Tư tưởng hồ chí minh về văn hóa và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở xã nam dương, huyện lục ngạn trong giai đoạn hiện nay - Pdf 38

Trng chớnh tr tnh Bc Giang
Lời nói đầu
A- Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài:
A. PHN M U
I. Lý do chn ti.
A. PHN M U
I. Lý do chn ti
Vn húa xut hin t lõu trong lch s, ó tn ti v phỏt trin cựng vi s
tn ti v phỏt trin cựng vi s tn ti v phỏt trin ca lch s loi ngi. iu
ú chng minh rng hot ng vn húa l hot ng cú tớnh bn cht ca con
ngi gn bú vi lch s ca con ngi. Trong nhng nm gn õy, vic nhn
thc li v vn húa v v v trớ, vai trũ ca vn húa i vi s phỏt trin kinh t xó hi l mt trong nhng thnh tu i mi v t duy nhõn loi, thnh tu ú
cng c phn ỏnh trong s nghip i mi ca ng ta.
Dõn tc Vit Nam vn l dõn tc cú truyn thng vn húa lõu i, tri qua
hng nghỡn nm u tranh dng nc v gi nc cho thy nn vn húa nc ta
luụn tri qua nhng ng v th thỏch nghiờm trng, vn mnh ca vn húa
luụn gn lin vi vn mnh ca t nc, ca dõn tc. Bờn cnh ú, vn húa
Vit Nam cng c hỡnh thnh t s giao thoa, tip thu nhng tinh hoa vn húa
ca nhiu quc gia trờn th gii; gi vng bn sc dõn tc v khụng ngng hon
thin mỡnh t i ny qua i khỏc; vn húa Vit Nam ó hun ỳc nờn tõm hn,
khớ phỏch v bn lnh Vit Nam, gúp phn lm rng r lch s v vang ca dõn
tc.
K tha v phỏt huy nhng thnh qu hng nghỡn nm lao ng v sỏng to,
u tranh kiờn cng dng nc v gi nc ca cng ng cỏc dõn tc Vit
Nam, ng cng sn Vit Nam t ngy thnh lp n nay ó vn dng sỏng to
hc thuyt Mỏc Lờnin, t tng H Chớ Minh vo thc tin cỏch mng v
ra nhng ng li, ch trng, chớnh sỏch v mc tiờu phỏt trin vn húa cho
tng thi k, tng giai on cỏch mng m ni dung c bn l vic t chc xõy
dng i sng vn húa c s. Trong giai on cỏch mng hin nay, t nc ta
ang tin hnh s nghip Cụng nghip húa Hin i húa tin lờn ch ngha xó

đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn ”.
Là một cán bộ, đảng viên công tác tại cơ sở xuất phát từ thực tế tình hình
công tác tại địa phương cho thấy việc đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hóa ở cơ
sở là việc làm cần thiết. Chính vì vậy tôi chọn đề tài “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về
văn hóa và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở xã Nam Dương, huyện
Tiểu luận tốt nghiệp

2


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
Lục Ngạn trong giai đoạn hiện nay” làm tiểu luận tốt nghiệp cuối khóa của
mình.

II. Mục tiêu, đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu đề tài:
1 Mục tiêu của đề tài:
- Nêu được thực trạng về công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở xã
Nam Dương.
- Đưa ra được những phương hướng, giải pháp và kiến nghị về xây dựng
đời sống văn hóa ơ cơ sở trong thời gian tới.
2. Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng đời sống văn hóa ở xã Nam
Dương – Lục Ngạn.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp
so sánh, tổng hợp để làm rõ nội dung của đề tài.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

trình độ phát triển của chính bản thân con người. Văn hóa giúp cho con người tự
hoàn thiện, khắc họa bản sắc, tính cách riêng của một cộng đồng, có tầm quan
trọng to lớn và ý nghĩa cách mạng sâu xa đối với vận mệnh con người.
2. Quan điểm Hồ Chí Minh về Văn hóa.
Tháng 8- 1943, Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm của mình về ý nghĩa của văn
hóa: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn
học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt cho hàng ngày về ăn, mặc, ở và các
phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn”.

