ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ THÙY LINH
QUAN NIỆM CỦA JOHN STUART MILL VỀ
CHÍNH THỂ TRONG TÁC PHẨM
“CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ JOHN STUART MILL VÀ TÁC PHẨM
“CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN” 11
1.1. Bối cảnh lịch sử và tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng John Stuart Mill
11
1.1.1. Tình hình nước Anh nửa đầu thế kỷ XIX 11
1.1.2. Những nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến John Stuart Mill 15
1.2. Khái quát về John Stuart Mill 24
1.2.1. Cuộc đời 24
1.2.2. Sự nghiệp 28
1.2.3. Triết học chính trị của John Stuart Mill 31
1.3. Khái quát về tác phẩm “Chính thể đại diện” 39
1.3.1. Hoàn cảnh ra đời 39
1.3.2. Kết cấu và nội dung chính 41
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA
JOHN STUART MILL VỀ CHÍNH THỂ TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH
THỂ ĐẠI DIỆN” 47
2.1. Về hình thức chính thể 48
2.1.1. Lý luận chung về hình thức chính thể 48
2.1.2. Hình thức chính thể lý tưởng 55
2.2. Những đặc trưng của hình thức chính thể mang tính đại diện…………… 62
2.2.1. Bầu cử 62
2.2.2. Nền dân chủ đại diện 69
2.2.3. Nền hành pháp 76
2.2.4. Nghị viện và các cơ quan đại diện địa phương 83
2.3. Những giá trị và hạn chế của quan niệm của John Stuart Mill về chính thể
trong tác phẩm “Chính thể đại diện” 93
2.3.1. Giá trị 93
về nhà nước đang là một yêu cầu cấp bách của thực tiễn, đòi hỏi chúng ta
phải lục tìm trong kho tàng tri thức của loài người để chắt lọc những tư
tưởng giá trị, góp phần xây dựng lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
5
Trong lịch sử tư tưởng, nhà nước vốn là một chủ đề được các nhà
triết học quan tâm nhất. Từ thời cổ đại, Plato đã mơ ước về một nhà nước
lý tưởng cùng tác phẩm nổi tiếng “Nền Cộng hòa” hay Aristotle với cuốn
sách kinh điển “Chính trị học”;… cho tới các tác phẩm đặt nền tảng cho
khoa học Chính trị học hiện đại như “Quân Vương” của Machiavelli,
“Thủy quái” của Thomas Hobbes, “Khảo luận thứ hai về chính quyền của”
John Locke, “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu, “Bàn về khế ước xã
hội” của Jean-Jacques Rousseau… Qua đó, ta có thể thấy suy tư của các
triết gia thường tập trung vào vấn đề nhà nước là gì, vai trò của nhà nước,
hình thức nhà nước… và câu hỏi “làm thế nào để thiết lập một hình thức
nhà nước đại diện cho mọi người nhằm tổ chức được một xã hội qui củ,
đảm bảo hài hòa các lợi ích vốn rất mâu thuẫn của họ?” vẫn chưa có đáp án
trọn vẹn.
Yêu cầu lý luận và thực tiễn trên đây thôi thúc tôi tìm tòi những tư
tưởng giá trị về nhà nước trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Một nhà tư
tưởng khiến chúng tôi đặc biệt quan tâm là nhà tư tưởng nổi tiếng người
Anh thế kỷ XIX – John Stuart Mill. Những đánh giá tích cực là một cách
khẳng định rõ ràng nhất đối với giá trị trong tư tưởng của ông. Cựu Thủ
tướng Anh William Gladstone đã gọi ông là “vị Thánh của thuyết duy lý”.
