1.1. Cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử
1.1.1. Khổng Tử cuộc đời và sự nghiệp
1.1.2. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội thời kỳ Xuân Thu
1.2. Khổng Tử bàn về Lễ
1.2.1. Phạm trù Lễ
1.2.2. Các phạm trù trong mối tương quan với phạm trù Lễ
1.3. Một số nội dung cơ bản của Lễ
1.3.1. Lễ là những quy định về nghi thức tế lễ
1.3.2. Lễ là đường lối trị nước và luật lệ quốc gia
1.3.3. Lễ là chuẩn mực đạo đức của con người trong xã hội
1.3.4. Lễ là công cụ tiết chế hành vi của con người
!"#$%#&'#(#)
*$+
2.1. Khái quát quá trình du nhập Lễ của Khổng giáo ở Việt Nam
2.2. Thực trạng đạo đức học sinh hiện nay
2.3. Một số giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay
2.3.1. Phạm trù Lễ trong triết học Khổng Tử với việc giáo dục đạo đức học sinh Việt
Nam hiện nay…………………………………
2.3.2. Một số kiến nghị cho sự nghiệp giáo dục đạo đức học sinh Việt Nam hiện nay
,-
&./#
012345641789:4;5
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, tư tưởng của Khổng Tử có một vị trí
rất đặc biệt. Sự đặc biệt ấy không chỉ bởi những giá trị đặc sắc trong nội dung
tư tưởng và tầm ảnh hưởng của nó đối với thời đại nó ra đời mà còn bởi tư
tưởng Khổng Tử đã sống một cuộc sống lâu bền và rất riêng, vượt qua khuôn
mình quan trọng và đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên cùng với
quá trình ấy cũng đã đưa đến một số thay đổi tiêu cực trong các quan hệ xã
hội. Một bộ phận học sinh có hành vi và suy nghĩ lệch lạc gây ảnh hưởng xấu
đến môi trường giáo dục và báo hiệu một sự suy thoái về đạo đức và lối sống.
Ở một nền văn hóa tương đối đậm chất nho học như Việt Nam thì điều đó
càng khó chấp nhận vì nó đi ngược lại với truyền thống “Tôn sư trọng đạo”,
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, Kính trên nhường dưới. Để phát triển một thế hệ
mới trong tương lai làm chủ đất nước và thực hiện thành công sự nghiệp phát
triển đất nước bên cạnh việc giáo dục tri thức khoa học thì giáo dục đạo đức
có một ý nghĩa hết sức quan trọng.
Tư tưởng của Khổng Tử nói chung và quan điểm về Lễ nói riêng có ý
nghĩa rất lớn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay.
Với những giá trị đã được thẩm định, phát triển qua thực tiễn nhiều thế
kỷ cùng với sự tiếp biến linh hoạt và cho vào Lễ một hơi thở của thời đại thì
nó hoàn toàn có thể giúp khôi phục và định hình một nhân cách chuẩn đối với
học sinh, đặc biệt là với một bộ phận học sinh lệch chuẩn hiện nay ở nước ta.
Với những suy nghĩ đó, tôi đã làm luận văn cao học với đề tài: “Phạm
trù Lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho
học sinh Việt Nam hiện nay”.
2
<<5=1>?
Nho giáo nói chung và phạm trù Lễ trong triết học của Khổng Tử nói
riêng là đối tượng nghiên cứu đang thu hút nhiều ngành khoa học nghiên cứu
trong nhiều thế kỷ qua cho tới hiện nay, như: triết học, văn hóa học, sử học,
tôn giáo học, giáo dục học, đạo đức học… Có thể khái quát kết quả nghiên
cứu đó theo ba hướng sau:
Hướng thứ nhất, các công trình nghiên cứu về Khổng Tử trong tổng thể
nền văn hóa Trung Quốc. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến
các tác phẩm như: “Sử ký” của Tư Mã Thiên, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản
năm 1988; “Lịch sử văn minh và các triều đại Trung Quốc”, được biên soạn
dung các học thuyết trong triết học của Khổng Tử; lịch sử hình thành, phát
triển và sự biến đổi của phạm trù Lễ trong tiến trình lịch sử, nguyên nhân sự
ra đời của Lễ cũng như ý nghĩa, công dụng Lễ Tuy nhiên, do đặc trưng của
thể loại Từ điển và do khối lượng kiến thức đồ sộ mà tác phẩm đề cập đến,
nên tác giả đành hạn chế phần phân tích nội dung của Lễ.
Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết của các
tác giả chuyên nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu riêng về Lễ trong triết học
Khổng Tử, như: “Lễ Ký - kinh điển về việc lễ” của tác giả Nhữ Nguyên, Nxb
Đồng Nai, Biên Hòa, 1996; “Kinh lễ”, do Nguyễn Tôn Nhan biên dịch và giới
thiệu, Nxb Văn học, năm 1996; “Tứ Thư”, Dịch giả Đoàn Trung Còn, Nxb
Thuận Hóa, Huế, 2006;… Những công trình nghiên cứu này biên dịch phần
nguyên bản chữ Hán, đồng thời các nhà nghiên cứu, dịch thuật cũng cố gắng
bằng kiến thức uyên thâm của mình phân tích, thuyết minh một số nội dung
nhằm giúp độc giả hiểu được phần lớn tinh thần của tác phẩm.
Nhìn chung, mỗi công trình nghiên cứu tiếp cận theo một hướng khác
nhau, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào được coi là có cái nhìn toàn
diện về phạm trù Lễ trong triết học của Khổng Tử, chưa có công trình nào
4
nghiên cứu riêng biệt hoặc trình bày một cách có hệ thống nội dung của Lễ,
chưa có công trình nào đánh giá hết những giá trị, hạn chế của tư tưởng về Lễ
của Khổng Tử, cũng như đề ra phương pháp vận dụng những bài học lịch sử đó
vào việc hoạch định chính sách, biện pháp giáo dục đạo đức học sinh hiện nay.
Để có cái nhìn toàn điện về đạo đức, lối sống của thanh niên Việt Nam
hiện nay, trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng và quan điểm của Đảng, tác giả tham
khảo, kế thừa những công trình khảo sát, thống kê, nghiên cứu về thanh niên,
về đạo đức, lối sống của thanh thiếu niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Những công trình này đã phản ánh thực trạng về tình hình đạo đức, lối sống
của thanh thiêu niên Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường đang phát
triển. Có thể khẳng định đây là những công trình nghiên cứu chuyên sâu của
những nhà khoa học, những công dân đang trăn trở về những biến động trong
con người theo những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức của nho giáo như: “Tìm
hiểu mẫu người quân tử qua hai tác phẩm “Luận Ngữ” và “Mạnh Tử” của
Nguyễn Xuân Lộc, “Quan niệm của Nho giáo nguyên thủy về con người qua
các mối quan hệ thân - nhà - nước- thiên hạ” của Trần Đình Thảo, “Quan niệm
của Khổng Tử về giáo dục” của Nguyễn Bá Cường, “Quan niệm của Khổng Tử
về con người và giáo dục đào tạo con người” của Nguyễn Thị Tuyết Mai…
Mặc dù các luận văn, luận án đều có phạm vi nghiên cứu cụ thể của từng đề tài
xong các tác giả ở những mức độ nhất định đã đề cập đến tư tưởng về lễ trong
quan hệ mật thiết với các phạm trù đạo đức khác góp phần hình thành nên tính
toàn vẹn của mẫu người lý tưởng mà Nho giáo muốn xây dựng.