Tiểu luận tốt nghiệp

4


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
Tinh thần và bản chất trong quan niệm văn hóa của Hồ Chí Minh có tính kế
thừa và phát triển các quan niệm văn hóa trước, nhưng lại hoàn toàn phù hợp và
thống nhất với quan niệm văn hóa của UNESCO.
Đời sống văn hóa là tất cả nội dung và cách thức, hình thức hoạt động văn
hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người trong điều
kiện kinh tế - xã hội nhất định. Đó cũng là quá trình hưởng thụ và sáng tạo các
giá trị văn hóa vì sự phát triển của con người và cộng đồng. Đời sống văn hóa ở
ngay trong cuộc sống hằng ngày, trong mỗi con người, mỗi gia đình và cộng
đồng nhất định. Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa
ở cơ sở giúp cho chúng ta hiểu một cách sâu sắc nội dung vấn đề quan trọng đó.
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là tổng hợp những hoạt động của các cơ

Trước hết, theo quan niệm của Hồ Chí Minh, nhằm thích ứng những nhu
cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn, loài người sáng tạo ra văn hóa. Mặt
khác, trong công cuộc kiến thiết nước nhà, thì văn hóa ngang hàng các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, xã hội và tác động tích cực trở lại các lĩnh vực đó. Như vậy,
cùng với đời sống vật chất lấy kinh tế làm nền tảng, thì con người cần đời sống
tinh thần, lấy văn hóa làm nền tảng.
Động lực của văn hóa thể hiện ở chức năng của văn hóa.
Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp. Tư tưởng và tình
cảm là vấn đề chủ yếu nhất của đời sống tinh thần. Nó có thể đúng đắn, cao đẹp
hoặc ngược lại. Bồi dưỡng phải được tiến hành thường xuyên và chú ý đến
những tư tưởng và tình cảm lớn, chi phối đời sống tinh thần của con người và
dân tộc. Lý tưởng là điểm hội tụ của những tư tưởng lớn. Đó là lý tưởng vì nước
quên mình; vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng; độc lập, tự cường, tự chủ;
không có gì quý hơn độc lập tự do; độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tình
cảm lớn là yêu nước thương dân, yêu Chân – Thiện – Mỹ; yêu tính trung thực,
chân thành, ghét giả dối, lừa lọc. Tư tưởng đúng và tình cảm đẹp có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau: con đường đi tới tư tưởng đúng vừa bằng lý trí vừa bằng tình
cảm. Những lý tưởng và tình cảm cách mạng khi đã đi sâu vào tâm lý quốc dân
sẽ biến thành một sức mạnh vật chất, tạo động lực cho cách mạng.
Hai là, nâng cao dân trí. Dân trí là sự hiểu biết của người dân về các mặt;
chính trị, kinh tế, văn hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật, thực tiễn ... Mục
đích cuối cùng là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. muốn đạt tới những
nhận thức đó phải thông qua con đường văn hóa, trước hết là văn hóa giáo dục.
Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất và phong cách tốt đẹp, lành mạnh để
không ngừng hoàn thiện bản thân. Văn hóa sẽ góp phần bồi dưỡng phẩm chất
đạo đức để sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, chống “giặc nội
Tiểu luận tốt nghiệp

7


quyền làm chủ của nhân dân; đảm bảo môi trường sống, xây dựng nền đạo đức
Tiểu luận tốt nghiệp

8


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
mới của xã hội và giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc; xóa bỏ tình trạng nghèo
cùng cực; đạt phổ cập giáo dục tiểu học và nâng cao dân trí; tăng cường bình
đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ; giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em; tăng
cường sức khỏe bà mẹ, phòng chống dịch bệnh; bảo đảm bền vững về môi
trường; thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển. Đó thực chất là định
hướng phát triển bền vững ở Việt Nam theo quan điểm Hồ Chí Minh.
Nhân tố con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh tập trung nhất vai
trò động lực, mục tiêu của văn hóa. Bởi vì, như chính người Mỹ cũng đã phải
thừa nhận “ Ai cũng biết rằng trong thế kỷ XX, chính vật chất là sức mạnh của
thời đại chúng ta, thời đại có nhiều tên gọi: thời đại năng lượng nguyên tử, thời
đại phản lực, thời đại điều khiển học, thời đại chinh phục vũ trụ, thời đại tin
học... Dù là kể đến thiết bị nào thì Mỹ cũng đều có và người Việt Nam đều
không có. Sức mạnh duy nhất của họ là sức mạnh con người”.
b.Giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc.
Cốt cách là bản chất, tính chất đặc biệt vốn có. Cốt cách văn hóa dân tộc là
bản sắc của dân tộc, bao gồm những giá trị văn hóa bền vững của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam, được vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử. Hệ giá trị của cốt
cách văn hóa Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn; ý chí tự cường, tự tôn dân
tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn bó cá nhân – gia đình – làng xã –
tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý cần cù, sáng tạo
trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử; giản dị trong lối sống. bản sắc văn hóa
còn được nhìn nhận qua hình thức biểu hiện đậm tính dân tộc như tiếng nói, tâm

