ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
============ ***** ============
PHẠM THỊ OANH
MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI
VỚI TỰ NHIÊN VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hàm Giá
HÀ NỘI - 2003
1
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1: Quan niệm triết học về mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên 7
1.1. Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong lịch sử tư
tưởng trước Mác 7
1.2. Quan niệm mácxít về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên 19
Chương 2: Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ở Việt Nam
trường là trách nhiệm và là lợi ích lâu dài của mỗi quốc gia cũng như cả loài
người.
Việt Nam đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bên cạnh những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội mà chúng ta đã đạt được thì
tình trạng khai thác tự nhiên gia tăng và sự thiếu ý thức bảo vệ đã dẫn đến những
hậu quả nghiêm trọng về môi trường. Vấn đề sử dụng hợp lý, bảo vệ và tái tạo
tài nguyên, môi trường đang được đặt ra hết sức cấp thiết ở nước ta hiện nay. Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra mục
2
tiêu phát triển kinh tế - xã hội: “Kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội
với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững; tiến tới bảo
đảm cho mọi người dân đều được sống trong môi trường có chất lượng tốt ”
[15; 302].
Làm thế nào để có thể giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên, giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, đó là bài toán cần có
thêm lời giải về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và
vấn đề đặt ra trong việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay” nhằm đáp ứng
đòi hỏi trên. Chúng tôi mong rằng đề tài này sẽ góp phần nhỏ bé cùng toàn
Đảng, toàn dân thực hiện mục tiêu mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề
ra.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đã được các nhà triết học nghiên
cứu trong lịch sử. Trong triết học Mác, vấn đề này cũng đã được các nhà kinh
điển phân tích rất sâu sắc qua nhiều tác phẩm như: Bản thảo kinh tế – triết học
1844; Tư bản; Chống Đuy Rinh và đặc biệt tập trung trong tác phẩm Biện chứng
của tự nhiên. Trong tác phẩm này Ph. Ăngghen đã cảnh tỉnh chúng ta về những
nguy cơ mà con người có thể gây ra đồng thời nêu lên những luận điểm có tính
nguyên tắc trong quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên.
Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và vấn đề môi trường cũng đã
được nghiên cứu trong một số công trình, bài báo, tạp chí trong những năm gần
đây.
4
Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn với bài “Những tư tưởng của Ph. Ăngghen
về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong Biện chứng của tự nhiên”; bài
“Sự liên hệ lẫn nhau giữa các khoa học trong việc giải quyết vấn đề sinh thái”
và nhiều bài báo khác từ những năm 1980 đến nay đã phân tích sâu sắc mối quan
hệ giữa con người với tự nhiên dưới góc độ triết học và ý nghĩa thực tiễn của nó.
Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm với tác phẩm “Môi trường sinh thái: Vấn đề
và giải pháp” xuất bản năm 1997; tác phẩm “Văn hoá sinh thái nhân văn” xuất
bản năm 2001 cùng nhiều bài báo khác đã phân tích rất toàn diện về mối quan hệ
qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống Tự nhiên - Con người - Xã hội, về thực
trạng và giải pháp cho vấn đề môi trường ở Việt Nam, trong đó việc xây dựng ý
thức đạo đức sinh thái và xây dựng nếp sống văn hoá sinh thái được hết sức quan
tâm.