Với thái độ trân trọng những thành tựu nghiên cứu của các học giả đi
trước đã cung cấp nhiều kiến thức về phạm trù Lễ cũng như đạo đức, lối sống
xã hội vô cùng bổ ích và có giá trị, tôi đã tham khảo, kế thừa có chọn lọc và
6
trung thực nguồn tư liệu quý báu đó trong quá trình thực hiện luận văn của
mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Từ việc nghiên cứu có hệ thống tư tưởng của Khổng Tử về Lễ, luận văn
đánh giá những giá trị, hạn chế và rút ra bài học lịch sử của nó cùng những
kiến nghị đối với sự nghiệp giáo dục đạo đức học sinh Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nêu trên luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Trình bày cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử
- Phân tích phạm trù Lễ và các phạm trù trong mối tương quan với
phạm trù Lễ.
- Trình bày các nội dung cơ bản trong phạm trù Lễ của Khổng Tử.
- Phân tích thực trạng đạo đức học sinh ở Việt Nam hiện nay
- Đưa ra ý nghĩa của Lễ đối với việc giáo dục đạo đức học sinh ở Việt
Nam và một số kiến nghị cho sự nghiệp giáo dục đạo đức học sinh hiện nay.
Chương 1: Quan niệm Lễ của Khổng Tử
Chương 2: Ý nghĩa của Lễ trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Việt Nam hiện nay.
8
JK<4;V?85WEX178YZ
1.1.1. Khổng Tử cuộc đời và sự nghiệp
Khổng Tử là người ấp Châu, làng Xương Bình, nước Lỗ nay là huyện
Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông dòng dõi nước Tống. Ông tổ ba
đời rời sang ở nước Lỗ (Sơn Đông). Thân phụ ông là Thúc Lương Ngột làm
quan võ, lấy người vợ trước sinh được chín người con gái. Người vợ lẽ sinh
được một người con trai tên là Mạnh Bì, nhưng lại có tật què chân. Đến lúc
gần già ông thân phụ mới lấy bà Nhan thị sinh ra ông. Khổng Tử sinh vào
mùa đông tháng 10 năm Canh Tuất là năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà
Chu, tức là năm 551 trước Công Nguyên. Bà Nhan thị có lên cầu tự trên núi
aNi Khâu, cho nên khi sinh ra ông mới nhân điềm ấy mà đặt tên ông là Khâu,
tên tự là Trọng Ni. Có sách chép rằng trán ông cao và gồ lên cho nên mới đặt
tên là Khâu. Khâu nghĩa là cái gò
Theo chuyện chép trong chính sử thì khi Khổng Tử lên 3 tuổi ông thân
phụ mất. Thủa còn nhỏ học hành thế nào sử sách không chép rõ chỉ nói rằng
khi ông chơi với trẻ hay bày đồ cúng tế. Điều đó cốt tỏ cái bản tính của ông
trọng những điều lễ nghĩa.
Năm ông 19 tuổi thì thành gia thất, rồi ra nhận chức Ủy lại, coi gạt thóc
ở kho, sau lại làm Tư chức lại coi việc nuôi bò dê để dùng về việc cúng tế.
Thủa ấy tuy ông còn trẻ tuổi nhưng đã nổi tiếng là một người giỏi cho nên
quan nước Lỗ là Trọng Tôn Cồ cho hai con là Hà Kị và Nam Cung Quát theo
ông học lễ. Ông vốn là người học theo Nho thuật cho nên ông rất chú ý về lễ
nghi và những phép tắc của các đế vương thời trước. Cho đến khi Khổng Tử
51 tuổi thì vua nước Lỗ mới dùng ông làm quan Trung đô tể. Cách một năm
10
hầu, giữ quyền vua Chư hầu mà bớt quyền các quan Đại phu. Ông nói rằng:
“Thiên hạ hữu đạo, tắc lễ nhạc chinh phạt tự Thiên tử xuất: Thiên hạ có đạo
thì việc lễ nhạc chinh phạt do ở Thiên tử mà ra; thiên hạ vô đạo thì việc lễ
nhạc chinh phạt do ở Thiên tử mà ra; thiên hạ vô đạo thì việc lễ nhạc chinh
phạt do ở Chư hầu mà ra”. Hay là: “Thiên hạ hữu đạo, tắc chính bất tại Đại
phu: Thiên hạ có đạo, việc chính trị không ở quan Đại phu” (Luận ngữ: Quí
thị XVI). Cái chủ nghĩa của ông như thế, tất là phản đối với cái quyền lợi của
các vua chư hầu và các quan chư hầu, cho nên ông đi đến đâu, các nước vì
danh nghia mà trọng đãi, nhưng kỳ thực không ai muốn dùng ông, mà có ai
muốn dùng ông đi nữa thì quan Đại phu ngăn trở, không cho dùng. Vì vậy
cho nên ông đi chu du khắp thiên hạ mà không tìm được chỗ nào để thi hành
cái đạo của mình.