của mình về văn hóa thế giới.
Nội dung tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là hết sức toàn diện. Trước hết
là tiếp thu cả Đông, Tây, kim, cổ, tìm mẫu số chung của các nền văn hóa trên thế
giới. Tính toàn diện còn thể hiện ở chỗ tiếp thu nhiều mặt: học thuật tư tưởng
như Khổng giáo, phật giáo, Thiên chúa giáo, tư tưởng triết học thời Phục Hưng,
Thế kỷ ánh sáng, tư tưởng Găngđi, Tôn Trung Sơn... đặc biệt nhất là tư tưởng
Mác- Lênin. Ngoài ra còn tiếp thu khoa học, văn học nghệ thuật, kiến trúc, hội
họa, danh nhân văn hóa.
Mục đích tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là trau dồi cho văn hóa Việt
Nam giàu đẹp, hợp với tinh thần dân chủ.

Tiểu luận tốt nghiệp

10


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
Tiêu chí tiếp thu là tiếp thu cái hay, cái tốt. Giữa văn hóa dân tộc và văn
hóa nhân loại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Cả hai đều chứa đựng những
giá trị văn hóa trường tồn, nhưng luôn phải lấy văn hóa dân tộc làm gốc. Chỉ
trên cơ sở biết trân trọng, giữ gìn, phát huy, phát triển văn hóa dân tộc thì mới có
thể “đi tới được cái nhân loại”.
c. Về mặt trận Văn hóa và chiến sĩ văn hóa.
Mặt trận Văn hóa:
Trong lịch sử dân tộc, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu đến các nhà
cách mạng hiện đại đã biết dùng văn hóa đánh giặc. Ra đi tìm đường cứu nước,
đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh tiếp tục khai thác, phát triển nét
đẹp truyền thống đó của dân tộc. Từ những năm hai mươi, Người dùng ngòi bút
để tố cáo tội ác thực dân, thức tỉnh, định hướng nhân dân đi theo con đường
cách mạng vô sản. Từ những năm ba mươi trở đi, Người đã dùng sức mạnh văn

một vũ khí không gì có thể so sánh nổi.
Ngòi bút của các chiến sĩ văn hóa là một vũ khí sắc bén trong sự nghiệp “
phò chính trừ tà”. Họ có nhiệm vụ “ phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc,
phụng sự nhân dân”. Muốn làm điều đó, chiến sĩ văn hóa phải gắn bó với đời
sống, với thực tiễn, với nhân dân; phải “ từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần
chúng”. Cuộc sống thực tiễn sẽ tạo điều kiện cho họ có những tác phẩm xứng
đáng với dân tộc anh hùng, thời đại vẻ vang.
Chiến sĩ văn hóa phải có trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức cách mạng, chuyên môn
nghiệp vụ sâu để tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh cách mạng, chống mọi
kẻ thù là bọn thực dân đế quốc, phong kiến tay sai. Khi xây dựng xã hội mới thì
phải tập trung vào kẻ thù tư tưởng, thói quen truyền thống lạc hậu, “giặc nội
xâm” theo tinh thần “mỗi vần thơ là bom đạn chống tham nhũng, lãng phí, quan
liêu”. Đã là chiến sĩ thì phải đối mặt với mọi kẻ thù, đứng về phía nhân dân,
bênh vực, ca ngợi Chân – Thiện – Mỹ; phanh phui, loại bỏ cái sai, cái ác, cái
xấu, cái giả dối, lừa lọc.
Người chiến sĩ văn hóa phải biết quý trọng, giữ gìn, khai thác, phát triển
những truyền thống tốt đẹp của cha ông, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại;
tham gia vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân tiến bộ trên thế giới chống các
thế lực thù địch và trở lực trên con đường tiến lên thế giới văn minh, vì mục tiêu
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.

Tiểu luận tốt nghiệp

12


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
d. Văn hóa do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh vì con người, vì nhân dân. Người khẳng định lấy
hạnh phúc của dân tộc làm cơ sở; lấy hạnh phúc của nhân dân làm khuôn phép.