J. S. Shapiro, năm 1943, gọi ông là “người phát ngôn hàng đầu của chủ
nghĩa tự do trong thế kỷ 19”. Karl Britton - người viết tiểu sử của Mill,
viết: “Mill tạo nên một ảnh hưởng đến tư duy triết học trong và ngoài nước
mà ít có nhà tư tưởng hàng đầu nào khác có thể vượt qua được”. Leopold
von Wiese, nhà xã hội học Đức, gần đây lại cho rằng: “Trong lịch sử tư
Tác phẩm “Chính thể đại diện” ra đời cách đây gần một thế kỷ rưỡi
và được xếp vào Bộ sách “Great Books of the Western World”. Có nhiều
công trình nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống về quan niệm của John
Stuart Mill, một số công trình được công khai trên mạng Internet toàn cầu
được biết đến là:
7
Luận án Tiến sỹ của John Mercel Robson (Đại học Toronto,
Tháng 12, 1956) với tên đề tài là “The social and political thought of John
Stuart Mill” (Tư tưởng xã hội chính trị của John Stuart Mill) [Tài liệu 59]
cũng có nói đến quan niệm của Mill về Chính phủ song chỉ chiếm một
lượng rất ít trong công trình này. Tác giả chủ yếu đi phân tích những tư
tưởng chính trị xã hội nói chung của Mill như Đạo đức học, Phương pháp
khoa học hay một số vấn đề xã hội khác.
Năm 2002, tác giả Nadia Urbinati, một giáo sư chuyên nghiên
cứu về Lý thuyết chính trị và nghiên cứu về Hy Lạp thuộc Khoa Khoa học
Chính trị của Đại học Comumbia, Hoa Kỳ đã viết cuốn “Mill on
Democracy: From the Athenian Polis to Representative Government”, được
nhà xuất bản Đại học Chicago, Hoa Kỳ xuất bản. Frederick G. Whelan,
người đã viết phần giới thiệu quyển này cho rằng, đây là một nghiên cứu
đầu tiên và mang lại những kiến thức sâu rộng hơn về lý thuyết Dân chủ
của Mill. Ông cũng cho biết, mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về tác phẩm
“Chính thể đại diện” của Mill nhưng mang tính chất chuyên sâu trước đó
chỉ có cuốn “John Stuart Mill and Representative Government” của Dennis
Thompson (1976). Cuốn sách này chủ yếu bàn về Lý thuyết Dân chủ của
Mill, song lại được nghiên cứu so sánh với nền chính trị Atens.
Năm 2001, tác giả Beth E. Warner của Đại học Georgia, Hoa
Kỳ có một bài báo dài 11 trang viết về “John Stuart Mill's Theory of
Bureaucracy within Representative Government: Balancing Competence
and Participation”. Đây là một bài báo nhỏ nhưng cũng đã đề cập đến
trong tác phẩm “Chính thể đại diện” vẫn là một hướng nghiên cứu mới mẻ
mà chúng tôi hy vọng góp phần làm phong phú hơn những nghiên cứu về
hệ thống tư tưởng đồ sộ của nhà tư tưởng vĩ đại này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Làm rõ một số nội dung quan niệm của John Stuart Mill về chính thể
trong tác phẩm “Chính thể đại diện”, từ đó phân tích những giá trị và hạn
9
chế của tư tưởng John Stuart Mill đối với lịch sử tư tưởng cũng như nền
chính trị của nhân loại.
Nhiệm vụ:
Khái quát về tác giả John Stuart Mill và tác phẩm “Chính thể
đại diện”
Phân tích một số nội dung trong quan niệm của John Stuart
Mill về chính thể trong tác phẩm “Chính thể đại diện”.
Chỉ ra những giá trị và hạn chế cơ bản trong quan niệm của
John Stuart Mill về chính thể trong tác phẩm “Chính thể đại diện”.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Quan niệm của John Stuart Mill về chính thể.
Phạm vi: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu các nội dung cơ bản
trong quan niệm của John Stuart Mill về chính thể trong tác phẩm “Chính
thể đại diện” song không cứng nhắc, tách quan niệm này khỏi hệ thống tư
tưởng của ông.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên nền tảng quan điểm của triết học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử để nghiên cứu quan niệm của John Stuart Mill về chính thể, đặc
biệt là cách tiếp cận khách quan, biện chứng. Đồng thời, kết quả nghiên
cứu không tách rời những đánh giá chủ quan của cá nhân tác giả.
