiễn đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam qua các thời
kỳ lịch sử.
1.1. Từ học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trước khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã là người
yêu nước, những giá trị về truyền thống của dân tộc trong đó có những giá trị
về truyền thống quân sự có ảnh hưởng lớn đến Người. Đến với chủ nghĩa Mác
– Lênin giúp cho Hồ Chí Minh hiểu được đúng đắn những giá trị truyền thống
của dân tộc và tri thức kinh nghiệm thế giới. Chủ nghĩa Mác – Lênin, mà trực
tiếp là những quan điểm chiến tranh và quân đội, về bạo lực cách mạng, về vũ
trang toàn dân, xây dựng Hồng quân công - nông... thực sự trở thành cơ sở
nền tảng cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự.
Quá trình tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tư tưởng quân sự của
chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã có bước phát triển mới và làm phong phú thêm lý luận Mác - Lênin
trong lĩnh vực hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang.
1.2. Từ những bài học kinh nghiệm và tinh hoa quân sự thế giới
Hồ Chí Minh đã tiếp cận kho tàng tri thức quân sự nhân loại từ cổ chí
trong truyền thống quân sự Việt Nam, Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong tư
tưởng quân sự của Người. Truyền thống đó là niềm tin ở sức mạnh lòng dân,
truyền thống đoàn kết toàn dân, truyền thống quyết đánh quyết thắng.
Truyền thống quân sự, việc sử dụng sức mạnh quân sự và tư tưởng
nhân đạo (công tác binh vận) Việt Nam vừa thể hiện ý chí quyết tâm đánh
giặc giữ nước vừa thắm đượm tính nhân văn, nhân đạo cao cả "Lấy đại nghĩa
thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo", là truyền thống và kinh nghiệm
tổ chức xây dựng lực lượng, sự quan hệ phối hợp giữa các thứ quân. Truyền
1
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, tr.231-232
4
thống quân sự Việt Nam còn được thể hiện ở nghệ thuật đánh giặc tài tình,
nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy "đoản binh chế trường
trận..." đã góp phần làm nên những chiến thắng lẫy lừng trong lịch sử dân tộc
ta như Bạch Đằng, Đống Đa...
Những giá trị truyền thống dân tộc đã ảnh hưởng rất sâu sắc tới quá
trình hình thành tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Làm nên những giá trị đặc
trưng sâu sắc trong tư duy quân sự của Người.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam:
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, kể từ đó và những
năm sau này dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân ta đã anh dũng
đứng lên đấu tranh chống lại bọn xâm lược và bè lũ phong kiến tay sai. Tuy
nhiên các phong trào yêu nước dưới ngọn cờ của giai cấp phong kiến hoặc
khuynh hướng tư sản đều thất bại do hạn chế về đường lối, phương pháp đấu
tranh, cũng như quan điểm tổ chức xây dựng lực lượng. Hồ Chí Minh đã
nghiên cứu tình hình thực tế này, nhận thấy rõ những hạn chế và những yêu
cầu, nhiệm vụ đặt ra cần phải giải quyết để đưa phong trào đấu tranh chống
chủ nghĩa thực dân tự bản thân nó đã là bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ
yếu. Người viết: “Lịch sử việc người Âu xâm chiếm châu Phi, cũng như bất
cứ lịch sử xâm chiếm thuộc địa nào – thì từ đầu đến cuối đều được viết
bằng máu những người bản xứ” 1. Sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của
Hồ Chí Minh đã vượt qua tất cả những gì mà những nhà lý luận mác xít đề
cập tới. Thông qua sự phân tích Người muốn lưu ý giai cấp vô sản quốc tế
và nhân dân lao động thế giới: “Chủ nghĩa đế quốc hiện đại đặt nền móng
trên sự bóc lột hàng triệu người lao động ở các nước thuộc địa và nửa thuộc
địa. Bởi thế, nó chỉ tan rã hoàn toàn và vĩnh viễn khi nào chúng ta phá bỏ
được nền móng đó của lâu đài đế quốc chủ nghĩa” 2. Theo đó, Hồ Chí Minh
chỉ rõ nhiệm vụ của giai cấp vô sản và nhân dân các nước thuộc địa và nửa
thuộc địa là: “… trong thời gian ngắn nhất phải tạo ra một phong trào đối
kháng mang tinh thần cộng sản, chống chủ nghĩa tư bản và hai hình thức
đặc biệt của nó là chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa
pháo thuyền ở các thuộc địa” 3. Phong trào đối kháng mang tinh thần cộng
sản mà Hồ Chí Minh nói ở đây là sức mạnh của bạo lực cách mạng để
chống lại sự thống trị, bóc lột của kẻ thù.
Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất của chủ nghĩa thực dân Pháp ở
Việt Nam, Người chỉ rõ để giành lấy chính quyền thì không thể ảo tưởng
trông chờ vào sự “khai hóa văn minh” của Pháp, càng không thể “cầu xin”
1
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, tr.326.
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2, tr.126.
33
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, tr.445.
2
6
sự thống nhất với chủ nghĩa nhân đạo và tinh thần yêu chuộng hoà bình, vừa
1
2
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, tr.304
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, tr.304
7
mang đậm bản sắc của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam “thương người như thể
thương thân”. Với Hồ Chí Minh, bạo lực không phải là mục tiêu, là công cụ
vạn năng mà chỉ là phương tiện buộc người cách mạng phải sử dụng để
chống lại bạo lực phản cách mạng. Là người yêu chuộng hoà bình, có tình
yêu thương con người rộng lớn, Hồ Chí Minh luôn chú trọng sử dụng các
hình thức đấu tranh hòa bình nhằm giành thắng lợi và giảm đến mức thấp
nhất những tổn thất về sinh mạng con người. Người đã từng nhân nhượng,
thoả hiệp có nguyên tắc để tránh chiến tranh, kêu gọi phía Pháp thực hiện
hợp tác vì tự do, bình đẳng và độc lập. Người đã chủ động ký hiệp định sơ
bộ 6-3-1946 và tạm ước 14-9 mong tìm phương sách cứu vãn hòa bình.
Nhưng đó phải là “một nền hoà bình chân chính, trong độc lập và tự do thực
sự”1. Khi cơ hội hòa bình không còn, hòa hoãn, nhân nhượng đã đến giới
hạn cuối cùng thì Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến với quyết tâm
“Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ”2. Đồng thời kiên trì kêu gọi chính phủ Pháp chấm dứt chiến
tranh, kêu gọi nhân dân tiến bộ Pháp và các nước dân chủ trên thế giới tích
cực ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hòa bình.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc sử dụng bạo lực cách mạng để
chống lại bạo lực phản cách mạng đã thể hiện tính nhân văn cao cả. Người
không bao giờ muốn con người phải đổ máu và đau khổ. Ngay cả đối với kẻ
thù, Người cũng chỉ rõ, chúng ta chiến đấu để “quét sạch” nó đi, để “đánh cho
Người cũng đã nêu lên những điều kiện bảo đảm thắng lợi:
Một là, lực lượng đế quốc thống trị bị lung lay, bối rối, không đủ sức
giữ địa vị của chúng như trước nữa.
Hai là, có một cao trào cách mạng trong quảng đại quần chúng. Dân
chúng đói khổ căm tức đến cực điểm quyết hy sinh nổi dậy đấu tranh với đế
quốc đến cùng vì hiểu rằng ngồi yên sẽ chết.
Ba là, có một chính đảng lãnh đạo, chính đảng ấy lập được một đoàn
thể cách mạng kiên quyết, có một chính sách đúng, có một lực lượng khá để
lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa là được dân chúng tin cậy.