Tiểu luận tốt nghiệp

13


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
Văn hóa phục vụ quần chúng thể hiện ở tính hướng đích của văn hóa. Một
mặt, văn nghệ phải thể hiện được tính hiện thực, chân thật; mặt khác phải hướng
quần chúng nhân loại bỏ cái giả, cái ác, cái sai, cái xấu để vươn tới cái lý tưởng
không chỉ cho hôm nay, mà còn để giáo dục con cháu mai sau. Mục tiêu, lý
tưởng cao đẹp nhất là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hạnh phúc của con
người.
Ngoài ra, văn hóa phục vụ quần chúng nhân dân còn thể hiện ở sự phong
phú, đa dạng của các hoạt động văn hóa. Nhiều thể loại, nhiều tác phẩm, nhiều
món ăn bổ ích khác nhau trên một cái nền sáng tạo của văn nghệ sĩ.
Muốn giải quyết tốt những vấn đề nêu trên thì Đảng phải lãnh đạo mọi hoạt
động văn hóa và xây dựng văn hóa trong Đảng, để Đảng “là đạo đức, là văn
minh”, tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc.
đ. Xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam.
Nhìn một cách tổng quát, nền văn hóa mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh là
nền văn hóa dân chủ mới, kháng chiến và xã hội chủ nghĩa. Đó phải là nền văn
hóa “hợp với khoa học và nguyện vọng của dân”.
Trước cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền văn
hóa dân tộc với năm điểm lớn:
+ Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.
+ Xây dựng luân lý:biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.
+ Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân
trong xã hội.
+ Xây dựng chính trị dân quyền.
+ Xây dựng kinh tế.

8.976 nhân khẩu, sinh sống trên địa bàn 9 thôn, có 6 dân tộc anh em chung sống,
chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 60%, dân tộc Sán Dìu chiếm 35%, còn lại là dân
tộc Tày, Nùng, Hoa, Cao Lan, chiếm 5%.
Là một xã giáp với trung tâm huyện Lục Ngạn, có những yếu tố thuận lợi
trong giao lưu, phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội. Nhân dân các dân tộc trong
xã có truyền thống đoàn kết, yêu nước, dũng cảm trong chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất và xây dựng; những thành tích
trong đấu tranh chống thực dân Pháp đã được Đảng và nhà nước ghi nhận và
phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống
Pháp”. Nhân dân Nam Dương đã góp phần cùng nhân dân cả nước chiến đấu và
chiến thắng thiên tai, địch họa, giữ gìn những tinh hoa văn hóa của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam nói chung.
b. Tình hình kinh tế - chính trị – xã hội
Do đặc thù là một xã miền núi của huyện miền núi, sản xuất nông nghiệp là
chủ yếu, chiếm trên 80 % dân số toàn xã. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
kém phát triển, có 01 thôn làm nghề mỳ gạo truyền thống. Đời sống nhân dân
còn gặp nhiều khó khăn.
Hệ thống chính trị ở địa phương luôn được củng cố, kiện toàn và hoạt động
có hiệu quả. Trong những năm qua được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc trong xã không ngừng được
Tiểu luận tốt nghiệp

15


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
nâng cao. Cấp ủy chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân đã quan tâm
lãnh chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh
chính trị trật tự an toàn xã hội. Đồng thời thường xuyên quan tâm chỉ đạo việc
giáo dục chính trị tư tưởng, chăm lo xây dựng đời sống văn hóa góp phần nâng

16


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
cụ thể cho từng thành viên Ban chỉ đạo nhằm tập trung chỉ đạo, nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động của phong trào. Sau 5 năm thực hiện phong trào, đến
năm 2010, Ban chỉ đạo đã tiến hành sơ kết đánh giá và tiếp tục triển khai thực
hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Tiếp tục triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số: 01/2006/TTLT ngày
23/6/2006 của Ban thường vụ UBMTTQ Việt Nam và Bộ Văn hóa Thông tin về
việc ban hành quy chế công nhận các danh hiệu Gia đình văn hóa, Làng văn hóa,
tổ dân phố văn hóa; Quyết định số: 62/QĐ-BVHTT ngày 23/6/2006 của Bộ Văn
hóa thông tin về việc Ban hành quy chế công nhận các gia đình văn hóa, làng
văn hóa, tổ dân phố văn hóa và các văn bản hướng dẫn về công tác xây dựng đời
sống văn hóa. Hàng năm, BCĐ ban hành các văn bản hướng dẫn và đôn đốc chỉ
đạo việc thực hiện bình xét công nhận gia đình văn hóa, làng văn hóa, cơ quan
văn hóa.
Nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở,
trong những năm qua Đảng bộ - chính quyền xã Nam Dương chú trọng và quan
tâm chỉ đạo thực hiện tốt các chương trình kinh tế - xã hội trọng tâm thực hiện
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVI về “Chương trình xây
dựng và phát triển văn hóa – thông tin giai đoạn 2006 – 2010” góp phần định
hướng và chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
trên địa bàn xã trong những năm qua đạt được nhiều kết quả to lớn.
2.2.2. Những kết quả đạt được và thực trạng việc vận dụng Tư tưởng
Hồ Chí Minh trong xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và
nhân dân ta. Do đó việc học tập theo tư tưởng của Người được Đảng bộ - Chính
quyền địa phương hết sức quan tâm, chiếm vị trị then chốt trong các hoạt động
văn hóa tinh thần của nhân dân trong xã, trong đó việc vận dụng tư tưởng của