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu như phân tích và tổng
hợp, so sánh, logic - lịch sử, hệ thống – cấu trúc, quy nạp, diễn dịch, nghiên
thế kỷ XVIII là do lực lượng sản xuất có bước phát triển mạnh mẽ. Đó là
kết quả của sự kết hợp năm yếu tố chính: Thứ nhất là phát minh máy hơi
nước và sự phát triển của công nghệ dệt may; Thứ hai là nền nông nghiệp
mới cùng sự phát triển về dân số tạo thị trường rộng lớn cho các sản phẩm
công nghiệp; Thứ ba là sự rộng lớn của các thuộc địa của Anh thời kỳ này
là nguồn cung cấp nguyên liệu và thị trường vô cùng dồi dào; Thứ tư là sự
phát triển về hệ thống giao thông vận tải tạo điều kiện thuận lợi cho việc
vận chuyển nguyên nhiên liệu và phân phối sản phẩm; Yếu tố thứ năm là
nguồn vốn thặng dư lớn luôn sẵn sàng cho sự quay vòng sản xuất đã thúc
đẩy nền kinh tế nước Anh phát triển vượt bậc. Cùng với năm yếu tố trên,
phát minh về đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước đầu thế kỷ XIX khiến
cho giao thông trở nên thuận tiện hơn bao giờ hết và lợi thế về địa hình
(Anh không bị ảnh hưởng từ các cuộc chiến tranh ở lục địa, điều này tạo
điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương mại) đã trở thành chất xúc
tác cho cuộc các mạng này. Là một quốc gia được thiên nhiên ưu đãi với
12
lượng than đá khổng lồ và vô số các mỏ sắt, đến năm 1850, Anh đã chiếm
một nửa sản lượng sắt và hai phần ba sản lượng than đá của cả thế giới.
Có nguồn cung cấp lông cừu dồi dào từ Scotland, nhập bông thuận tiện từ
Mỹ lại kết hợp với phát minh về máy cán bông của Eli Whitney (1793) đã
khiến cho nước Anh phát triển nhanh chóng về nông nghiệp.
Như vậy, cuộc cách mạng ở Anh nổ ra và tạo ảnh hưởng vô cùng sâu
sắc tới mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Cuộc cách mạng này khiến cho
mâu thuẫn trong xã hội Anh thời đó ngày càng gia tăng. Cuộc sống và điều
kiện làm việc của người dân cũng như cấu trúc gia đình và xã hội đã có sự
thay đổi lớn.
Xã hội Anh sau thời kỳ cách mạng công nghiệp gặp phải nhiều vấn
đề nan giải. Làn sóng di cư từ nông thôn lên thành thị khiến cho các thành
phố công nghiệp phải đối mặt với ba vấn đề lớn về điều kiện sống, điều
làm việc mười tiếng rưỡi.
Trong tình trạng này, công nhân đã hình thành công đoàn hay những
hiệp hội để hỗ trợ lẫn nhau. Một số phong trào đấu tranh cũng nổ ra song
không đạt được nhiều thành công. Việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ cũng
là một vấn đề quan trọng trong thời gian này bởi họ bị đàn áp và không có
quyền được tham gia vào các công việc xã hội. Nhiều nhà tư tưởng đã lên
tiếng bênh vực cho phụ nữ, ủng hộ quyền bầu cử của phụ nữ… Chính triết
lý của chủ nghĩa tự do đã trở thành cơ sở triết học cho phong trào đòi quyền
đi bầu cử của phụ nữ mà John Stuart Mill là một đại diện.
Để hiểu rõ về những suy tư và kiến giải của Mill trong tác phẩm
“Chính thể đại diện” nói riêng và trong toàn bộ triết học chính trị của ông nói
chung, chúng ta cần có một cái nhìn khái quát về chính trị Anh thời kỳ này.
Có thể nói, đây là thời kỳ mà liên minh tư sản và quý tộc mới ở Anh
đã giành thắng lợi sau cuộc cách mạng tư sản. Từ đây, nhà nước quân chủ
lập hiến được thành lập. Vua mặc dù là người đứng đầu nhà nước song
14
không điều khiển công việc quốc gia mà thực quyền lại thuộc về nghị viên,
trong đó quyền thống trị thuộc về đảng nào chiếm được đa số ghế.