Một số tác giả khác như Chu Tuấn Nhạ với bài “Bảo vệ môi trường trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” trên tạp chí Cộng sản số
8/1998; tác giả Nguyễn Duy Quý (chủ biên) với tác phẩm “Đô thị hóa trong quá
trình công nghiệp hoá”; tác giả Trần Trọng Hựu với bài viết về chính sách sử
dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trên tạp chí Hoạt động khoa
học số 2/1998; tác giả Bùi Văn Dũng với đề tài “ Mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền” năm 1999; tác Giả Phạm
Văn Boong với tác phẩm “Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền” năm
2002 đã đề cập đến vấn đề mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, môi
trường ở những góc độ khác nhau. Có thể thấy mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên, môi trường đã được các tác giả trong nước đề cập khá toàn diện. Song
do mục đích khác nhau mà mỗi tác giả có một hướng tiếp cận riêng, hầu hết các
tác giả chưa tiến hành khái quát những quan điểm triết học trong lịch sử về vấn
Lênin, Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Những quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và các kết quả điều tra, nghiên cứu của các
nhà khoa học Việt Nam có liên quan đến nội dung được đề cập trong luận văn.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp lôgích và lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá,
trên tinh thần kết hợp lý luận với thực tiễn và phương pháp luận biện chứng duy
vật.
5. Đóng góp của luận văn
- Khái quát những quan điểm tiêu biểu về mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên trong lịch sử.
- Làm rõ quan điểm Mác xít về cơ sở và đặc điểm của mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên.
- Bước đầu xây dựng một số luận cứ khoa học và đề xuất một số giải
pháp góp phần vào việc giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu giảng
dạy, học tập cũng như cho những ai quan tâm đến vấn đề mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên, môi trường.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm : hai chương, năm tiết.
7
thu nhỏ trong vũ trụ bao la.
Từ một điểm xuất phát là tam tài, đã hình thành hai khuynh hướng khác
nhau trong quá trình phát triển. Khuynh hướng tích cực xem con người ở vị trí
trung tâm của vũ trụ. Mặc dù con người là một bộ phận của tự nhiên nhưng con
người không nhỏ bé, không hoà tan hoàn toàn vào tự nhiên. Con người đứng
giữa đất trời, hiện lên giữa đất trời với tầm vóc chân đạp đất, đầu đội trời, nhưng
con người không đối lập với đất trời. Bởi vì giữa người và trời là “thiên nhân
hợp nhất” hay “thiên nhân tương dữ”, “thiên nhân cảm ứng”, tức là giữa người
và trời có thể tương cảm, giao cảm lẫn nhau. Khổng Tử cho rằng nếu “người
bẩm thụ được cái “tính” của trời thì đạo của trời tức là đạo của người” [26; 212].
Như vậy con người hoàn toàn có thể hiểu được, “cảm” được “đạo trời”. Con
người không hoạt động tuỳ tiện cũng không hoàn toàn thụ động mà có thể biến
“đạo của trời” thành “đạo của người” nếu con người cảm được “đạo trời”, thuận
theo “đạo trời” mà hành động. Như vậy là bằng sự nỗ lực, quyết tâm, con người
có thể "cảm" được "đạo trời", biến "đạo của trời" thành "đạo của người" tức là
khi đó "nhân định thắng thiên". Theo quan điểm này con người không hoàn toàn
nhắm mắt theo "thiên mệnh", cũng không thể đi ngược lại"đạo trời" mà phải theo
đó mà hành động. Vì vậy, người phương Đông cho rằng để đạt tới thành công
9
trong bất kỳ hoạt động nào cũng cần hội tụ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân
hoà” mà con người phải tính tới.
Mặc dù quan niệm này được xây dựng dựa trên trực giác của người
phương Đông và không khỏi mang tính cảm tính nhưng đây là một khuynh
hướng tích cực, tiến bộ. Nó hoàn toàn không xa lạ với nguyên tắc căn bản trong
quan điểm mác xít về sự nhận thức và hành động theo quy luật của giới tự nhiên
mà chúng ta sẽ xem xét ở phần sau.
Một khuynh hướng khác lại cho rằng “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”
trong đó “thiên” vừa được xem như một lực lượng thiên nhiên bên ngoài, vừa
như ông Trời. "Thiên mệnh" là số phận của mỗi người như một kịch bản viết
của con người tách khỏi những quan hệ xã hội. Trang Tử chủ trương “thoát tục”,
“thuận theo tự nhiên”, coi “trời đất với ta cùng là một”.