lập được Chi hội khuyến học, 5 ban khuyến học dòng họ, 3 chi hội khuyến học
cơ quan, trường học; duy trì hoạt động thường xuyên, có hiệu quả.
2.Xây dựng làng, thôn văn hóa:
-Trong 10 năm qua, được sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền, các
ban ngành, đoàn thể từ huyện đến cơ sở, phong trào xây dựng làng văn hóa phát
triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành phong trào sôi nổi và rộng khắp.
Việc bình xét danh hiệu “Làng văn hóa” được tiến hành theo đúng quy trình, thủ
tục dựa trên các tiêu chuẩn của Hướng dẫn số 989/ HD-BCĐ của BCĐ phong
Tiểu luận tốt nghiệp

18


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tỉnh Bắc Giang về việc bình
chọn và công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Làng, thôn, bản, tổ dân phố
văn hóa”, “Cơ quan, đơn vị văn hóa” và Hướng dẫn của Ban chỉ đạo phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” huyện Lục Ngạn.
Hàng năm, Ban chỉ đạo phong trào xã đã tổ chức kiểm tra, bình xét đề
nghị công nhận làng văn hóa.
Đến nay, tất cả 9/9 thôn đã đăng ký xây dựng làng văn hóa, đã có 6/9 thôn
đã được công nhận đạt chuẩn văn hóa, đạt 66,66%;
Phong trào xây dựng làng văn hóa đã góp phần củng cố khối đoàn kết
toàn dân, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, phát
triển kinh tế, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đẩy lùi và
xóa bỏ các tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh nông thôn, duy trì trật tự an toàn xã
hội. Có thể nói, phong trào xây dựng làng văn hóa đã góp phần quan trọng thúc
đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn xã.
3.Xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa:

củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Ngoài ra, phong trào thi đua còn khơi dậy ý thức, trách nhiệm, nhiệt tình cách
mạng và những sáng kiến, sáng tạo, vượt qua khó khăn để thực hiện mục tiêu
phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Nhiều phong trào thi đua được phát động ở các cấp, các ngành trong toàn
huyện như: cuộc vận động “Dân chủ, kỷ cương, tình thương và trách nhiệm”,
phong trào “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”, phong
trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của ngành Giáo dục và
Đào tạo; phong trào “Thi đua quyết thắng” trong lực lượng vũ trang nhân dân;
phong trào “Nông dân sản xuất giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo”;
phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh
phúc”; cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”...đã thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân trong toàn xã tích
cực hưởng ứng tham gia thực hiện.
Qua các phong trào, đã xuất hiện nhiều cá nhân và tập thể điển hình tiên
tiến trên các lĩnh vực sản xuất kinh tế, công tác, hoạt động xã hội...nhiều gương
người tốt việc tốt, nhiều cán bộ, chiến sỹ và nhiều cơ quan, ban ngành trong toàn
huyện có nhiều thành tích trong công tác, lao động sáng tạo...đã được tuyên
Tiểu luận tốt nghiệp

20


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
dương khen thưởng tại nhiều hội nghị cấp tỉnh, huyện, ngành...đã kịp thời động
viên các cá nhân, tập thể điển hình tiêu biểu và nhân rộng các điển hình tiên tiến
trong toàn xã. Tạo nên phong trào thi đua sôi nổi, góp phần nâng cao chất lượng
của phong trào.
Từ năm 2006 đến nay, toàn xã có 01 tập thể được Thủ tướng Chính phủ
tặng bằng khen và 04 cá nhân được UBND tỉnh tặng bằng khen; 9 cá nhân đạt

