ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGU
N THỊ L N MINH
PHẠM TR L C
VÀ Ý NGH
C
N
H NG T
Đ I VỚI VI C GI O D C
ĐẠO Đ C CHO HỌC SINH VI T N M HI N N
LUẬN VĂN THẠC S TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGU
N THỊ L N MINH
i s h
ng d n của T
ê Tr ng
anh.
Các số liệu tài liệu trong luận văn là trung th c bảo
đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn
gốc xuất xứ rõ ràng
à Nội ngày 7 tháng 5 năm 2012.
Tác giả
u n
n
n
M CL C
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................................
Chương 1. QU N NI M L C
H NG T .....................................................................9
1.1. Cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử .....................................................................9
1.1.1. Khổng Tử cuộc đời và sự nghiệp ...............................................................................9
1.1.2. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội thời kỳ Xuân Thu ..........................................11
D NH M C TÀI LI U TH M
HẢO.................................................................................75
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, tư tưởng của Khổng Tử có một vị trí
rất đặc biệt. Sự đặc biệt ấy không chỉ bởi những giá trị đặc sắc trong nội dung
tư tưởng và tầm ảnh hưởng của nó đối với thời đại nó ra đời mà còn bởi tư
tưởng Khổng Tử đã sống một cuộc sống lâu bền và rất riêng, vượt qua khuôn
khổ một thời đại, một quốc gia. Tư tưởng Khổng Tử nói riêng và tư tưởng
nho giáo nói chung đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến trong
suốt tiến trình phát triển qua các triều đại phong kiến ở Trung Hoa và nhiều
nước Á Đông khác trong đó có Việt Nam.
Với một hệ thống những quan điểm về thế giới và đặc biệt là quan điểm
nhân sinh thể hiện trong quan niệm về chính trị xã hội và luân lý đạo đức,
Khổng Tử là người đã đặt nền móng cho sự phát triển của Nho học trong lịch
sử Trung Hoa. Quan điểm về Lễ là một trong những nội dung chủ yếu trong
quan niệm về chính trị xã hội, luân lý đạo đức của Khổng Tử. Trong học
thuyết về chính trị - xã hội của Khổng Tử, Lễ được hiểu theo nhiều khía cạnh
khác nhau nhưng dù ở khía cạnh nào nó cũng không vượt ra khỏi mục đích tối
cao nhằm giải quyết một vấn đề lớn của thời đại ông là bình ổn xã hội. Khổng
Tử muốn khôi phục Lễ để thực hiện điều Nhân nhằm bình ổn xã hội loạn lạc
để quay trở lại như thời Tây Chu. Tất nhiên, từ Lễ trong nền giáo dục phong
kiến đến Lễ trong nền giáo dục hiện đại đã có rất nhiều biến đổi nhưng ở bất
kỳ thời đại nào cũng có những giá trị được bảo tồn. Bởi vậy, hoàn toàn không
nó hoàn toàn có thể giúp khôi phục và định hình một nhân cách chuẩn đối với
học sinh, đặc biệt là với một bộ phận học sinh lệch chuẩn hiện nay ở nước ta.
Với những suy nghĩ đó, tôi đã làm luận văn cao học với đề tài: “P ạm
trù
củ K ổn
ọc s n V ệt
m
ử và ý n
ĩ củ nó đố vớ v ệc
ện n ”.