Tóm lại, truyền thống hoà hợp với tự nhiên chủ yếu xem con người là bộ
phận của tự nhiên, coi trọng mặt thống nhất trong quan hệ giữa con người với tự
nhiên, từ đó dẫn đến thái độ tôn trọng tự nhiên và mô phỏng trật tự của tự nhiên.
Đây là một truyền thống đáng quý. Nó tạo nên tâm hồn, tình cảm, nét văn hoá
phong phú, sinh động, độc đáo của phương Đông. Đó là cơ sở để hình thành nếp
sống, nếp nghĩ với tình cảm yêu thiên nhiên, gắn bó với tự nhiên, với con người,
cần được kế thừa và phát triển trong điều kiện mới. Tuy nhiên nếu xu hướng này
bị đẩy tới cực đoan sẽ hạn chế khả năng sáng tạo và những sức mạnh to lớn
trong việc tác động cải tạo giới tự nhiên của con người mà theo Ph. Ăngghen,
chính điều đó lại là cái phân biệt chủ yếu giữa con người với động vật.
1.1.2 Triết lý chinh phục tự nhiên trong quan niệm truyền thống
phương Tây
Khái niệm “Phương Tây” được dùng để chỉ vùng văn hoá có khởi nguồn
từ văn hoá Hy Lạp - La Mã, sau mở rộng ra các nước Âu - Mỹ và các nước chịu
11
ảnh hưởng của văn hoá Âu - Mỹ. Nét đặc trưng của văn hoá phương Tây trong
việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là thiên về tìm
hiểu, khám phá, chinh phục tự nhiên. Tinh thần chủ động tích cực ấy có cội
nguồn sâu xa từ truyền thống tôn vinh con người đã xuất hiện ngay từ thời kỳ cổ
đại.
Đại biểu cho khuynh hướng đề cao con người trong triết học Hy - La cổ
đại, trước hết phải kể đến Prôtago. Khi đề cập đến vấn đền chân lý, ông đưa ra
luận điểm nổi tiếng: “Con người là thước đo của mọi vật”. Theo Prôtago, chuẩn
mực để đánh giá mọi vấn đề chính là ý kiến cá nhân của chủ thể.
Tư tưởng đề cao con người được Xôcrát phát triển tới đỉnh cao. Bắt đầu từ
Xôcrát, vấn đề con người trở thành trọng tâm nghiên cứu của triết học. Theo
thức sâu rộng” [29; 254]. Giờ đây mối quan hệ giữa con người và thế giới trở
thành trung tâm của các quan niệm triết học. Ph. Bêcơn đã coi nhiệm vụ của triết
học và khoa học là nền tảng lý luận cho con người trong công cuộc canh tân đất
nước nhằm xoá bỏ mọi bất công, xây dựng xã hội phồn vinh. Theo ông “mục
đích của xã hội chúng ta là nhận thức các nguyên nhân và mọi sức mạnh bí ẩn
của các sự vật và mở rộng sự thống trị của con người đối với giới tự nhiên trong
chừng mực con người có thể làm được” [dẫn theo 54; 265-266]. R. Đềcáctơ nêu
rõ nhiệm vụ của triết học là phải xây dựng một triết học thực tiễn nhằm giúp con
người trở thành những chủ nhân và chúa tể của giới tự nhiên.
Với tinh thần đề cao sức mạnh của con người và sự phát triển vượt bậc của
khoa học tự nhiên, châu Âu thời kỳ này đã đạt những tiến bộ khổng lồ trong
nhận thức và chinh phục tự nhiên. Bên cạnh đó, chủ nghĩa duy lý và phương
pháp tư duy siêu hình giữ vị trí thống trị trong nhận thức khiến người ta rơi vào
13
xu hướng tuyệt đối hoá, chỉ thấy mối quan hệ một chiều trong việc chinh phục tự
nhiên của con người.
