Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ
nhiệm khoa, các thầy cô giáo trong khoa Triết học trường Đại học Sư phạm
Hà Nội – những người đã nhiệt tình truyền đạt và trang bị cho em những kiến
thức quan trọng và quý báu trong thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Lê Văn Đoán,
người thầy đã dạy dỗ em, dành thời gian tận tình hướng dẫn, định hướng và
tạo điều kiện, giúp đỡ để em hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới kiến trúc sư – phong thủy Kiến
Phong và kiến trúc sư Nguyễn Quốc Khánh đã giúp đỡ em để hoàn thành các
vấn đề kiến trúc phong thủy và hoàn thành khóa luận này.

Hà Nội, tháng 5 năm 2015.
Sinh viên

Nguyễn Thị An


Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………

1.2.5. Phương pháp luận lấy tự nhiên và quy luật tự nhiên làm cách
xử thế của con người ............................................................................ 29
1.3. Những giá trị và hạn chế của mối quan hệ giữa con ngƣời với tự
nhiên trong triết học Đạo gia ............................................................................37


CHƢƠNG 2: Ý NGHĨA CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƢỜI VỚI
TỰ NHIÊN TRONG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA ĐỐI VỚI KIẾN TRÚC
PHONG THỦY Ở VIỆT NAM ................................................................................................. 40
2.1. Cơ sở lý luận về kiến trúc phong thủy .....................................................40
2.1.1. Khái niệm “phong thủy” ............................................................ 40
2.1.2. Khái niệm “kiến trúc phong thủy” ............................................ 43
2.1.3. Nguồn gốc thuật phong thủy ..................................................... 44
2.1.4. Sự phát triển của thuật phong thủy với ngành kiến trúc ......... 50
2.2. Ý nghĩa đối với kiến trúc phong thủy trong mối quan hệ giữa con
ngƣời với tự nhiên của triết học Đạo gia ........................................................54
2.2.1. Kiến trúc phong thủy với ngoại cảnh thiên nhiên .................... 54
2.2.2. Kiến trúc phong thủy với các yếu tố nội thất ............................ 62
2.2.3. Kiến trúc phong thủy với vấn đề đất đai ................................... 66
2.3. Những giá trị và hạn chế của mối quan hệ giữa con ngƣời với tự
nhiên trong triết học Đạo gia đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam. 68
PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................ 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................73


Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

Một trong những nền tư tưởng đóng góp vào dòng chảy của nền triết học
đó là triết học Trung Quốc cổ đại. Triết học Trung Quốc cổ đại là những kho
tàng tư tưởng phản ánh lịch sử phát triển của những quan điểm của nhân dân
Trung Quốc về tự nhiên, xã hội và quan hệ của con người với thế giới xung
quanh. Trong đó, triết học Trung Quốc cổ đại đề cập sâu sắc về vấn đề con
người và đặc biệt mối quan hệ giữa con người với tự nhiên theo quy luật
“Thiên nhân hợp nhất”. Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên trong Đạo gia ở khía cạnh triết học được thể hiện sâu sắc nhất so với
các học thuyết của các nhà triết học thời đó.
Đạo gia là một trong ba trào lưu triết học lớn trong lịch sử tư tưởng
Trung Quốc thời Xuân thu – Chiến quốc. Sự hình thành và phát triển của Đạo
gia gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà tư tưởng và tiêu biểu nhất đó là ba nhà
hiền triết có công sáng lập và hoàn thiện Đạo gia đó là Lão Tử, Dương Chu và
Trang Chu.
Người Trung Quốc xưa rất coi trọng việc chọn đất làm nhà, cất mộ… Họ
cho rằng, gia chủ có gặp điều tốt hay không là do vị trí địa lý và các yếu tố tự
nhiên tác động. Phong thủy ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu tâm lý của nhân dân
và nó cũng là một hiện tượng văn hóa được lưu truyền từ việc ứng dụng các
tư tưởng của các triết gia trong vấn đề mối quan hệ giữa con người với hoàn
cảnh – một sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Phong thủy chứa đựng những
yếu tố hợp lý song không ít người ứng dụng sai dẫn đến mê tín dị đoan. Để
thấy được những giá trị to lớn của thuyết phong thủy, chúng ta cần nghiên cứu
tính triết học trong phong thủy để làm sáng tỏ những yếu tố khoa học. Vì vậy,
những tư tưởng của triết học Đạo gia mang lại ý nghĩa sâu sắc đối với lĩnh vực
phong thủy về sự kết hợp giữa con người với tự nhiên một cách hài hòa.
Triết học Đạo gia, học thuyết Âm Dương – Ngũ Hành và Kinh dịch là một
trong ba tiền đề cho sự ra đời của thuật phong thủy. Việc ứng dụng những kiến
thức về phong thủy và kiến thức triết học vào việc thiết kế và xây dựng nơi ở,