2
áo dục đạo đức c o
2. Tình hình nghiên cứu
Nho giáo nói chung và phạm trù Lễ trong triết học của Khổng Tử nói
riêng là đối tượng nghiên cứu đang thu hút nhiều ngành khoa học nghiên cứu
trong nhiều thế kỷ qua cho tới hiện nay, như: triết học, văn hóa học, sử học,
tôn giáo học, giáo dục học, đạo đức học
Có thể khái quát kết quả nghiên
3
Nxb Chính trị quốc gia, năm 1999; ịch sử triết h c sử Trung Quốc (2 tập)
của tiến sĩ Phùng Hữu Lan (Feng You Lan), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
năm 2006;... Các công trình nghiên cứu này đã trình bày, phân tích một cách
sâu sắc triết học Khổng Tử trong tiến trình lịch sử triết học. Hơn nữa, các
công trình này tập trung phân tích các học thuyết về chính trị, xã hội của
Khổng Tử, ít nhiều có đề cập đến phạm trù Lễ trong mối tương quan đến các
phạm trù đạo đức trong “ngũ thường” như nhân lễ nghĩa trí tín
Trong thời gian gần đây, đã xuất hiện tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu
về lịch sử triết học Trung Quốc là “Từ điển triết h c Trung Quốc” của PGS.
TS. Doãn Chính, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản vào năm 2009;
tác phẩm này trình bày, phân tích một cách sâu sắc những vấn đề như: nội
dung các học thuyết trong triết học của Khổng Tử; lịch sử hình thành, phát
triển và sự biến đổi của phạm trù Lễ trong tiến trình lịch sử, nguyên nhân sự
ra đời của Lễ cũng như ý nghĩa, công dụng Lễ... Tuy nhiên, do đặc trưng của
thể loại Từ điển và do khối lượng kiến thức đồ sộ mà tác phẩm đề cập đến,
nên tác giả đành hạn chế phần phân tích nội dung của Lễ.
ng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết của các
tác giả chuyên nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu riêng về Lễ trong triết học
Khổng Tử, như: “ ễ Ký - kinh điển về việc lễ” của tác giả Nhữ Nguyên, Nxb
Đồng Nai, Biên Hòa, 1996; “Kinh lễ”, do Nguyễn Tôn Nhan biên dịch và giới
thiệu, Nxb Văn học, năm 1996; “Tứ Th ”, Dịch giả Đoàn Trung Còn, Nxb
Thuận Hóa, Huế, 2006;
Những công trình nghiên cứu này biên dịch phần
nguyên bản chữ Hán, đồng thời các nhà nghiên cứu, dịch thuật cũng cố gắng
bằng kiến thức uyên thâm của mình phân tích, thuyết minh một số nội dung
ồ Chí Minh vào giáo dục đạo đức cho sinh viên ở thành phố
ồ Chí Minh hiện nay”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Công trình trình bày
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống mới cho
thanh niên; phân tích thực trạng đạo đức, lối sống sinh viên; thực trạng công
tác giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên; đề ra các nhóm giải pháp về giáo
dục đạo đức cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
5
Công trình “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt
Nam” công bố ngày 26 tháng 8 năm 2005. Tính cho đến nay, đây là cuộc điều
tra về vị thành niên và thanh niên lớn nhất, toàn diện nhất ở Việt Nam, là
nguồn thông tin bổ ích, đáng tin cậy về tình trạng sức khỏe, đời sống xã hội,
thái độ, hoài bão của thế hệ thanh niên Việt Nam ngày nay.
Đây là các công trình rất công phu, mỗi tác giả lại có cái nhìn chuyên
sâu về từng khía cạnh của đời sống thanh niên hiện nay và từ đó đưa ra những
giải pháp góp phần nâng cao đạo đức xã hội. Song, các tác phẩm còn dừng lại
ở những giải pháp ở tầm vĩ mô, chung chung mang tính định hướng mà chưa
thực sự cụ thể, phù hợp để xây dựng những chuẩn mực đạo đức cho từng
nhóm bộ phận những người Việt Nam, chưa xây dựng được chương trình,
biện pháp giáo dục đạo đức hiệu quả cho đối tượng thanh thiếu niên.