Cũng bởi vậy nên ông đã chu du nhiều nước song không được trọng
dụng. Cuối đời, thấy thật sự bất lực việc làm chính trị ông về quê dạy học, san
định Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc của cổ nhân, viết sách Xuân Thu để bộc lộ
quan điểm của mình. Nhiều quan điểm của ông thể hiện qua các buổi tọa đàm
mà nội dung của nó sau này được trình bày trong “Luận Ngữ” do học trò của
ông chép lại. Sau khi Khổng Tử mất, nhất là qua giải pháp tàn khốc “đốt sách,
chôn nho” của Tần Thủy Hoàng thì sách của Khổng Tử không còn giữ được
là bao. Khi đạo Nho được phục hưng (đời Hán Vũ Đế), sách Nhạc chỉ còn
một thiên, được đem ghép vào bộ “Lễ ký” gọi là thiên “Nhạc ký”. Những
sách khác được người đương thời sưu tầm, bổ sung tạo thành năm kinh là:
Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội thời kỳ Xuân Thu
Thời Xuân Thu về mặt kinh tế sức sản xuất đã phát triển. Công cụ sản
xuất nhất là công cụ bằng sắt bắt đầu xuất hiện việc dùng bò kéo cày trở thành
phổ biến. Trong sách “Quốc ngữ” có viết: “đồng thau để đúc kiếm kích…sắt
dùng để đúc cuốc, cào và quả cân…” Điều đó không chỉ thúc đẩy kỹ thuật
11
1.2.1. Phạm trù Lễ
Trước Khổng Tử, kể từ thời Chu Công, Lễ đã có hai nghĩa: nghĩa cũ là
tế lễ có tính chất tôn giáo, nghĩa mới là pháp điển phong kiến do Chu Công
chế định, có tính cách chính trị, để duy trì trật tự xã hội. Sau dùng rộng ra ý
nghĩa của Lễ chỉ cả phong tục tập quán và sau cùng qua thời Đông Chu nhất
là từ Khổng Tử nó có một nội dung mới, nội dung luận lý chỉ sự kỷ luật về
tinh thần: Người có lễ là người biết tự chủ khắc kỷ
Khổng Tử chủ trương tòng Chu, giữ pháp điển lễ nhạc của Chu Công
thì tất nhiên rất trọng Lễ và buộc vua chúa phải trọng Lễ. Lễ để duy trì trật tự
xã hội, có trật tự đó thì vua mới được tôn, nước mới được trị, nếu vua không
trọng lễ thì còn bắt ai trọng nó được nữa.
Chính vì vậy trong việc trị nước cũng như tu thân học đạo, sửa mình để
đạt đức “Nhân” thì “Lễ” là một trong những yếu tố được Khổng Tử rất mực
coi trọng. Điều này được thể hiện rõ trong cuốn Luận ngữ.