Về hình thức khởi nghĩa, Người chỉ rõ: Ở Việt Nam, khởi nghĩa có thể
diễn ra dưới hình thức chuyển từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang để
chống lại bọn phát xít tàn bạo, phát động chiến tranh du kích ở từng địa
phương, thực hiện khởi nghĩa từng phần, chớp thời cơ tiến hành tổng khởi
nghĩa cả nông thôn và thành thị. Đó cũng là quan điểm nền tảng trong đường
lối của Đảng, trong lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Những
quan điểm tư tưởng đó không ngừng được bổ sung phát triển với những nội
dung cơ bản sau:
Một là, xác định đúng ngay từ đầu con đường giành chính quyền
bằng bạo lực cách mạng của quần chúng tiến hành với phương thức khởi
nghĩa vũ trang, con đường khởi nghĩa vũ trang phải đi từ khởi nghĩa từng
9
phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước khi có thời
cơ thuận lợi.
Hai là, lực lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang là lực lượng toàn dân.
Việc xây dựng lực lượng để tiến hành khởi nghĩa phải lấy xây dựng lực lượng
chính trị của quần chúng làm cơ bản, trên cơ sở đó coi trọng xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân.
Ba là, khởi nghĩa vũ trang phải có tình thế và thời cơ chín muồi.
10
Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đáp ứng mong muốn ngàn đời
của dân tộc và phù hợp với xu thế thời đại. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, con đường giải phóng triệt để cho dân tộc, xã hội và con
người. Mục tiêu chính trị của cuộc kháng chiến toàn dân không chỉ là giữ và
giành lại nền độc lập cho Tổ quốc, mà còn xây dựng một chế độ xã hội mới
không còn áp bức, bóc lột, bất công. Chính vì vậy, nó đã tạo khả năng động
viên được sức mạnh, nghị lực và tinh thần sáng tạo to lớn của nhân dân khi đi
vào chiến tranh, đi vào kháng chiến.
Để biến khả năng thành hiện thực, Hồ Chí Minh đã nêu cao chính sách
đại đoàn kết dân tộc, tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước vào trong một
Mặt trận dân tộc thống nhất, dựa trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân
và trí thức. Người rất coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục, động viên tinh
thần nhân dân, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ, mọi người dân hiểu rõ mục tiêu
của cách mạng, tính chất của chiến tranh, của kháng chiến, nâng cao lòng yêu
nước, ý chí kiên cường, bất khuất, giác ngộ sâu sắc lợi ích tối cao của dân tộc
để tự giác tham gia kháng chiến và đóng góp tích cực vào cuộc kháng chiến
thần thánh của cả dân tộc.
- Kháng chiến toàn diện: tức là đánh giặc trên tất cả các mặt trận: quân
sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá, tư tưởng…
Đấu tranh quân sự: là hình thức chủ yếu nhất của chiến tranh. Bởi vì,
cuối cùng bao giờ cũng phải thắng địch bằng quân sự, phải đập tan quân đội
nhà nghề là công cụ chủ yếu của kẻ xâm lược. Phải đánh địch ở khắp mọi nơi,
kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh nhỏ, đánh
vừa, đánh lớn… nhằm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Phải vừa đánh,
vừa xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang làm nòng cốt, xây dựng bộ đội
chủ lực mạnh để quyết định ở chiến trường.
Đấu tranh chính trị: là hình thức cơ bản nhất của chiến tranh nhân dân.
Tập hợp, mở rộng và củng cố tổ chức quần chúng, xây dựng và phát triển lực
lượng chính trị rộng khắp. Tổ chức và lãnh đạo nhân dân đấu tranh với các
lực lượng của ta, càng đánh ta càng mạnh, địch càng yếu, đánh bại từng âm
mưu chiến lược của địch, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Trong tình hình
đó, phải biết tạo thời cơ để giành thắng lợi càng sớm càng tốt.
Dựa vào sức mình là chính là sự tiếp nối truyền thống độc lập tự chủ, tự
lực, tự cường của dân tộc ta. Dựa vào sức mình là chính không có nghĩa là tự
mình cô lập. Mà phải luôn xác định rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận
1
2
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 6, tr.164.
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, tr.485.
12
của cách mạng thế giới và phải liên hệ mật thiết với cách mạng thế giới thì
mới giành được thắng lợi...