Một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ triết học đã được bảo vệ xoay
quanh vấn đề con người, mẫu người, đạo làm người và vấn đề giáo dục đào tạo
con người theo những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức của nho giáo như: “Tìm
hiểu mẫu người quân tử qua hai tác phẩm “Luận Ngữ” và “Mạnh Tử” của
Nguyễn Xuân Lộc, “Quan niệm của Nho giáo nguyên thủy về con người qua
các mối quan hệ thân - nhà - nước- thiên hạ” của Trần Đình Thảo, “Quan niệm
Để thực hiện mục đích nêu trên luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Trình bày cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử
- Phân tích phạm trù Lễ và các phạm trù trong mối tương quan với
phạm trù Lễ.
- Trình bày các nội dung cơ bản trong phạm trù Lễ của Khổng Tử.
- Phân tích thực trạng đạo đức học sinh ở Việt Nam hiện nay
- Đưa ra ý nghĩa của Lễ đối với việc giáo dục đạo đức học sinh ở Việt
Nam và một số kiến nghị cho sự nghiệp giáo dục đạo đức học sinh hiện nay.
4. Đối tư ng và ph
4.1. Đố tượn n
vi nghiên cứu của uận v n
ên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu Phạm trù Lễ của Khổng Tử để từ đó rút
ra ý nghĩa của Lễ đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện
nay.
4.2. P ạm v n
ên cứu
Triết học Nho giáo nguyên thủy bao gồm rất nhiều vấn đề như con
người, chính trị - xã hội, giáo dục
nhưng ở đây luận văn chỉ nghiên cứu về
phạm trù Lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức
học sinh ở Việt Nam hiện nay.
7
Chương 2: Ý nghĩa của Lễ trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Việt Nam hiện nay.
8
Chương 1
QU N NI M L C
1.1. Cơ sở hình thành quan niệ
1.1.1. K ổn
ử cuộc đờ và sự n
H NG T
Lễ của
hổng Tử
ệp
Khổng Tử là người ấp Châu, làng Xương Bình, nước Lỗ nay là huyện
Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông dòng dõi nước Tống. Ông tổ ba
đời rời sang ở nước Lỗ (Sơn Đông). Thân phụ ông là Thúc Lương Ngột làm
quan võ, lấy người vợ trước sinh được chín người con gái. Người vợ lẽ sinh
được một người con trai tên là Mạnh Bì, nhưng lại có tật què chân. Đến lúc
gần già ông thân phụ mới lấy bà Nhan thị sinh ra ông. Khổng Tử sinh vào
mùa đông tháng 10 năm Canh Tuất là năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà
Chu, tức là năm 551 trước Công Nguyên. Bà Nhan thị có lên cầu tự trên núi
không thỉnh chính. Khổng Tử thấy vua vì sự vui chơi bỏ trễ việc nước cho
nên nhân lúc nhà vua làm lễ tế Giao không chia thịt cho các quan ông liền từ
chức bỏ sang ở nước Vệ.
Ông ở nước Vệ được 10 tháng vua nước vệ không dùng ông định đi
sang nước Trần, nhưng khi đi đến nước Khuông, người nước ấy nhận nhầm
ông là Dương Hổ - là người tàn bạo ai cũng ghét cho nên mới đem quân ra
vây đánh. Ông phải dùng tiếng đàn hát để giải thoát cho mình. Ông thấy có sự
ngăn trở như thế nên trở về nước Vệ. Ở nước Vệ được ít lâu ông sang ở nước
Tống bị quan Tư mã nước Tống là Hoàn Khôi muốn giết nên ông lại bỏ sang
Trần. Ở nước Trần được ba năm thì vua nước Trần vẫn trọng đãi ông nhưng