Trong Luận ngữ, Khổng Tử thường nhắc rất nhiều đến chữ Lễ. Có thể
nói, trong mỗi chương đều có nhiều đoạn bàn về Lễ, có khi chủ động giảng
giải, có khi thụ động trả lời câu hỏi của các đồ đệ liên quan tới lễ. Có thể phân
chia ý nghĩa của Lễ trong Luận Ngữ theo những phạm trù sau:
Thứ nhất, Lễ là một phương cách biểu tả hòa khí, và như vậy nó có thể
giúp tề gia, trị quốc. Hữu Tử, một đồ đệ của Khổng Tử nói: "Lễ chi dụng, hòa
vi quý. Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ; tiểu đại do chi. Hữu sở bất hành. Tri
hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành giã" (Trong việc giữ lễ, có
niềm hòa khí là quí trọng. Đạo của những vị vua xưa rất tốt ở chỗ đó, từ
những việc lớn cho chí những việc nhỏ, các ngài dùng niềm hòa khí mà phổ
cập vào Lễ. Nhưng có việc này chẳng nên làm: biết rằng hòa là quí, rồi trong
mỗi việc, cứ dùng lấy hòa, chớ chẳng dùng Lễ mà kiềm chế, như vậy là phóng
đãng xí xóa quá. Đó là việc không nên làm) [Luận ngữ, Học nhi, 12].
13
Thứ hai, Lễ biểu hiện chính nền đạo đức. Theo Khổng Tử, căn bản của
Lễ không có chi khác hơn là chính nền đạo đức. Ðạo nhân, đạo nghĩa, đạo tín
ra bề tôi, cha phải ra cha, con phải ra con. Khổng Tử nói “Nếu danh không
chính thì lời nói sẽ không đúng đắn. Lời nói không đúng đắn sẽ dẫn tới việc
thi hành sai. Khi đó, người với người trong xã hội sẽ không còn kính trọng
nhau, không còn hòa khí, luật pháp lỏng lẻo và ngươì dân mất nơi trông cậy,
nhờ vả” [Luận ngữ, Tử Lộ, 3]. Cho chính danh là phương tiện nhằm thực hiện
Lễ trong xã hội nên Khổng Tử đã chia xã hội thành 5 quan hệ chính. Quan hệ
vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, ban bè. Mỗi quan hệ có những tiêu chuẩn
riêng cho từng đối tượng như cha hiền con thảo, anh tốt em ngoan, chồng biết
điều vợ nghe lẽ phải, bề trên rộng rãi - bề dưới kính thuận, vua nhân tôi trung.
Quan niệm về Lễ không chỉ dừng ở Khổng Tử mà nó đã được phát
triển và mang những hàm nghĩa khác nhau trong quan niệm của một số triết
gia khác như Mạnh Tử, Tuân tử hay trong cả Lễ Ký - một tập sách do nhiều
nho gia thời Hán viết ra.
Mạnh Tử là người đã kế thừa và phát triển học thuyết của Khổng Tử.
Song trong những quan niệm về Nhân, Lễ, Nghĩa cũng có những điểm khác
biệt. Có thể nói Mạnh Tử là người đã gắn liền chữ nghĩa với các đức tính
khác của nền đạo đức nho gia: nhân nghĩa, lễ nghĩa, đạo nghĩa, tín nghĩa…
Ông chủ trương lấy nhân nghĩa làm nền tảng cho tất cả nền đạo đức. Mạnh Tử
viết: "Vị hữu nhân nhi di kỳ thân giả giã. Vị hữu nghĩa nhi hậu kỳ quân giả
giã". (Không thể có người có lòng nhân mà không hiếu thảo cha mẹ. Không
thể có người có nghĩa mà lại tư lợi bỏ bê việc vua việc nước) [Mạnh Tử,
Lương Huệ Vương, 1]. Ở đây, chúng ta sẽ không bàn về lý do tại sao Mạnh
Tử lại chủ trương như vậy, và chú tâm tới ý nghĩa cũa chữ lễ nghĩa. Khi ghép
lễ nghĩa với nhau, Lễ không chỉ còn là những phương thế, hay quy tắc, hay
chỉ là một tinh thần như thấy trong tư tưởng của Tuân Tử và Lễ Ký sau này.