Thượng viện nằm trong tay giới đại quý tộc có uy lực hơn Hạ viện
do dân cử ra. Cuộc bầu cử Hạ nghị viện cũng tiến hành theo những quy tắc
rất hạn chế như trong số 7 triệu dân Anh nhưng chỉ có 25 vạn người có
quyền tuyển cử. Gần một nửa số nghị viên ở Hạ nghị viện là những người
được bầu ra từ những vùng đất ít dân cư mà ở đó việc bầu cử thường diễn
ra theo ý muốn của chúa đất. Tất nhiên, nếu chủ cũ bán vùng đất đó cho
người chủ mới thì người chủ mới ấy lại trở thành nghị viên đại biểu của nơi
đó. Ghế nghị viên được mua đi bán lại, nhà giàu mua chuộc cử tri và có khi
mua cả lá phiếu bầu cử, đây là một vấn đề mà Mill đặc biệt nhấn mạnh khi
ông đưa ra kiến giải cho tình trạng này. Như vậy, quyền chính trị không chỉ
bị tước đoạt ở tầng lớp lao động mà tầng lớp trung gian cũng cùng chung
Cuộc tấn công ở Salford năm 1842
Cuộc tấn công vào lực lượng quân đội năm 1842
Cuộc tấn công vào các trại tế bần ở Stockport năm 1842
Cuộc bạo loạn do tình cảnh đói nghèo ở Galway năm 1842.
[Xem tài liệu 77]
Tóm lại, bối cảnh nước Anh thế kỷ XIX đã ảnh hưởng rất lớn tới
John Stuart Mill – một con người tài hoa, cương quyết đấu tranh cho công
bằng, tự do, dân chủ. Chính sự mâu thuẫn giai cấp giữa tư sản và công
nhân, chính sự khổ cực của người dân lao động, sự đối xử phân biệt đối với
người phụ nữ hay tham vọng mị dân của các chính trị gia thời kỳ này nhằm
thao túng dân chúng và thực hiện sự chuyên quyền của mình đã khiến cho
John Stuart Mill day dứt, băn khoăn. Từ đây, ông đã viết một hệ thống các
tác phẩm mang tính triết học, chính trị, xã hội rất đồ sộ và có giá trị.
1.1.2. Những nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến John Stuart Mill
Nhìn chung, ảnh hưởng của các nhà tư tưởng đi trước đối với sự hình
thành hệ thống triết học chính trị - xã hội John Stuart Mill có thể kể đến
16
như: Jeremy Bentham, James Mill, Wilhelm von Humboldt… Đặc biệt,
xem xét dưới hệ thống quan điểm của John Stuart Mill trong tác phẩm
“Chính thể đại diện” mà phạm vi nghiên cứu là quan niệm về Chính thể của
ông thì không thể không kể đến ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc của các nhà tư
tưởng: Saint Simon (1760 - 1825); Taylor Coleridge (1772 - 1834); August
Comte (1789 - 1857) và Alexis Tocqueville (1805 - 1859).
Trước hết, tác giả luận văn đi phân tích những nét tư tưởng chính
của những nhà tư tưởng tiền bối có ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tư
tưởng John Stuart Mill.
Jeremy Bentham (1748 – 1832) là một nhà triết học đồng thời là một
luật gia. Ông giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử văn hóa tinh thần Anh.
Bentham được biết đến là người xây dựng quan điểm vị lợi chủ
S. Mill coi trọng chất lượng hơn thì Bentham lại quan tâm tới sự chính xác
về số lượng của sự thỏa mãn.
Về công bằng, Bentham cho rằng, từ này không có nghĩa khi nó
không được gắn liền với hành vi hiện thực của những cá nhân cụ thể. Ông
cũng cho rằng nhiều khái niệm chung chung như “sở hữu”, “hôn nhân”,
“nguyên tắc” chỉ được sử dụng để che đậy những sở thích nhất định. Ông là
người chống lại các nguyên tắc đạo đức trừu tượng.