Triết học Cổ điển Đức tiếp tục khuynh hướng đề cao con người thời kỳ
Phục hưng - Cận đại và đã đạt được bước tiến mới song nó chứa đầy mâu thuẫn,
đặc biệt là trong quan niệm về bản chất con người. Cantơ đã phân chia con người
thuộc về hai thế giới, thế giới hiện tượng luận và thế giới vật tự nó (thế giới bản
chất của sự vật hiện tượng). Ở thế giới hiện tượng luận, con người nhận thức dựa
trên giác tính và con người hoàn toàn bất lực trước giới tự nhiên như là thế giới
vật tự nó. Giữa con người và vật tự nó có một hố sâu ngăn cách không thể vượt
qua. Mặt khác trong hoạt động thực tiễn, hoạt động đạo đức, con người lại thuộc
về thế giới vật tự nó và con người hoàn toàn có thể tự do trước các quy luật của
tự nhiên nếu con người nghe theo sự chỉ dẫn của "mệnh lệnh tuyệt đối". Trong
hai mặt hoạt động của con người, Cantơ đặt hoạt động thực tiễn cao hơn hoạt
động lý luận. Chỉ có trong hoạt động thực tiễn, hoạt động xã hội, con người mới
đạt tới tự do, mới phát triển toàn diện con người, mới thực hiện được "mục đích
xuất đã gây ra khiến người ta phải nhìn nhận lại những quan điểm chinh phục tự
nhiên truyền thống.
Năm 1897, trên 100 nhà khoa học và các quan chức cao cấp dự hội thảo
"dự báo tương lai châu Âu" đã lên án chủ nghĩa duy lý đề cao sức mạnh tuyệt đối
của khoa học, của trí tuệ con người. Sau chiến tranh thế giới thứ hai xuất hiện
những phong trào trở về với tự nhiên như là một phản ứng chống lại nền văn
minh. Phong trào xanh ra đời và nhanh chóng lan rộng trở thành những phong
trào rầm rộ. Theo A.Toffler, đó là phản ứng của bản năng sinh tồn chống lại
nguy cơ đe dọa địa cầu. Năm 1968, Câu lạc bộ Rôma ra đời tập hợp nhiều nhà
15
khoa học danh tiếng trên thế giới. Họ đưa ra công bố "giới hạn của sự tăng
trưởng" trong đó phân tích những tổn hại về môi trường do quá trình tăng trưởng
kinh tế gây lên và cảnh báo rằng, nếu nhân loại cứ phát triển như hiện nay thì sau
100 năm nữa sẽ tới một "giới hạn cuối cùng".
Sinh thái học phương Tây hiện đại ra đời vào những năm 60 của thế kỉ XX
do Lêopolt, một nhà khoa học Mỹ là người đặt nền móng. Có thể xem đây là một
nỗ lực về mặt lý luận nhằm xây dựng những quy tắc chuẩn mực hướng dẫn con
người trong việc thiết lập một tương giao mới với giới tự nhiên trong đó không
cho phép con người khai thác tự nhiên chỉ vì lợi ích của con người. Sinh thái học
hiện đại phê phán ba quan niệm truyền thống điển hình của phương Tây về mối
quan hệ của con người với tự nhiên. Thứ nhất, đó là chủ nghĩa nhân bản Hy - La
cổ dại coi con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên, trung tâm của vũ trụ, có
quyền thống trị giới tự nhiên. Thứ hai, chủ nghĩa duy lý thế kỉ XVII - XVIII coi
con người là chủ nhân và chúa tể của giới tự nhiên. Thứ ba, quan điểm thiên
chúa giáo cho rằng chúa sáng tạo ra con người theo hình ảnh đồng dạng của
chúa, vì vậy cũng có quyền thống trị giới tự nhiên. Với những quan niệm truyền
thống này con người rơi vào chủ nghĩa duy nhân loại coi con người là sinh thể
trung tâm, thượng đẳng, đó là chủ nghĩa vị kỷ chủng loại và là nguyên nhân sâu
sa của vấn đề môi trường đang đè nặng lên nhân loại hôm nay.
vô cơ. Bản thân khuynh hướng này đặt ra mục tiêu tích cực song nó lại dễ bị lạm
dụng, người ta có thể nhân danh cộng đồng tiêu diệt cá thể và dẫn tới chủ nghĩa
phát xít môi sinh vì mục tiêu chính trị.