trong đó có Đạo gia, giải thích và trình bày quan điểm về lịch sử triết học.
Mặc dù công trình đã đôi nét đề cập đến vấn đề con người nhưng chưa đề cập
đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong triết học Đạo gia một cách
hệ thống và sâu sắc.
Cuốn sách “Kinh dịch”(2007) của tác giả Nguyễn Hiến Lê cũng có đề

3


Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

cập một phần về vấn đề con người và tự nhiên nhưng chỉ dừng lại ở triết lý
trong Kinh dịch là vũ trụ quan, nhất là nhân sinh quan của con người.
Cuốn sách “Lịch sử triết học Trung Quốc” của PGS. Hà Thúc Minh đã
trình bày trong phần một - triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến
quốc đề cập đến các tư tưởng của trường phái Đạo gia. Cuốn sách “Đại cương
lịch sử triết học phương Đông cổ đại” của tác giả Doãn Chính cũng đã trình
bày các tư tưởng của triết học Đạo gia. Tuy nhiên, hai cuốn sách này chưa đề
cập đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên một cách rõ nét.
Cuốn sách “Lược sử triết học Trung Quốc” (2013) của tác giả Phùng
Hữu Lan với 28 chương đã trình bày về lịch sử triết học Trung Quốc từ thời
khởi nguyên các học phái cho đến thời hiện đại. Công trình này đã đề cập tới
các tư tưởng của các triết gia, tổng quát các đặc điểm của triết học Đạo gia và
chỉ dừng ở việc khái quát vấn đề mối quan hệ giữa con người với tự nhiên của
triết học thời cổ đại.
Cuốn sách “Địa lý phong thủy toàn thư (2011) của nhà xuất bản Thời đại
với 12 chương đã trình bày lịch sử ra đời của thuật phong thủy và các kiến
thức cơ bản của phong thủy. Trong đó, công trình này chỉ dừng lại ở ứng
dụng thuật phong thủy trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên khái

khoa học của thuật phong thủy - KTS. Nguyễn Văn Vịnh; Một số giá trị của
phong thủy đối với quy hoạch xây dựng hiện nay - KTS. Doãn Quốc Khoa;
Phong thủy và kiến trúc xây dựng - KTS. Nguyễn Cảnh Mùi; Bàn luận phong
thủy dưới góc độ kiến trúc và đô thị - PGS. TS. KTS. Doãn Minh Khôi; Thuật
phong thủy với tiến trình lịch sử kiến trúc Việt Nam - KTS. Nguyễn Bá Đang;
Nhìn nhận phong thuỷ trong kiến trúc và quy hoạch xây dựng trên cơ sở nhận
thức xã hội về mối quan hệ logic giữa môi trường và sức khoẻ của con người GS.TS.GVCC. Đặng Đức Phú đã đôi nét nói về lịch sử ngành kiến trúc và tư
tưởng triết học cơ sở của phong thủy. Tuy nhiên, các công trình này chưa đi sâu
vào ý nghĩa của triết học Đạo gia với phong thủy và lĩnh vực kiến trúc.
Mặc dù một số công trình, bài báo của các tác giả đã ít nhiều đề cập đến
tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia
và ý nghĩa trong phong thủy nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu
vần đề này một cách đầy đủ và hệ thống.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên trong Đạo gia, khóa luận làm rõ những giá trị và hạn chế của mối

5


Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

quan hệ đó, đồng thời đưa ra những ý nghĩa đối với lĩnh vực kiến trúc phong
thủy ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận trình bày hệ thống tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa đối với lĩnh vực kiến trúc ở Việt
Nam giai đoạn thế kỉ XVII với việc Cao Biền truyền thuật phong thủy vào
Việt Nam đến nay.

PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƢỜI VỚI TỰ NHIÊN
TRONG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm “con người” trong triết học Đạo gia
Vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các
nhà triết gia Trung Quốc cổ đại. Ở mỗi điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể và
góc độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triết học, các triết gia lại có
những quan điểm khác nhau về việc lý giải vấn đề con người theo lập trường
khác nhau. Khác với các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia khi giải quyết
vấn đề này ở góc độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội thì các
nhà tư tưởng của Đạo gia lại tiếp cận giải quyết vấn đề về bản tính tự nhiên
của con người.
Trong triết học Đạo gia, khái niệm “con người” chưa được định nghĩa
một cách rõ ràng mà nó được biểu hiện thông qua mối quan hệ với phạm trù
“Đạo”, “Đức”, “vô vi” và “vị ngã”.
Có lẽ ở thời Xuân thu – Chiến quốc, Tử Sản là người đầu tiên đề cập đến
“Đạo”. Chúng ta thường gặp chữ “Đạo” trong danh pháp của Nho gia khi thể
hiện lý tưởng đạo đức. Có thể thấy, phạm trù “Đạo” không chỉ được dùng
trong trường phái Đạo gia mà nó còn được dùng cho nhiều trào lưu tư tưởng
của triết học Trung Quốc cổ đại.
Phạm trù “Đạo” trong triết học Đạo gia có nhiều nghĩa khác nhau thể
hiện tư tưởng của các triết gia. Theo nghĩa đen, “Đạo” là con đường, lối đi
hoặc có nghĩa là dẫn dắt, giao tiếp bằng ngôn ngữ với người khác,… Trong
Kinh Dịch, “Đạo” chỉ một nguyên lý tối cao bao gồm và chi phối sự luân
phiên của Âm và Dương. Từ đó, “Đạo” trở thành một nguyên lý chỉ trật tự
của tự nhiên hay đạo đức, chính trị.

7


là hai phương diện của Đạo.

8


Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

Lão Tử viết:
“Thiên địa vạn vật sinh ư Hữu, Hữu sinh ư Vô.”
(Muôn vật trong thiên hạ đều sinh ra từ cái Hữu, cái Hữu sinh ra từ cái
vô.) [27; chương 40]
“Đạo” theo Lão Tử là cội nguồn của muôn loài, là chủ của trời đất và là
cơ sở đầu tiên của vạn vật. “Đạo” là hư, là vô và là cái ban đầu của vạn vật, là
bản nguyên của vũ trụ, “huyền diệu mà bất kì một ngôn từ nào cũng không
thể diễn tả được” [24; tr.15]. Lão Tử viết:
“Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật. Vạn vật
phụ Âm nhi bão Dương, xung khí dĩ vi hòa.”
(Đạo sinh Một, Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinh vạn vật. Vạn vật đều
cõng Âm, ôm Dương, và là sự dung hòa của hai khí Âm Dương.) [27;
chương 42]
Đạo luôn vận hành theo quy luật, quy luật đó không phải cái gì khác mà
chính là lẽ tự nhiên. Lão Tử cho rằng toàn bộ vũ trụ bị chi phối bởi hai quy
luật cơ bản nhất đó là luật quân bình (bắt nguồn từ tư tưởng của dịch học ở
quẻ Thái của dịch ở thế cân bằng trung dung) và luật phản phục (khuynh
hướng tất yếu trong quá trình vận động, biến đổi của vạn vật là trở về trong
“Đạo” và trở về với tĩnh lặng, hư không). “Đạo” mang ý nghĩa là quy luật
chung của mọi sự biến hóa của vạn vật, vừa có trước sự vật lại vừa nằm trong
sự vật. Con người được sinh ra, tồn tại và không tách rời “Đạo”. Vì vậy, con
người mang tính thuần phác, tự nhiên, vô vi của “Đạo” và không nên hữu vi,

kiệm, ba là không dám hiếu thắng ở trước mặt người khác.) [27; chương 67]
Như vậy, theo Lão Tử “Đạo” là bản nguyên, là khởi thủy của mọi thứ
trên đời. Mặc dù quan niệm của Lão Tử còn huyền bí nhưng đã giải thích
nguồn gốc của vũ trụ và lần đầu tiên xác lập vũ trụ quan của người Trung
Quốc. Lão Tử khẳng định vũ trụ có từ sự biến hóa vô cùng, vô tận của “Đạo”
và con người phải sống trong “Đạo”.
Trang Tử trong quan niệm về “Đạo” có những điểm khác biệt với Lão
Tử. Ông được coi là nhà tư tưởng lớn trong trường phái Đạo gia với quan
điểm “tề vật luận” (mọi sự không có sự phân biệt) đã mang lại những tư
tưởng sâu sắc về vấn đề con người.