15
Lễ nghĩa bây giờ mang tính chất như một cái thước đo lường, cái thước phát
xuất từ nội tâm nhưng có thể đo được con người nhờ vào hình thức ở bên
ngoài. Nói cách khác, nếu Nhân là cái bản chất của đạo đức, thì Nghĩa là cái
thước đo, là cái mức, cái hình mà chỉ theo đó ta mới nhận ra được Nhân. Thí
khởi của lễ. Cho nên lễ là nuôi vậy. Bậc quân tử đã được cái nuôi, lại muốn
cái phân biệt. Sao gọi là phân biệt? Rằng: sang hèn có bậc, lớn nhỏ có khác
nhau, nghèo giàu khinh trọng đều có cái xứng đáng vậy” [Lễ luận, XIX].
Tuân Tử còn cho rằng bất cứ việc gì không có Lễ thì hỏng “Lễ là cái
cùng cực của sự trị và sự biện biệt, cái gốc của sự là cho nước mạnh, cái đạo
của sự uy hành, cái cốt yếu của công danh. Bậc vương bậc công theo đó mà
được thiên hạ, không theo đó thì làm hỏng xã tắc. Cho nên áo giáp bền, ngọn
giáo nhọn không đủ để thắng trận, thành cao hào sâu không đủ lấy làm bền
vững, lệnh nghiêm hình nhiều không đủ lấy làm uy. Dùng lễ thì việc gì cũng
thi hành được, không dùng lễ thì việc gì cũng bỏ cả” [Nghị binh, XV].
Tuân Tử rất lạc quan về vai trò của Lễ, coi nó như thể là một vị thuốc
vạn năng, có thể “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” được: “Lễ đối với việc quốc
gia như quả cân và cán cân đối với sự nặng nhẹ, như dây và mực đối với
đường thẳng và đường cong. Cho nên người mà không có lễ thì không sinh,
việc mà không có lễ thì không nên, quốc gia mà không có lễ thì không yên”
[Đại lược, XXVII].
Lễ Ký là một tập sách được nhiều nho gia thời Hán (cả Tây Hán lẫn
Ðông Hán) viết ra. Hay nói đúng hơn, họ sao chép lại những ý kiến của tiền
nhân về Lễ (từ các kinh điển như Kinh Lễ, Luận Ngữ, Ðại Học, Trung Dung,
Mạnh Tử và cả Tuân Tử), rồi thêm thắt vào với những lý giải riêng. Trong Lễ
Ký, có thể thấy Lễ có những công năng như sau:
17
Thứ nhất, Lễ là một phương thế đào luyện tình cảm, khiến con người
hòa nhã. Các tác giả Lễ Ký chủ trương, một khi có tính tình hòa nhã, con
người mới có thể thành người đạo đức được.
Thứ hai, Lễ là một cái thước đo lường điều phải điều trái. Lễ xác định
trật tự trên dưới, trước sau, cũng như sự quan hệ phải có giữa mọi người.
Trong Lễ Ký có viết: “Phù lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiểm nghi, biệt
đồng dị, minh thi phi dã”. - Đối với người có lễ thì dùng để xác định phân biệt
tình thân thiết với tình xa lạ, lễ cũng xác quyết được cái gì xác đáng khỏi cái
muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác”(Kỷ sở bất dục, vật thi ư
nhân)¸ “Mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân, mình muốn
thành đạt cũng giúp người khác thành đạt” (Kỷ dục lập nhi, lập nhân, kỷ dục
đạt nhi đạt nhân) [Luận ngữ, Ung dã, 28] Đồng thời Nhân còn được coi là cái
quy định bản tính con người thông qua Lễ, Nghĩa, quy định quan hệ giữa
người với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội. Chính vì vậy mà Lễ và
Nhân không thể tách rời.
Trong mối quan hệ này Khổng Tử cho đức nhân là gốc của Lễ- Nhạc.