2.4. Nghệ thuật quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật quân sự rất phong phú và rất đặc
sắc, đó là những tư tưởng cốt lõi, chủ yếu làm nền tảng lý luận và định hướng
hành động cho Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta bổ sung, hoàn thiện trong
khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng trở thành nghệ thuật quân sự
của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ
thuật quân sự bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công luôn giành thế chủ động. Có
tư tưởng chiến lược tiến công mới có hành động tiến công. Có chủ động mới
phát triển được thế tiến công “Kiên quyết không ngừng thế tiến công” là biểu
hiện cao nhất của tư tưởng tiến công, đây là biểu hiện cao nhất của tư tưởng
tiến công Người nói: “giữ quyền chủ động là khôn khéo sử khiến quân thù
(khôn khéo điều khiển quân thù), muốn đánh nó ở chỗ nào thì đưa nó đến đó
thứ vũ khí trang bị, kết hợp đánh du kích với đánh tập trung, đánh tiêu hao với
đánh tiêu diệt.
Trong kháng chiến toàn dân, toàn diện phải đánh địch bằng mọi lực
lượng: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích. Phải đánh địch
bằng mọi qui mô: đánh từng người, từng đơn vị, có đánh nhỏ, đánh lớn. Phải
đánh bằng mọi thứ vũ khí trang bị sẵn có trong tay đặc biệt phải cướp vũ khí
của địch để tiêu diệt địch. Phải đánh từ du kích tiến lên đánh tập trung và kết
hợp chặt chẽ hai hình thức đó để tiêu hao, tiêu diệt ngày càng nhiều sinh lực
địch. Phải đánh địch bằng mọi cách: tập kích, phục kích, đánh phá đồn bốt…
Cách đánh của “đặc công”, “biệt động” là sáng tạo đặc sắc của tư tưởng lấy
nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều “xuất quỉ nhập thần, thiên biến vạn hoá” theo
tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đánh vào lòng người, kết hợp tác chiến với binh vận, địch vận.
Người rất coi trọng việc đánh vào lòng người, binh vận, địch vận. Cần
vận động không chỉ binh sĩ trong quân đội viễn chinh của bọn thực dân đế
quốc, mà cả binh sĩ trong nguỵ quân do chúng dựng nên. Người đã nói với
những cán bộ làm công tác định vận: sách quân sự có câu: đánh mà thắng
địch là giỏi, không đánh mà thắng lại càng giỏi hơn. Không đánh mà thắng là
nhờ địch vận. Nếu các chú khéo nguỵ vận thì đó cũng là cách đánh tiêu diệt địch.
Người rất tin vào khả năng cảm hoá binh sỹ địch, một khi ta làm cho họ
rõ được cuộc chiến tranh mà họ đang tiến hành là phi nghĩa, thức tỉnh lương
tri của họ hướng về cuộc chiến đấu chính nghĩa của ta. Người rất coi trọng
12
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr.287.
14
chính sách khoan hồng, nhân đạo đối với tù binh và những binh sĩ bỏ hàng
Trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Chí Minh nêu lên
quan điểm hết sức quan trọng “người trước, súng sau”. Muốn nói đến mối
15
quan hệ giữa con người với vũ khí trong xây dựng lực lượng vũ trang, nhưng
yếu tố quyết định là con người cầm vũ khí. Do đó phải thường xuyên chăm lo
giáo dục bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sỹ có bản lĩnh chính trị, có tri thức quân
sự, có trình độ văn hóa, có sức khoẻ, năng lực… Trong khi nêu cao vai trò
của con người Hồ Chí Minh không coi nhẹ vũ khí, kỹ thuật.
Người chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm 3 thứ
quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích. Người cũng đặc
biệt coi trọng công tác huấn luyện, giáo dục bộ đội. Quan tâm chăm lo đến đời
sống vật chất của bộ đội với tinh thần “thực túc thì binh cường”, đảm bảo vật chất
kỹ thuật cho bộ đội là hết sức quan trọng.
Xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự, vì “Tướng là kẻ giúp nước. Tướng
giỏi đủ cả: trí, tín, nhân, dũng, nghiêm thì nước mạnh. Tướng xoàng thì
nước hèn”1.
Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng của quân
đội, sức chiến đấu của quân đội “Quân đội ta phải tiến đến chính qui và hiện
đại hoá”2.