10


Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

Trang Tử cho rằng, con người sinh ra từ đạo tự nhiên, vô danh; mỗi vật,
mỗi người đều có một bản tính, khả năng, sở thích tự nhiên của mình và thuận
theo bản tính tự nhiên ấy mỗi vật, mỗi người đều có chỗ cho là phải, là trái, là
lớn, là nhỏ, là tốt,… không người nào giống người nào. Nhận thức của con
người cũng là tương đối và trí thức chỉ là sản phẩm chủ quan của con người
tạo ra áp đặt cho sự vật mà thôi.
Trang Tử đề ra học thuyết vứt bỏ phán đoán về mặt lý luận và thủ tiêu
đấu tranh về mặt thực tiễn khi cho rằng: “đây” cũng là “kia”, “kia” cũng là
“đây”. “Kia” có phải trái của nó. “Đây” cũng có phải trái của nó… Phải cũng
là một lẽ vô cùng, trái cũng là một lẽ vô cùng... [28; Tề vật luận]. Từ đó,
Trang Tử dạy người ta đối với những điều phải trái tự nhiên phát triển, không
cần phân biệt chân lý, sai lầm.
Theo Trang Tử con người và vạn vật sinh ra từ “Đạo” đều có bản tính và

cập thông qua phạm trù “Đạo”. Trong triết học Đạo gia, phạm trù “Đạo” có
hai nghĩa được rút ra từ sự quan sát sự vận chuyển của vạn vật trong thế giới.
“Đạo” là bản nguyên của vũ trụ, có trước trời đất, không biết đặt tên nó là gì,
tạm gọi là “Đạo”. Nó là cơ sở vật chất đầu tiên của thế giới, dùng “Đạo” để
giải trích tính vật chất là tính thống nhất của thế giới. Những quan điểm đó
tuy còn hạn chế do điều kiện hoàn cảnh lịch sử và góc nhìn của mỗi triết gia,
nhưng đã mang những tư tưởng duy vậy và biện chứng rõ nét. Quan điểm về
con người của triết học Đạo gia đã đóng góp những tư tưởng sâu sắc vào dòng
chảy của triết học Trung Quốc nói riêng và trên thế giới nói chung.
1.1.2. Khái niệm “tự nhiên” trong triết học Đạo gia
Triết học Đạo gia đóng góp vào nền triết học Trung Quốc cổ đại không
chỉ ở những vấn đề về con người mà còn đề cập đến vấn đề về “tự nhiên” và
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Cũng giống như khái niệm “con
người” trong triết học Đạo gia, khái niệm “tự nhiên” được đề cập thông qua
các phạm trù “Đạo”, “Vô vi”, “Thiên lý” và “Thiên – Địa – Nhân hợp nhất”.
Thứ nhất, phạm trù “Đạo” là sự khái quát cao nhất của triết học Lão –
Trang và là nền tảng chi phối toàn bộ học thuyết của Đạo gia.
Trong bản thể luận của Lão Tử, về mặt thể của “Đạo”, ông cho rằng tính
tự nhiên của Đạo được hiểu như là tính khách quan, vốn có và không phụ

12


Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

thuộc vào ý chí con người (không hiểu như khái nhiện tồn tại khách quan trong
triết học phương Tây bởi vì “Đạo” chứa đựng và hòa đồng cả cái tồn tại và cái
không tồn tại, cả cái tĩnh lặng và biến đổi, cả cái tương đối và tuyệt đối). Nó
vốn tự nhiên, lạnh lùng trước con người. Nó là tự nhiên nhưng không phải tồn