nước ấy bị giặc dã luôn nên ông lại trở về nước Vệ, rồi ông lại bỏ sang nước
Trần. Ông ở nước Trần được ít lâu thì lại sang nước Thái đi qua đến nước
Diệp thì vua nước Sở cho người đón ông nhưng lại bị quan lệnh doãn là Tử
Tây can ngăn nên ông lại trở về nước Vệ. Thời bấy giờ vua các nước chư hầu
còn muốn lấn quyền Thiên tử, quan Đại phu còn muốn lấn quyền của Thiên
tử, quan Đại phu còn muốn lấn quyền của vua Chư hầu, mà cái chủ nghĩa của
Khổng Tử thì lại cố tôn phù nhà Chu để giảm bớt cái quyền các nước Chư
10
hầu, giữ quyền vua Chư hầu mà bớt quyền các quan Đại phu. Ông nói rằng:
“Thiên hạ hữu đạo, tắc lễ nhạc chinh phạt tự Thiên tử xuất: Thiên hạ có đạo
thì việc lễ nhạc chinh phạt do ở Thiên tử mà ra; thiên hạ vô đạo thì việc lễ
nhạc chinh phạt do ở Thiên tử mà ra; thiên hạ vô đạo thì việc lễ nhạc chinh
phạt do ở Chư hầu mà ra”. Hay là: “Thiên hạ hữu đạo, tắc chính bất tại Đại
phu: Thiên hạ có đạo, việc chính trị không ở quan Đại phu” (Luận ngữ: Quí
thị XVI). Cái chủ nghĩa của ông như thế, tất là phản đối với cái quyền lợi của
các vua chư hầu và các quan chư hầu, cho nên ông đi đến đâu, các nước vì
danh nghia mà trọng đãi, nhưng kỳ thực không ai muốn dùng ông, mà có ai
trong nông nghiệp. Cuối Xuân Thu, nước Ngô dựng lò luyện sắt lớn dùng đến
300 người để thụt bễ, đổ than. Nước Tấn trưng thu sắt đúc “đỉnh hình”.
Cùng với sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, thương
nghiệp, buôn bán cũng phát đạt hơn trước. Tiền tệ đã xuất hiện cùng với tầng
lớp thương nhân ngày càng có thế lực, như Huyền Cao nước Trịnh, như Tử
Tống. Trên cơ sở phát triển của các ngành kinh tế, ruộng đất giờ đây giao cho
từng gia đình để canh tác. Đất do nông dân tự vỡ hoang trở thành ruộng tư
ngày càng tăng thêm. Bọn quý tộc có thế lực chiếm đoạt ruộng đất công biến
thành ruộng tư ngày càng nhiều. Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất xuất
hiện chế độ “tỉnh điền’’ dần dần tan dã.
Về chính trị - xã hội, suốt thời Xuân Thu vì mệnh lệnh Thiên tử không
được chư hầu tuân thủ, chế độ tông pháp bị phá bỏ, trật tự lễ nghĩa, cương
thường xã hội đảo lộn, đạo đức suy vi nên các nước chư hầu đua nhau động
binh gây chiến tranh thôn tính và tranh giành địa vị của nhau diễn ra liên miên
và vô cùng khốc liệt. Lễ nghĩa nhà Chu giờ đây trở thành hình thức sáo rỗng
và chỉ là những thủ đoạn ngoại giao. Nạn chư hầu chiếm quyền Thiên tử, đại
phu tiếm lễ Thiên tử và chư hầu, cha giết con, anh giết em, vợ lìa chồng
thường xuyên xảy ra. Chế độ cống nạp do nước lớn tiếm quyền Thiên tử tự ý
đặt ra với các nước nhỏ là một tai họa cho các nước nhỏ yếu. Mỗi lần nhà
Trịnh cống nạp cho nhà Tấn phải dùng đến 100 xe chở lụa và da thú mà trăm
xe thì phải ngàn người. Do vậy dân đã nghèo càng thêm đói khổ nên ở nước
Tấn “thây người chết đầy đường”.
Chính vì vậy trong thời kỳ này đã xuất hiện nhiều học thuyết nhằm tìm
cách sửa đổi để cứu vớt thiên hạ trong đó có học thuyết của khổng Tử, lấy
nhân, nghĩa, lễ, trí để dạy người, lấy cương thường mà hạn chế nhân dục để
giữ trật tự ở trong xã hội cho bền vững.