2.6. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu
phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân
Trong chuẩn bị khởi nghĩa, khởi nghĩa và chiến tranh Hồ Chí Minh
coi trọng việc xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng hậu phương để tạo
tiềm lực và chỗ đứng chân trong khởi nghĩa vũ trang cũng như trong chiến
tranh cách mạng. Theo Người: Phải triệt để dựa vào nhân dân, đi từ xây
dựng cơ sở chính trị của quần chúng từng bước xây dựng, mở rộng và củng
cố căn cứ địa cách mạng và hậu phương trong chiến tranh. Chăm lo xây
hoàn thiện và đã trở thành những quan điểm nền tảng trong đường lối xây
dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng ta.
3. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH ĐỐI
VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
HIỆN NAY
3.1. Nhận thức rõ những khó khăn thách thức đối với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Ngày nay sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta diễn ra trong bối
cảnh tình hình thế giới có những diễn biến nhanh chóng và phức tạp chứa
đựng nhiều yếu tố khó lường. Cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra gay gắt,
quyết liệt dưới nhiều hình thức khác nhau. Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là
đế quốc Mỹ không từ bỏ âm mưu chống phá chủ nghĩa xã hội, chống phá
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Với chiến lược “diễn biến hoà bình”
kết hợp với “bạo loạn lật đổ”, chúng chống phá chủ nghĩa xã hội quyết liệt
với nhiều hình thức, biện pháp tinh vi xảo quyệt hơn. Các cuộc chiến tranh
dân tộc, sắc tộc, xung đột khu vực, những cuộc chiến tranh được ngụy
trang dưới các chiêu bài "tự do, dân chủ, nhân quyền" thực chất là âm mưu
17
áp đặt sự chỉ đạo của các nước lớn nhằm biến các nước nhỏ và yếu trở
thành các nước phụ thuộc.
Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay đó là: bảo vệ Tổ quốc gắn với bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân không thể tách rời.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Bảo vệ vững chắc
Tổ quốc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà
nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh
kinh tế, an ninh tư tưởng – văn hóa và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ
18
nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu
tranh. Đó là nguyên tắc, là tiêu chí để xác định đối tượng, đối tác của ta trong
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Tuy nhiên, hiện nay giữa đối tượng và đối tác luôn có sự đan xen.
Trong khi là đối tượng đấu tranh nhưng vẫn có những mặt cần tranh thủ hợp
tác; ngược lại là đối tác trong quan hệ làm ăn, nhưng vẫn có những mặt đối
lập cần cảnh giác và đấu tranh… Giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm và
tinh thần cảnh giác cách mạng. Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu và thủ
đoạn diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ.
Hai là, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng
và an ninh, trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước.
Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an
ninh nhân dân. Đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố.
Tiếp tục phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, xây dựng các khu quốc
phòng - kinh tế với mục tiêu tăng cường quốc phòng - an ninh là chủ yếu, tập
trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược và những khu vực nhạy cảm trên
biên giới đất liền, biển đảo. Xây dựng công nghiệp quốc phòng trong hệ thống
công nghiệp quốc gia dưới sự chỉ đạo, quản lý điều hành trực tiếp của Chính
phủ, đầu tư có chọn lọc theo hướng hiện đại, vừa phục vụ quốc phòng vừa
phục vụ dân sinh.
Ba là, xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng chính quy - tinh nhuệ - từng bước hiện đại.
Xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, trong đó cần tập trung:
thường xuyên làm tốt công tác giáo dục để mọi cán bộ, chiến sỹ đều có sự
thống nhất cao về mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ. Chú trọng xây dựng nhân tố
chính trị tinh thần, tăng cường bản chất giai cấp công nhân… Tiếp tục đổi
mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, huấn luyện, đào tạo cho
phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Huấn luyện cần nắm vững phương châm: “cơ
bản, thiết thực, vững chắc, đồng bộ và chuyên sâu”. Huấn luyện phải sát với
thực tiễn chiến đấu, sát đối tượng tác chiến, sát yêu cầu nhiệm vụ, sát địa bàn