theo sự phát triển tự nhiên của vạn vật. Lão Tử cố gắng tìm ra quy luật
khách quan của sự vật phát triển và biến hóa, khuyên con người hành
động theo quy luật tự nhiên.
Đối với Trang Tử, ông cho rằng “Đạo” là vô hạn, ở khắp mọi nơi và nó
có trước tự nhiên. Vì vậy, vạn vật sinh ra từ “Đạo” đều có bản tính, khả năng
tự nhiên của mình. Mặt khác, ông cho rằng “Đức” là “Đạo” thể hiện ở mỗi
vật, là bản tính tự nhiên của mỗi vật, mỗi người sinh ra từ “Đạo” tự nhiên, vô
danh, vô thể.
Trang Tử viết:
“Thái sơ hữu Vô, Vô hữu danh. Nhất chi sở khởi, nhất hữu nhi vị hình.
Vật đắc dĩ sinh vị chi đức.”
(Thái sơ có Vô, cái Vô này không có tên. Vô sinh ra Nhất. Có Nhất nhưng
chưa có hình. Vạn vật có được nó (tức Đạo) để sinh trưởng, thì gọi là Đức.)
[28; Thiên Địa]
Dương Chu lại cho rằng sinh ra từ “Đạo” tự nhiên, thuận theo bản tính tự
nhiên, con người ta phải biết bảo tồn sự sống của mình. Dương Chu gọi đó là
“Thiên tính tồn ngã” của con người. Dương Chu nói: “Con người bản chất
giống Trời đất, có đức tính của ngũ hành, là loại tối linh trong vạn vật. Thân
ta không phải là của ta, nhưng đã có chúng rồi thì không thể diệt chúng
được.” [13; Chương VII, tr. 15]
Từ quan niệm cốt lõi của “Đạo” (Đạo pháp tự nhiên), Lão Tử cho rằng
xã hội con người không những không thể tách khỏi tự nhiên mà ngược lại
không được làm những gì ngược lại với tự nhiên. Mọi cái nhân tạo đều sai
lầm, mọi cái tự nhiên đều vĩ đại.
Thứ hai, quan niệm về “vô vi” của triết học Đạo gia.
“Vô vi” là một khái niệm triết học đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại. Đó là phương pháp sống tự nhiên, mộc mạc, thuần phác, không bị cưỡng
chế, gò ép. “Vô vi” theo Lão Tử cũng xuất phát từ ý nghĩa này nhưng thực


Hay:
“Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự.”
(Muốn được thiên hạ phải luôn dùng vô vi.) [27; chương 48]

15


Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

Vô vi khác hữu vi. Hữu vi là phát huy tính năng động chủ quan, cố sức
thi thố đạo đức nhân nghĩa, ban hành pháp lệnh chính sách, bày vẽ lễ nghi
giáo huấn… Tất cả những thứ đó theo Lão Tử, càng làm càng khiến cho xã
hội ngày càng xấu đi mà thôi.
Thứ ba, tự nhiên hợp nhất với Trời và người thể hiện trong tư tưởng
“Thiên – Địa – Nhân hợp nhất”.
Thiên – Địa – Nhân hợp nhất trong triết học Đạo gia có hai nghĩa, đó là:
Trời – Đất – Người giống nhau và Trời – Đất – Người có quan hệ mật thiết
với nhau.
Triết học Đạo gia đã có những quan niệm về vấn đề tự nhiên sâu sắc và
khẳng định vũ trụ quan của mình với những yếu tố biện chứng. Chính những
quan niệm đó đã khẳng định năng lực quan sát và trình độ tư duy sâu sắc của
các nhà triết học đối với sự vật khách quan, tuy còn những hạn chế do điều
kiện hoàn cảnh lịch sử hay thế giới quan của các nhà triết học thời Xuân thu –
Chiến quốc.
1.2. Nội dung mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong triết
học Đạo gia
1.2.1. Cơ sở hình thành mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
trong triết học Đạo gia
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, sự phát sinh, phát triển của

hai con sông lớn dài thứ ba và thứ sáu trên thế giới. Hai con sông này được
bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng và chảy hướng về vùng bờ biển của Trung
Quốc. Có thể nói, thiên nhiên đã dành cho Trung Quốc những ưu ái về mặt
địa hình cũng như khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nghề nông nghiệp định
canh định cư.
Cảnh quan Trung Quốc biến đổi trên lãnh thổ rộng lớn. Ở phía Đông,
dọc theo bờ biển Hoàng Hải và phía Hoa Đông là các đồng bằng phù sa rộng,
cư dân đông đúc; phía rìa cao nguyên Nội Mông là các thảo nguyên rộng lớn.
Đồi và các dãy núi thấp chi phối địa hình tại Hoa Nam, trong khi miền Trung
– Đông có những châu thổ gắn với hai con sông lớn. Khí hậu Trung Quốc
được chia thành hai mùa rõ rệt mùa đông và mùa hạ.
Trung Quốc là một đất nước có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc phát
triển nghề nông nghiệp và định canh định cư. Điều kiện sống ở Trung Quốc