12
ứ
, Lễ biểu hiện chính nền đạo đức. Theo Khổng Tử, căn bản của
Lễ không có chi khác hơn là chính nền đạo đức. Ðạo nhân, đạo nghĩa, đạo tín
(tức chân thành)
, là những đức tính căn bản củaLễ. Khổng Tử viết: “Nhân
nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?” [Luận ngữ, Bát
dật, 3]. Một người thiếu Lễ, không thể là người quân tử. Trung, hiếu thực ra
chỉ là những quy tắc tất yếu xây dựng trên nhân, nghĩa, và tín, trong khi Lễ là
một phương thế biểu hiện những đức tính trên. Khổng Tử viết: “Trong cuộc lễ
vui, nếu xa hoa thái quá, thì kiệm ước còn hơn. Trong việc tang khó, nếu lòa
loẹt thái quá, thì lòng đau xót còn hơn” (Trong những dịp vui sướng, may
mắn, người ta hay bày cuộc lễ với mọi sự xa xỉ, ngỡ rằng có vẻ sang trọng
mới gọi là lễ. Nhưng gốc lễ ở tại nơi vừa phải, chớ xa xỉ cũng chớ bỏn sẻn.
Trong lúc tống táng, người ta hay làm cho lớn đám để lấy thể diện, ngỡ rằng
đó là đúng lễ. Nhưng trong dịp này, gốc lễ ở tại lòng đau thương) [Luận ngữ,
Bát dật, 4].
ứ b , Lễ là những nghi thức mà ta phải theo, tùy theo nơi chốn, tùy
theo địa vị, tùy theo tương quan giữa chúng ta với những người ta gặp. Trong
chương Thuật Nhi, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái
độ ta phải có khi cúng tế, khi thụ tang, khi gặp thiên tai
Khổng tử viết:
“Sanh, sự chi dĩ lễ, tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ” (Hễ làm con, khi cha mẹ còn
Song trong những quan niệm về Nhân, Lễ, Nghĩa cũng có những điểm khác
biệt. Có thể nói Mạnh Tử là người đã gắn liền chữ nghĩa với các đức tính khác
của nền đạo đức nho gia: nhân nghĩa, lễ nghĩa, đạo nghĩa, tín nghĩa
Ông
chủ trương lấy nhân nghĩa làm nền tảng cho tất cả nền đạo đức. Mạnh Tử
viết: "Vị hữu nhân nhi di kỳ thân giả giã. Vị hữu nghĩa nhi hậu kỳ quân giả
giã". (Không thể có người có lòng nhân mà không hiếu thảo cha mẹ. Không
thể có người có nghĩa mà lại tư lợi bỏ bê việc vua việc nước) [Mạnh Tử,
Lương Huệ Vương, 1]. Ở đây, chúng ta sẽ không bàn về lý do tại sao Mạnh
Tử lại chủ trương như vậy, và chú tâm tới ý nghĩa cũa chữ lễ nghĩa. Khi ghép
lễ nghĩa với nhau, Lễ không chỉ còn là những phương thế, hay quy tắc, hay
chỉ là một tinh thần như thấy trong tư tưởng của Tuân Tử và Lễ Ký sau này.
15
Lễ nghĩa bây giờ mang tính chất như một cái thước đo lường, cái thước phát
xuất từ nội tâm nhưng có thể đo được con người nhờ vào hình thức ở bên
ngoài. Nói cách khác, nếu Nhân là cái bản chất của đạo đức, thì Nghĩa là cái
thước đo, là cái mức, cái hình mà chỉ theo đó ta mới nhận ra được Nhân. Thí
dụ, cùng một hành động bố thí, thì bố thí cho người nghèo túng là có lòng
nhân, nhưng cho tiền cho người dư giả thì vô nghĩa, mà đút tiền cho tham
quan ô lại thì là thất nhân. Sự phân biệt nơi đây dựa trên Nghĩa. Vậy thì, ta chỉ
nhận ra được lòng nhân, và chỉ thi hành đạo Nhân một cách chính xác nếu
chúng ta hiểu được nghĩa.