Có thể nói, một mặt Bentham là người bảo vệ chủ nghĩa cá nhân bởi
ông đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong sự thỏa mãn hay đau khổ của họ.
Mặt khác, tính vị lợi theo quan niệm của Bentham không đồng nhất với
mức độ thỏa mãn của cá nhân trong sự gắn liền với các hoạt động xã hội
rộng lớn. Những quan niệm số học về khoái lạc hay coi sự thỏa mãn về thể
chất cũng giống như tinh thần là những điểm yếu ở Bentham mà sau này
được Mill khắc phục. Khi còn trẻ, Mill ảnh hưởng rất nhiều từ Bentham.
Tuy nhiên, khi tiếp xúc với các nhà tư tưởng Pháp và một số nhà tư tưởng
Anh tiền bối, ông đã có những ý nghĩ khác xa so với Bentham, đặc biệt là
trong quan niệm về chất lượng khoái lạc. Mặc dù tiến bộ về nhiều mặt so
18
với Bentham nhưng chúng ta cũng không thể không thừa nhận ảnh hưởng
mạnh mẽ từ nhà tư tưởng này tới John Stuart Mill.
Người có ảnh hưởng lớn thứ hai được kể đến là cha của J. S. Mill –
James Mill (1773 – 1836). James Mill là bạn và đồng thời cũng là người
ủng hộ cho học thuyết của Bentham. James Mill đã áp dụng cho con trai
mình (tức J. S. Mill) một nền giáo dục khắt khe dựa theo nguyên tắc tâm lý
học liên tưởng của Bentham. Bản thân John Stuart Mill đã phải cố gắng để
phù hợp với hệ thống giáo dục của cha mình, song J. S. Mill vẫn không
tránh khỏi một thời gian mắc bệnh trầm cảm. Thêm nữa, cũng bởi nền giáo
dục này mà chính tư duy của Mill khi ông còn trẻ cũng không được phát
triển tự do.
tư tưởng của John Stuart Mill.
Nếu như Saint-Simon cho rằng, việc nói về tự do và dân chủ sẽ chỉ
làm chúng ta sao nhãng những vấn đề thực tế thì Mill lại nghiên cứu về
những chủ đề này như trong truyền thống nhiều nhà tư tưởng đã từng nghiên
cứu (như Locke, Montesquieu, Russeau…sẽ được nhắc đến ở phần sau).
Trong các công trình của mình, Mill đưa ra những quan niệm về xã hội như
là một tổ chức phức tạp và cố gắng phân tích, mổ xẻ nó. Chịu ảnh hưởng của
Simon khi cho rằng lịch sử loài người là một quá trình tiến hóa không
ngừng, chế độ sau tiến bộ hơn chế độ trước, Mill cũng coi xã hội như một
hiện tượng lịch sử mà sự hình thành và phát triển là cả một quá trình lâu dài,
biến đổi qua mỗi giai đoạn khác nhau. Mill gặp Simon vào đúng lúc Simon
được trắng án sau nghi ngờ có liên quan đến vụ ám sát Công tước Berry.
Trước đó, Mill đã được tiếp cận một tác phẩm nổi tiếng - The Parable (Tạm
dịch là Dụ ngôn) của Simon với những giả thuyết và cách lập luận riêng
nhằm khẳng định rằng, xã hội bao gồm nhiều tầng lớp khác nhau, đó là: Lớp
dưới cùng là những người nông dân và công nhân nhà máy; Lớp trung lưu là
các nhà khoa học, triết học hay các nhà công nghiệp; Lớp trên cùng là các
chính trị gia cùng các sĩ quan quân đội. Theo Simon, tầng lớp trung lưu đóng
20
vai trò quan trọng và khó bị thay thế còn những người ở tầng lớp trên cùng
mặc dù chiếm phần lớn của cải và quyền lực nhưng lại đóng góp cho xã hội
ít nhất. Ông coi đó là một “Xã hội lộn ngược”. Vì thế, nhà tư tưởng người
Pháp này cho rằng, một xã hội được kiểm soát bởi những nhà khoa học, nhà
công nghiệp sẽ tốt đẹp hơn. Quan niệm này về xã hội đã ảnh hưởng nhiều
đến nhà tư tưởng Anh J. S. Mill, đặc biệt là về tính thay đổi, tính lịch sử của
xã hội khiến Mill rút ra được những cách tiếp cận mới so với Bentham và
người cha James Mill của ông.