17
Sinh Thái Học Bề Sâu do Naess sáng lập với ý đồ đề xuất một khuynh
hướng mới khắc phục những khiếm khuyết của hai khuynh hướng trên. Naess
cho rằng để xác định vị trí của con người trong tự nhiên không thể dùng suy luận
lôgíc mà phải bằng trực giác. Trực giác cho phép người ta nhận biết bản thể của
các sinh vật trong vũ trụ. Về thực chất không có chủ thể, không có khách thể tồn
tại độc lập, không có sự tách biệt giữa người và vật mà mọi thực thể đều được
cấu tạo bằng quan hệ với nhau. Con người chỉ là một hữu thể mà bản chất được
xác định qua quan hệ với các hữu thể khác, là một mắt lưới trong mạng lưới các
hữu thể rộng lớn. Thế giới quan cũ đã sai lầm khi gán cho con người một ưu thế
tuyệt đối. Sinh thái học bề sâu chủ trương một chủ nghĩa bình đẳng môi sinh và
cho rằng nếu con người không biết đến sự tùy thuộc lẫn nhau giữa vạn vật mà cố
xác lập một quan hệ chủ tớ với thiên nhiên thì sẽ tự tách biệt đối với chính mình.
Theo Naess, sinh thái học bề sâu gặp gỡ tư tưởng truyền thống phương Đông cổ
đại ở chỗ : sự tự thực hiện bản ngã hay là thanh hóa bản ngã, đó là sự đồng hóa
của tiểu ngã với đại ngã, giữa cá thể với vũ trụ làm cho bản ngã của mình lan
rộng, hòa nhập với đại ngã của toàn vũ trụ. Trong quá trình thanh hóa bản ngã
con người sẽ hòa nhập với môi trường, sẽ trở nên yêu mến, tôn trọng thiên nhiên
như chính mình, đó là nghệ thuật sống của nhà hiền triết.
Nhìn chung những nhà sinh thái học đều phê phán chủ nghĩa duy lý truyền
thống phát triển phình to về mặt trí tuệ, khoa học, kĩ thuật dẫn tới sự thiếu hụt
đời sống tâm hồn, tình cảm, đạo đức. Theo họ điều này cần phải được bù đắp và
có thể tìm thấy sự quân bình trong một số học thuyết phương Đông cổ đại. Có
thể thấy sinh thái học hiện đại là một tiếng nói cảnh tỉnh loài người trước nguy
cơ có thật về sự khủng hoảng môi trường. Họ có những luận điểm hợp lý (như
luận điểm về sự liên kết chặt chẽ giữa các thành phần trong hệ môi sinh ) phù
19
với tự nhiên, hai mặt của cùng một bản chất quy định lên bản chất con người. Sự
kết hợp những yếu tố hợp lý của hai hệ thống quan niệm này cho phép bổ sung
những thiếu sót căn bản của chúng, trên cơ sở đó phát triển một hệ thống quan
điểm toàn diện và khoa học hơn. Triết học Mác ra đời không nằm ngoài hệ thống
thế giới quan phương Tây, không nằm ngoài truyền thống chinh phục tự nhiên
của phương Tây, nó đã vượt bỏ những quan niệm truyền thống để mang trong
mình tinh hoa của tư tưởng nhân loại. Triết học Mác không trực tiếp kế thừa giá
trị quan phương Đông, song giữa hai hệ thống tư tưởng lớn này lại có sự gặp gỡ
giao thoa khi triết học Mác xem xét toàn diện mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên trên cả hai mặt thống nhất và mâu thuẫn giữa chúng. Trên cơ sở kế thừa
những hạt nhân hợp lý trong quan niệm truyền thống phù hợp với sự phân tích
thực tiễn phát triển của đời sống, của nền sản xuất xã hội trong lịch sử loài
người, triết học Mác đã xây dựng một cơ sở lý luận khoa học về mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên.