17


Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

đã làm cho con người hòa đồng với thiên nhiên, gắn bó với tự nhiên và con
người từ khi sinh ra đã gắn kết không tách rời khỏi tự nhiên.
Vì vậy, điều kiện địa lý của Trung Quốc đã quyết định đến thế giới quan
và phương pháp luận của các triết gia Trung Quốc, đặc biệt là các triết gia của
Đạo gia luôn gắn vấn đề con người với tự nhiên.
Thứ hai, cơ sở hình thành mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong
triết học Đạo gia được hình thành từ điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa
của Trung Quốc.
Về kinh tế, suốt chiều dài của lịch sử Trung Quốc, tư tưởng và chính sách
về kinh tế vẫn luôn chú trọng vào nông nghiệp với điều kiện của một nước lục

quan đến trao đổi sản phẩm. Muốn trao đổi sản phẩm thì trước tiên phải sản
xuất ra nó. Trong một nước nông nghiệp thì hình thức chủ yếu là sản xuất. Do
đó, suốt lịch sử Trung Quốc, các lý thuyết và chính sách về kinh tế đều “trọng
gốc khinh ngọn”. [11; tr. 33]
Những điều kiện về kinh tế trên dẫn đến nghề học, nghề cày ruộng là hai
nghề đáng tôn trọng ở Trung Quốc và đời sống của người dân gắn chặt với
nông nghiệp. Do đó, vũ trụ quan và nhân sinh quan của các triết gia Trung
Quốc luôn gắn liền với tự nhiên cũng như có sự diễn đạt ngôn ngữ riêng. Điều
đó được thể hiện rõ nét trong triết học của Đạo gia.
Về chính trị và văn hóa, Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến Quốc có
nhiều biến động về chính trị cũng như văn hóa.
Thời Xuân thu, mệnh lệnh của nhà Chu không còn được tuân thủ dẫn
đến trật tự về lễ nghĩa và cương thường xã hội đảo lộn, đạo đức suy đồi, tranh
quyền đoạt vị, chiến tranh xảy ra liên miên. Ước tính thời Xuân thu có khoảng
295 năm thì đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh. Vì vậy, đời sống nhân dân vô
cùng cực khổ, như thời kỳ nước Tần thì “thây người chết đầy đường”.
Thời Chiến quốc, chiến tranh giữa các nước liên tục xảy ra khiến cho đời
sống nhân dân ngày càng cực khổ và trật tự xã hội đảo lộn khiến lòng dân ly tán.
Chính trong những sự biến động của chính trị và xã hội Trung Quốc thời
Xuân thu – Chiến quốc ấy đã đặt ra một loạt những vấn đề xã hội và triết học
mới. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các nhà tư tưởng phải quan tâm, giải quyết
ngày càng nhiều và dẫn đến sự đa dạng của các trường phái triết học với sự
đấu tranh quyết liệt.

19


Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam



Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý
nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

Lão Tử viết:
“Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên.”
(Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo
thuận theo tự nhiên.) [27; chương 25]
Trang Tử lại cho rằng “Đạo” gắn với “Thiên”, “Thiên” ở đây có nghĩa là
“tự nhiên” và “Trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một”. Cho nên
Trang Tử nói:
“Vô vi vi chi vị thiên”
(Vô vi mà làm gọi là thiên)
Và:
“Thiên tại nội, nhân tại ngoại... Ngưu mã tứ túc, thị vị thiên; lạc mã thủ,
xuyên ngưu tỵ, thị vị nhân.”
(Thiên (sự tự nhiên) thì ở bên trong, nhân (sự nhân tạo) thì ở ngoài...
Trâu hoặc ngựa có bốn chân, đó là tự nhiên; cột dây vào đầu ngựa và xỏ dây
vào mũi trâu, đó là nhân tạo.) [28; Thu Thủy]
Quan niệm “Thiên nhân tương thông” cũng được thể hiện phần nào đó
trong triết học Đạo gia. Khi đề cập đến vấn đề này, các nhà triết học Trung
Quốc cho rằng con người là bẩm thụ được tinh của trời, thì cái đạo của trời là
cái đạo của người. Cái bẩm thụ được cái tính của trời, nên trời và người có
quan hệ mật thiết với nhau, mà người phải lấy phép tắc của trời làm mẫu mực,
phải coi thiên đạo là nhân đạo, nghĩa là phải ăn ở cho hợp với đạo trời. Lão
Tử không hoàn toàn chủ trương “Thiên nhân tương thông” nhưng cũng nghĩ
rằng “người bắt chước đất, đất bắt chước trời”.
Quan niệm “Thiên – Địa – Nhân hợp nhất” của triết học Đạo gia đã cho
thấy sự thống nhất của Trời – Đất – Người và mối quan hệ giữa chúng. Con
người sống trong tự nhiên, là một bộ phận của tự nhiên, hay nói cách khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status