Tiếp theo phải kể tới một nhân vật được Mill nhắc đến khá nhiều
trong các tác phẩm của mình, đó là Samuel Taylor Coleridge (1772 - 1834).
của Comte trở thành cơ sở lý luận cho sự phát triển tư tưởng của nhiều nhà
tư tưởng về sau, đặc biệt là John Stuart Mill.
Comte quan niệm rằng, xã hội là một hệ thống có cấu trúc gồm cá
nhân, gia đình và các tổ chức xã hội. Ông cũng là người nghiên cứu chuyên
sâu về thuyết thực chứng. Comte và Mill có một tình bạn khá thân thiết. Cả
hai ông đã có thời gian nghiên cứu cùng nhau về “Tôn giáo nhân văn” mới
(a new "religion of humanity”). Mặc dù Mill tiếp thu ở Comte phần lớn về
phương pháp thực chứng song ông cũng có những sự khác biệt thể hiện lập
trường triết học riêng của mình. Nếu như Comte quan niệm rằng xã hội học
là khoa học sử dụng các phương pháp khoa học thực chứng để xây dựng và
phát triển một khoa học mới mẻ mà ông gọi là Xã hội học hay Vật lý học
xã hội. Bởi, Comte coi xã hội học cũng giống khoa học tự nhiên như vật lý
học, sinh vật học trong việc vận dụng các phương pháp luận nghiên cứu để
tìm hiểu bản chất của xã hội. Trong lý luận về nhà nước của mình, Comte
cho rằng, ngoài sự phụ thuộc lẫn nhau thì việc tập trung quyền lực vào tay
nhà nước cho phép điều hòa, phối hợp và liên kết các bộ phận của hệ thống
xã hội đảm bảo chống lại sức ép của sự phân hóa và phân rã xã hội. Mặt
khác, trên cơ sở công nhận vai trò của nhà nước, Comte cũng cho rằng yếu
tố trí tuệ và đạo đức, tình cảm của các thành viên xã hội đóng vai trò là
nhân tố duy trì sự liên kết giữa các cá nhân và giữ gìn trật tự xã hội.
22
Trong khi rơi vào cuộc khủng hoảng tinh thần năm 20 tuổi, Mill đã
đọc rất nhiều tác phẩm của Comte. Một mặt tán thành với ý đồ xây dựng
một khoa học chung cho toàn nhân loại của Comte nhưng Mill cho rằng
Kinh tế nên được nghiên cứu như một khoa học riêng biệt. Ngoài ra, Mill
cũng đi một hướng khác với Comte khi ông quan niệm, trong lĩnh vực xã
hội không nên chỉ dựa vào phương pháp kinh nghiệm hay quy nạp bởi lẽ
các hiện tượng xã hội rất phức tạp và đan xen với nhau nên cần có những
phương pháp đặc thù khác để phân biệt chúng với nhau. Tại điểm này, Mill
chấp nhận. Cuốn sách được coi là kinh điển của ông chỉ được nước Anh
hưởng ứng, những người thừa nhận và nghiên cứu nghiêm túc trong đó có
John Stuart Mill.
Cụm từ được Tocqueville nhắc đến mà sau này là Mill sử dụng khá
phổ biến đó là “chuyên chế của đa số”. Không giống như trong chế độ độc
tài, quyền tự do tín ngưỡng trong xã hội dân chủ được ủng hộ mạnh mẽ.
Tuy nhiên, nó cũng có mặt trái, bởi không bị chuyên quyền áp đặt nên dễ
xảy ra có nhiều tranh cãi, bất đồng ý kiến mà phần thắng thường thuộc về
đa số. Chính ở điểm này, Mill bị ảnh hưởng từ Tocqueville nhưng Mill lại
đưa ra một đề nghị khác vị tiền bối của mình về việc ngăn ngừa hay hạn
chế sự chuyên chế của đa số.