Ông viết “Nhân nhi bất nhân như lễ hà? Nhơn nhi bất nhân như nhạc hà?”
nghĩa là “Người ta mà chẳng có lòng nhân, làm sao mà thi hành lễ tiết? Người
ta chẳng có lòng nhân làm sao mà thi hành âm nhạc?” (Lễ gốc ở kính, người
bất nhân chẳng có niềm cung kính, đâu có thể hành lễ cho nghiêm trang. Nhạc
chủ ở hòa, người bất nhân chẳng có niềm hòa khí thì đâu có thể nào trổi nhạc
cho tinh vi) [Luận ngữ, Bát dật, 3]. Do đó người không có đức Nhân thì Lễ là
vô nghĩa và nhạc cũng chẳng để làm gì.
Trong việc rèn luyện để trở thành người Nhân Khổng Tử viết: “Khắc
kỷ phục lễ vi nhân. Nhứt nhựt khắc kỷ, phục lễ, thiên hạ qui nhân yên.Vi nhân
do kỷ, nhi do nhơn hồ tai?” (Làm nhân là khắc kỷ, phục lễ, tức là chế thắng
19
lòng tư- dục, vọng- niệm của mình mà theo về lễ tiết. Ngày nào mà mình khắc
kỷ, phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hóa mà theo về
đức nhân. Vậy làm nhân là do nơi mình, chớ há do nơi ai) [Luận ngữ, Nhan
Uyên, 1]. Mà muốn thực hành điều đó theo Khổng Tử “Sắc chi chẳng hạp lễ
thì mình đừng ngó, tiếng chi chẳng hạp lễ thì mình đừng nghe, lời chi chẳng
hạp lễ thì mình đừng nói, việc chi chẳng hạp lễ thì mình đừng làm” [Luận
ngữ, Nhan Uyên, 1] Có nghĩa là cái gì không hợp lễ thì đừng nhìn, không hợp
lễ thì đừng nghe, không hợp lễ thì đừng nói, không hợp lễ thì đừng làm.
Khổng Tử còn quan niệm “Khắc kỷ phục lễ vi nhân” người Nhân là
người biết sửa mình theo điều Lễ, biết chế ước những ham muốn, dục vọng
của bản thân, hạn chế tất cả những gì về cá nhân mình, phục tùng kỷ cương
thị nhơn cho sở dục giã: bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử giã. Bần dữ tiện, thị
nhơn chi sở ố giã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất khử giã) [Luận ngữ, Lý nhân, 5].
Hễ phải Nghĩa thì làm gì cũng không nề hà, mà không phải Nghĩa thì dẫu
được gì cũng không thiết Khổng Tử nói: “Phú nhi khả cầu giã,tuy chấp tiên
chi sĩ, ngô diệc vi chi, như bất khả cầu, tùng ngô sở háo” (giàu mà nên cầu
được, thì dù làm người cầm roi đi hầu, ta cũng làm. Nếu không nên cầu, thì cứ
theo cái thích của ta) [Luận ngữ, Thuật nhi, 11]. Người quân tử thì không bao
giờ thấy điều lợi mà bỏ việc nghĩa, nếu làm việc phi nghĩa mà được phú quí,
thì đành chịu bần tiện còn hơn. Khổng Tử nói: Phạn sơ tự, ẩm thủy, khúc
quăng nhi trẩm chi, lạc tại kỳ trung hỹ. Bất nghĩa nhi phú thả quí, ư ngã như
phù vân: ăn gạo xấu, uống nước lã, gấp cánh tay mà gối đầu, tuy thế cũng có
cái vui ở trong đó. Làm điều bất nghĩa mà giàu sang, thì ta coi như đám mây
nổi [Luận ngữ, Thuật nhi, 15]. Theo đuổi phú quý nhưng không được làm trái
với Nghĩa. Khổng tử cho rằng con người ta cần cả lợi (phú quý) và Nghĩa.
21
Nhưng Nghĩa chiếm vị trí số một, Nghĩa chính là hành vi, "hành vi" con
người phù hợp với Lễ chính là Nghĩa.