Cũng như trong quan niệm về Nghĩa, Mạnh Tử quan niệm Lễ là những
hình thức, nghi thức. Nhưng nếu nghi thức đó áp dụng sai, hay cho những
người không xứng đáng thì một nghi lễ như vậy mất hết cả ý nghĩa của nó, và
của sự uy hành, cái cốt yếu của công danh. Bậc vương bậc công theo đó mà
được thiên hạ, không theo đó thì làm hỏng xã tắc. Cho nên áo giáp bền, ngọn
giáo nhọn không đủ để thắng trận, thành cao hào sâu không đủ lấy làm bền
vững, lệnh nghiêm hình nhiều không đủ lấy làm uy. Dùng lễ thì việc gì cũng
thi hành được, không dùng lễ thì việc gì cũng bỏ cả” [Nghị binh, XV].
Tuân Tử rất lạc quan về vai trò của Lễ, coi nó như thể là một vị thuốc
vạn năng, có thể “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” được: “Lễ đối với việc quốc
gia như quả cân và cán cân đối với sự nặng nhẹ, như dây và mực đối với
đường thẳng và đường cong. Cho nên người mà không có lễ thì không sinh,
việc mà không có lễ thì không nên, quốc gia mà không có lễ thì không yên”
[Đại lược, XXVII].
Lễ Ký là một tập sách được nhiều nho gia thời Hán (cả Tây Hán lẫn
Ðông Hán) viết ra. Hay nói đúng hơn, họ sao chép lại những ý kiến của tiền
nhân về Lễ (từ các kinh điển như Kinh Lễ, Luận Ngữ, Ðại Học, Trung Dung,
Mạnh Tử và cả Tuân Tử), rồi thêm thắt vào với những lý giải riêng. Trong Lễ
Ký, có thể thấy Lễ có những công năng như sau:
17
ứ n ất, Lễ là một phương thế đào luyện tình cảm, khiến con người
hòa nhã. Các tác giả Lễ Ký chủ trương, một khi có tính tình hòa nhã, con
người mới có thể thành người đạo đức được.
ứ
, Lễ là một cái thước đo lường điều phải điều trái. Lễ xác định
trật tự trên dưới, trước sau, cũng như sự quan hệ phải có giữa mọi người.
Trong Lễ Ký có viết: “Phù lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiểm nghi, biệt
đồng dị, minh thi phi dã”. - Đối với người có lễ thì dùng để xác định phân biệt
nhau. Theo nghĩa rộng nhất Nhân là nguyên tắc đạo đức. Theo Khổng Tử
Nhân là nội dung, Lễ là hình thức của Nhân và Chính danh là con đường để
đạt đến điều Nhân. Học trò của Khổng Tử hỏi, thế nào là Nhân, Khổng Tử trả
lời: “Thương người (Ái nhân). “Thương người”, “điều gì mà mình không
muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác”(Kỷ sở bất dục, vật thi ư
nhân)¸ “Mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân, mình muốn
thành đạt cũng giúp người khác thành đạt” (Kỷ dục lập nhi, lập nhân, kỷ dục
đạt nhi đạt nhân) [Luận ngữ, Ung dã, 28] Đồng thời Nhân còn được coi là cái
quy định bản tính con người thông qua Lễ, Nghĩa, quy định quan hệ giữa
người với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội. Chính vì vậy mà Lễ và
Nhân không thể tách rời.
Trong mối quan hệ này Khổng Tử cho đức nhân là gốc của Lễ- Nhạc.
Ông viết “Nhân nhi bất nhân như lễ hà? Nhơn nhi bất nhân như nhạc hà?”
nghĩa là “Người ta mà chẳng có lòng nhân, làm sao mà thi hành lễ tiết? Người
ta chẳng có lòng nhân làm sao mà thi hành âm nhạc?” (Lễ gốc ở kính, người
bất nhân chẳng có niềm cung kính, đâu có thể hành lễ cho nghiêm trang. Nhạc
chủ ở hòa, người bất nhân chẳng có niềm hòa khí thì đâu có thể nào trổi nhạc
cho tinh vi) [Luận ngữ, Bát dật, 3]. Do đó người không có đức Nhân thì Lễ là
vô nghĩa và nhạc cũng chẳng để làm gì.