Triết học Mác đưa con người trở về thống nhất hài hòa với tự nhiên,
nhưng không phải trở về với tự nhiên "mông muội tối tăm" nguyên thủy như Lão
Tử hay một số xu hướng tư tưởng phương Tây hiện đại muốn làm. Triết học
Mác đưa con người trở về với thiên nhiên trên một trình độ mới, đó là một thiên
nhiên đã được cải tạo, đã được làm giàu, một thiên nhiên mang tính người. Thiên
nhiên thứ hai đó đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của con người và không
đối lập với thiên nhiên hoang dã, nó chỉ có thể có được bằng sự tác động và cải
tạo hợp quy luật của con người. Triết học Mác không những không phủ nhận vai
trò chinh phục, cải tạo tự nhiên của con người mà còn chỉ ra một con đường
thích hợp để chinh phục, cải tạo tự nhiên mà luận văn sẽ đề cập ở phần sau.
Ngày nay chúng ta tiếp thu những tinh hoa tư tưởng truyền thống phương
Đông và phương Tây trên cơ sở lý luận biện chứng mácxít không phải là phục
20
cổ, không phải là đưa con người trở về quá khứ. Phải nâng giá trị quan truyền
trong đó những cân bằng liên tục bị phá vỡ và cân bằng mới được thiết lập nhờ
khả năng tự tổ chức, tự điều chỉnh, tự phục hồi của nó. Song khả năng này có
những giới hạn nhất định và có thể mất đi nếu con người tác động tùy tiện trái
với quy luật của tự nhiên, vượt quá giới hạn tự phục hồi của giới tự nhiên. Quan
hệ biện chứng giữa con người và giới tự nhiên không phải do một lực lượng tinh
thần siêu nhiên quy định, nó dựa trên tính thống nhất vật chất của thế giới. Theo
Ph. Ăngghen: “Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, và
tính vật chất này được chứng minh không phải bằng vài lời lẽ khéo léo của kẻ
làm trò ảo thuật mà bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và
khoa học tự nhiên” [29; 67]. Lịch sử phát triển lâu dài và khó khăn của khoa học
tự nhiên đã cho ra đời những phát minh vĩ đại vào thế kỷ XIX (định luật bảo toàn
và chuyển hoá năng lượng; học thuyết tế bào; thuyết tiến hoá ) chứng minh cho
tính thống nhất vật chất của thế giới. Ngày nay, các khoa học hiện đại về vũ trụ
đã chứng minh tính thống nhất vật chất của thế giới ở bề rộng, ở tầm vĩ mô của
nó. Bên cạnh đó, các thành tựu của vật lý học, hóa học… lại chứng minh tính
thống nhất của thế giới ở bề sâu, ở mức độ vi mô. Đặc biệt đóng góp của các
ngành sinh học phân tử, di truyền học đã cho thấy sự thống nhất về thành phần
cấu trúc, tổ chức của các cơ thể sống và các trình độ phát triển khác nhau của
chúng. Không còn nghi ngờ gì, chính sự phát triển của khoa học tự nhiên đã
khám phá ra bản chất của sự sống và sự thống nhất vật chất của nó với giới tự
nhiên. Giờ đây, để xem xét thế giới “hệt như nó tồn tại” thì phải loại trừ sự đối
lập một cách tuyệt đối giữa con người và giới tự nhiên, phải thấy rằng “con
người với tự nhiên là một”. Nguyên lý tính thống nhất vật chất của thế giới phải
22
là nền tảng trong việc xem xét mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Nó bác
bỏ hoàn toàn những quan điểm phi lý và trái tự nhiên của đạo Thiên chúa về bản
chất thần thánh của con người, về sự đối lập giữa con người và giới tự nhiên
[xem 29; 655].
Sự xuất hiện con người là kết quả sự tiến hoá của giới tự nhiên trong nhiều