-Đoàn kết xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh.
6.Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ
đại”:
Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” được
phát động rộng rãi. Ngoài các hoạt động thể thao lớn như Đại hội Thể dục thể
thao cấp cơ sở, các hội thi, hội thao…Thông qua các ngày lễ, ngày hội của quê
hương đất nước, địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động thể thao mang tính
truyền thống như: nhảy bao bố, bóng đá, bóng chuyền thanh niên nông
thôn...được mọi người hưởng ứng tích cực. Ngoài ra, nhiều Câu lạc bộ như: câu
lạc bộ bóng chuyền, câu lạc bộ bóng bàn, cầu lông… hoạt động thường xuyên
đã thu hút đông đảo cán bộ, nhân dân, thanh thiếu niên tham gia, góp phần đưa
phong trào “Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” ngày càng phát triển.
Đến nay, đã có 15,3% số người dân thường xuyên luyện tập thân thể; 9%
hộ gia đình đạt tiêu chuẩn “Gia đình thể thao”. Tiêu biểu về phong trào thể dục
thể thao phải kể đến một số địa phương đơn vị như: Thôn Thủ Dương, Thôn
Nam Điện, cơ quan xã, Trường Trung học, Trường Tiểu học....Công tác xã hội
hóa hoạt động thể dục thể thao cũng được đẩy mạnh, bên cạnh việc vận động
nhân dân tham gia luyện tập thể dục thể thao, các hoạt động kêu gọi tài trợ, đóng
góp để xây dựng các thiết chế văn hóa, cơ sở vật chất phục vụ cho nhu cầu học
tập, rèn luyện thân thể được nhân dân đồng tình hưởng ứng.
7.Phong trào học tập, lao động, sáng tạo:
Phong trào “Học tập, lao động sáng tạo” được phát huy, nhất là trong đội
ngũ cán bộ, giáo viên, nhân dân lao động cũng như mọi tầng lớp nhân dân, góp
phần nâng cao trình độ nghề nghiệp trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội. Hàng
năm, các cơ quan, đơn vị đều phát động phong trào thi đua sôi nổi trong cán bộ,
công nhân viên chức lao động, huy động nguồn lực trí tuệ phục vụ cho lao động,
sản xuất của cơ quan, đơn vị, xí nghiệp, vì mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Việc ứng dụng công nghệ thông tin được các cơ quan, trường học
chú trọng, đã góp phần nâng cao hiệu quả công việc; công tác tuyên truyền, phổ
Tiểu luận tốt nghiệp

-Những chuyển biến trên đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển toàn diện
kinh tế-xã hội của địa phương, động viên ý chí phấn đấu vươn lên trong cuộc
sống của mọi người dân, từng bước xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu
chính đáng, các gia đình chính sách, trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó

Tiểu luận tốt nghiệp

23


Trường chính trị tỉnh Bắc Giang
khăn được quan tâm giúp đỡ. Hàng năm, vào các dịp lễ, tết, các cấp các ngành
và địa phương đã thường xuyên quan tâm thăm hỏi, tặng quà cho các gia đình
chính sách.
Trong 10 năm qua, Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo xã đã cùng phối hợp
với Ngân hàng chính sách xã hội huyện giải ngân 12 tỷ đồng hỗ trợ giải quyết
việc làm, tăng thu nhập cho hộ nghèo, cải thiện đời sống nhân dân. Tỷ lệ hộ khá
tăng từ 24% năm 2005 lên trên 40%; hộ giàu tăng từ 17,2% lên 28,5%. Hiện
nay, tỷ lệ hộ nghèo trên toàn xã còn 16,25%, trung bình mỗi năm, tỷ lệ hộ nghèo
giảm bình quân từ 2,5% đến 3%. Bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi, đời sống
của người dân được nâng lên rõ rệt cả về vật chất lẫn tinh thần.
9.Thực hiện nếp sống văn hóa, kỷ cương pháp luật:
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng xây dựng đời sống cho nhân dân phải
được tiến hành xây dựng nếp sống văn hóa. Ngay từ những năm 1946, trong
công cuộc kháng chiến kiến quốc, Người đã viết tác phẩm "Đời sống mới" rất
sinh động, sâu sắc, nhằm động viên, kêu gọi các tầng lớp nhân dân thực hành
đời sống mới với tinh thần rất rõ là: "Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật
chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích đời sống
mới''. "Đời sống mới không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì mới cũng
làm. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Thí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status