Với “Nền dân trị Mỹ”, Tocqueville cho rằng sự giảm bớt một số hoạt
động của chính quyền trung ương sẽ là một cách thức để chống lại sự
chuyên chế của đa số. Nghĩa là, phần việc của chính quyền trung ương sẽ
được chia sẻ bớt cho các cơ quan địa phương thực hiện. Điều này đã khiến
Mill trầm tư ít nhiều bởi ở Anh thời đó, theo ông, các chính quyền địa
phương đang tồn tại một cách hỗn độn, thiếu sự rõ ràng và chuyên nghiệp.
Tocqueville cũng cho rằng, những truyền thống và sự chuyên nghiệp
trong lập pháp một mặt bảo vệ vững chắc những lý do để hình thành luật.
Mặt khác, khi nó được lan rộng và thừa nhận sâu rộng trong xã hội thì nó
lại trở thành yếu tố gây trở ngại đối với những suy nghĩ độc đáo, khác biệt
so với những bộ óc bình thường và gây khó khăn để áp dụng những ý
24
tưởng mới mẻ. Do ảnh hưởng từ sự phân tích của Tocqueville về nền văn
hóa Hoa Kỳ mà về sau, Mill đã suy nghĩ về mối nguy hiểm của dân chủ
chính là sự khác biệt của đa số sẽ đàn áp cá nhân hay thiểu số.
Như vậy, với tác phẩm “Nền dân trị Mỹ” nổi tiếng cùng quãng đời
hoạt động chính trị theo lập trường dân chủ của mình, Alexis de
Tocqueville đã ảnh hưởng đến Mill – nhà tư tưởng người Anh, nơi duy nhất
nhận được những kế hoạch học tập và sự giáo dục từ người cha. Cha Mill
đã dạy ông với một chương trình rất nghiêm khắc. Học vấn của ông bắt đầu
từ tiếng Hy Lạp và môn số học từ năm 3 tuổi, đến năm 13 tuổi, ông đã có
được kiến thức tương đương với chương trình đại học toàn phần.
Chỉ mới 8 tuổi, Mill đã đọc “Các truyện ngụ ngôn Hy Lạp” của
Aesop, “Cuộc viễn chinh (Anabasis)” của Xenophon và toàn bộ các tác
phẩm của Herodotus. Ông đã làm quen với các tác phẩm của nhà văn trào
phúng Lucian, nhà lịch sử triết học Diogenes Laertius, nhà văn Isocrates và
6 hội thoại của Plato. Ngoài ra, Mill cũng dành thời gian đọc cẩn thận và kỹ
lưỡng nhiều tác phẩm lịch sử bằng tiếng Anh. Cũng ngay từ khi 8 tuổi, ông
đã bắt đầu học tiếng Latin, hình học Euclid, đại số và dạy học cho các em
của mình. Lĩnh vực quan tâm chính của ông là lịch sử, ông đã học qua tất
cả các tác giả Hy Lạp và La Mã thường được dạy ở trường, ông đã đọc
được các tác phẩm của Plato và Demosthenes một cách dễ dàng khi chỉ mới
10 tuổi. Bước sang tuổi 12, ông bắt đầu nghiên cứu sâu về logic trong triết
học kinh viện, đồng thời đọc các luận thuyết logic của Aristote. Trong
những năm tiếp theo, ông bắt đầu học kinh tế chính trị, nghiên cứu các tác
phẩm của Adam Smith và David Ricardo. Trên thực tế, Mill chịu ảnh
hưởng nhiều của James Mill, nhưng điều này đã khiến ông luôn bị mâu
thuẫn trong tư duy bởi những suy nghĩ khác biệt so với cha mình. Bởi vậy
trong ông luôn có những ràng buộc về tư tưởng và sự phát triển tư duy
thiếu tự nhiên. Thực chất, đây chính là kết quả của cách giáo dục mà James
Mill áp dụng theo nguyên tắc tâm lý học liên tưởng của Bentham.