Trong việc rèn luyện để trở thành người Nhân Khổng Tử viết: “Khắc
kỷ phục lễ vi nhân. Nhứt nhựt khắc kỷ, phục lễ, thiên hạ qui nhân yên.Vi nhân
do kỷ, nhi do nhơn hồ tai?” (Làm nhân là khắc kỷ, phục lễ, tức là chế thắng
19
lòng tư- dục, vọng- niệm của mình mà theo về lễ tiết. Ngày nào mà mình khắc
kỷ, phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hóa mà theo về
đức nhân. Vậy làm nhân là do nơi mình, chớ há do nơi ai) [Luận ngữ, Nhan
Uyên, 1]. Mà muốn thực hành điều đó theo Khổng Tử “Sắc chi chẳng hạp lễ
Hay Khổng Tử còn nói: “ Này, đạt nhân là phải có tính chất phác và ngay
thẳng”.
Theo Khổng Tử Nghĩa trái ngược với lợi “Bực quân tử tinh tường về
việc nghĩa, kẻ tiểu nhơn rành rẽ về việc lợi” (Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ
ư lợi) [Luận ngữ, Lý nhân, 16].
Khổng tử cho rằng, con người theo đuổi phú quý là lẽ thường, phú quý
là dục vọng của con người.
Khi bàn đến phú quý tức là nói đến lợi, con người luôn theo đuổi cái lợi
cá nhân cho mình. Khổng Tử nói “Thấy lợi thì nghĩ tới nghĩa” tức là lấy
Nghĩa làm cơ sở để thu nhận hoặc từ chối lợi, nếu lợi ấy không hại đến Nghĩa
thì nhận, nếu lợi ấy có hại đến Nghĩa thì từ chối. Khổng Tử nói: “Phú quí thì
ai cũng muốn, nhưng không lấy đạo mà được thì không nhận, bần tiện thì ai
cũng ghét, nhưng không lấy đạo mà làm cho khỏi, thì không bỏ”. (Phú dữ quí,
thị nhơn cho sở dục giã: bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử giã. Bần dữ tiện, thị
nhơn chi sở ố giã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất khử giã) [Luận ngữ, Lý nhân, 5].
Hễ phải Nghĩa thì làm gì cũng không nề hà, mà không phải Nghĩa thì dẫu
được gì cũng không thiết Khổng Tử nói: “Phú nhi khả cầu giã,tuy chấp tiên
chi sĩ, ngô diệc vi chi, như bất khả cầu, tùng ngô sở háo” (giàu mà nên cầu
được, thì dù làm người cầm roi đi hầu, ta cũng làm. Nếu không nên cầu, thì cứ
theo cái thích của ta) [Luận ngữ, Thuật nhi, 11]. Người quân tử thì không bao
giờ thấy điều lợi mà bỏ việc nghĩa, nếu làm việc phi nghĩa mà được phú quí,
thì đành chịu bần tiện còn hơn. Khổng Tử nói: Phạn sơ tự, ẩm thủy, khúc
quăng nhi trẩm chi, lạc tại kỳ trung hỹ. Bất nghĩa nhi phú thả quí, ư ngã như
phù vân: ăn gạo xấu, uống nước lã, gấp cánh tay mà gối đầu, tuy thế cũng có
cái vui ở trong đó. Làm điều bất nghĩa mà giàu sang, thì ta coi như đám mây
nổi [Luận ngữ, Thuật nhi, 15]. Theo đuổi phú quý nhưng không được làm trái
với Nghĩa. Khổng tử cho rằng con người ta cần cả lợi (phú quý) và Nghĩa.