Khổng Tử nói rằng: “Người quân tử lấy đạo nghĩa làm căn bản, dùng lễ
để thi hành, biểu lộ bằng đức khiêm tốn, hoàn thành nhờ chữ tín. Quân tử vậy
thay!” (Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành
chi. Quân tử tai!) [Luận ngữ, Vệ Linh Công, 17]. Cái gọi là “nghĩa dĩ vi chất,
lễ dĩ hành chi”, tức là lý luận lấy Lễ để quy về Nghĩa. “Chất” ở đây chính là
thực chất, “lễ dĩ hành chi” tức là lấy Lễ để hành Nghĩa, làm điều nghĩa. Nói
cách khác Lễ dựa vào nghĩa mà được xác lập nên, Nghĩa là thực chất của Lễ,
Lễ là biểu hiện của Nghĩa. Tất cả mọi nghi thức, toàn bộ trật tự đời sống đều
lấy tính chính đáng, hay lấy đạo lý làm cơ sở.
Như vậy có thể nói rằng Nghĩa chính là cơ sở để hình thành Lễ còn Lễ
chính là mục tiêu, tiêu chuẩn để xác hành vi có Nghĩa hay không.
1.2.2.3. Mối quan hệ giữa Lễ và Pháp
Pháp theo nghĩa hẹp là luật lệ, quy định, là điều luật, hiến lệnh có tính
Ngược lại với quan điểm của Khổng Tử, Hàn Phi cho rằng trong thiên
hạ người hiền thì ít mà còn hạng bất nhân thì nhiều nên trị nước phải dùng
luật pháp. Tư tưởng Pháp trị được khởi xứng từ Quản Trọng, Thận Đáo, Thân
Bất Hại, Thương Hưởng và được hoàn thiện bởi Hàn Phi Tử. Hàn Phi đã tổng
hợp giữa Pháp, Thế và Thuật trong phép trị nước thì Pháp Thế Thuật tương
quan, liên hệ mật thiết với nhau. Pháp là nội dung của chính sách cai trị còn
Thế và Thuật như là công cụ hay phương tiện để thực hiện chính sách đó. Hàn
Phi cho rằng sự trừng phạt không cần đến tước vị của giới quý tộc vì luật
không xu nịnh giới quý tộc. Nội dung thưởng phạt nhằm mục đích thực hiện
Pháp để cứu loạn cho dân chúng, trừ họa cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnh
không lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đám ít người, người già được hưởng
23
hết tuổi đời, bọn trẻ mô côi được nuôi lớn, biện giới không bị xâm phạm, vua
tôi thân nhau, cha con bảo vệ nhau, không lo bị giết hay cầm tù.
Tuy đường lối trị nước của Khổng Tử và Hàn Phi còn nhiều hạn chế
song có thể thấy Đức trị và Pháp trị đều có chung mục đích là tôn trọng pháp
luật, nhằm ổn định trật tự xã hội. Luật của Pháp trị là luật pháp còn luật của
nho giáo là tôn Lễ, Lễ không phải là luật nhưng Lễ có thể thay luật nếu như
mọi người hiểu Lễ và thi Lễ.
1.2.2.4. Mối quan hệ giữa Lễ và Nhạc
Khổng Tử cho rằng Nhạc thanh thiện ác đều do ở lòng người. Lòng
người cảm điều thiện thì thiện thanh ứng. Sự thiện ác của nhạc là bởi lòng
người mà sinh ra, rồi lại cảm lòng người mà khiến cho thành ra thiện hay ác.
Cái tác dụng của Nhạc cốt hòa thanh âm cho tao nhã để di dưỡng tính
tình. Khổng Tử đã nói: “Trí nhạc dĩ trị tâm, tắc dị trực từ lượng chi tâm du du
nhiên sinh hỹ: xét về nhạc để trị lòng người, thì cái lòng giản dị, chính trực, từ
ái, thành tín, tự nhiên phơi phới mà sinh ra” (Lễ ký: Tế nghĩa, XXIV). Thánh
nhân biết nhạc có cái thế lực rất mạnh về đường đạo đức, cho nên mới chế
nhạc để dạy người.
Nhạc cũng như Lễ rất có ảnh hưởng về đường chính trị. “Thanh tâm chi