triết học chính trị của john stuart mill giá trị và bài học lịch sử - Pdf 23


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
  

NGÔ THỊ NHƯ

TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ CỦA JOHN STUART MILL -
GIÁ TRỊ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ

Chun ngành: Lịch sử Triết học
Mã số: 62.22.80.01
TĨM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2012


3. Bài viết “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện
nay”, Hội thảo Quán triệt, vận dụng nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ XI vào việc giảng dạy các môn lý luận chính trị trong các trường
đại học và cao đẳng, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh và Đại học Quốc gia
Hà Nội đồng tổ chức, Tp. Hồ Chí Minh, ngày 10/6/2011.
4. Bài viết “John Stuart Mill với Bàn về tự do”, tạp chí Triết học (Viện
Triết học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), số 11 (246) năm 2011.
5. Bài viết “Phát huy vai trò phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH”,
Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Phát triển nhanh nguồn nhân lực - Bước đột phá
chiến lược ở nước ta hiện nay, Khoa Lý luận chính trị (Trường ĐH Ngoại
thương) tổ chức, Hà Nội, ngày 8/6/2012.
6. Bài viết “John Stuart Mill với phong trào đòi bình quyền cho phụ nữ”,
tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới (Viện Gia đình và Giới - Viện Khoa học Xã
hội Việt Nam), số 3 (22) năm 2012.
7. Bài viết “Đạo đức học công lợi của John Stuart Mill”, tạp chí Khoa học
Xã hội (Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ - Viện Khoa học Xã hội Việt
Nam), số 5 (165) năm 2012.
8. Bài viết “Vai trò của tư duy phê phán trong việc nâng cao hiệu quả học
tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học sinh viên
trường ĐH Ngoại thương năm 2012, Hà Nội, ngày 9/11/2012.

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lĩnh vực chính trị là một trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống xã
hội, chiếm vị trí quan trọng và có sự chi phối đến các lĩnh vực khác. Qua mỗi
giai đoạn lịch sử nhất định, lĩnh vực chính trị luôn vận động cùng với sự vận
động của xã hội loài người, và được khái quát hóa thành tri thức lý luận tổng
quát, thành các học thuyết, khuynh hướng, trào lưu triết học chính trị. Như thế,
triết học chính trị vừa là sự phản ánh của thực tiễn chính trị sinh động, vừa bao

thể chế chính trị pháp quyền giai đoạn hiện nay, trong đó có Việt Nam. Thực tế
cho thấy rằng, chỉ có thể dựa trên sự kế thừa tinh hoa triết học chính trị thế giới
thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại sẽ trở nên hiệu lực hơn và tránh
được những hạn chế đang tồn đọng.
Thêm nữa, bối cảnh thế giới hiện nay vẫn đang chứa đựng những vấn đề
bất ổn như: xung đột lợi ích giữa các quốc gia không thể tránh khỏi, mối quan hệ
cá nhân - xã hội nảy sinh những tình huống mới, tình trạng vi phạm quyền tự do
cá nhân chưa chấm dứt, … Đặt triết học chính trị của J.S.Mill trong mối liên hệ
với bối cảnh hiện thời mới thấy rằng triết học của ông vẫn mang tính thời sự rõ
nét. Những vấn đề về mối quan hệ giữa các dân tộc, về tự do cá nhân và bình
đẳng giới, về vai trò của giáo dục, … mà J.S.Mill đã từng bàn đến vẫn còn nhiều
giá trị thực tiễn đối với không riêng Việt Nam mà còn với các quốc gia khác. Có
lẽ, thời đại ngày nay vẫn có thể tìm thấy được trong triết học chính trị J.S.Mill
những bài học lịch sử đắt giá và sâu sắc.
Xét mặt hạn chế, triết học chính trị của J.S.Mill vẫn thể hiện lập trường
giai cấp tư sản, là học thuyết bảo vệ trật tự xã hội tư sản. Dẫu chưa thể đoạn
tuyệt hẳn với một số hạn hẹp có tính lịch sử, nhưng điều đó hoàn toàn không
ngăn J.S.Mill trở thành nhà tư tưởng dũng cảm, táo bạo, mới mẻ và tiến bộ trong
lịch sử tư tưởng triết học. Do đó, nghiên cứu triết học chính trị J.S.Mill là công
việc nhằm chắt lọc những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại.
Đổi mới và phát triển tư duy là một quá trình liên tục, phải luôn cần có
yếu tố kế thừa. Như Ph.Ăngghen đã viết: “Một dân tộc muốn đứng vững trên

3
đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận … Nhưng tư duy lý
luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thôi.
Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho
tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời
trước” [28, tr.489, 487].
Xuất phát từ những ý nghĩa nêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài

Bên cạnh Lịch sử triết học và các luận đề, thì quyển Câu chuyện triết học
của Bryan Magee (Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2003, Huỳnh Phan Anh và Mai Sơn
dịch) là một tác phẩm thành công khi thể hiện lịch sử triết học như một dòng
chảy từ cổ đại đến hiện đại. Với cách trình bày đó, J.S.Mill xuất hiện trong phần
viết về các triết gia thuyết công lợi. Vì trình bày lịch sử triết học một cách khái
quát nên quyển sách khó có thể chuyên sâu nghiên cứu tư tưởng của J.S.Mill.
Nhập môn triết học phương Tây (Samuel Enoch Stumf, Donal C.Abel,
Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2004, Lưu Văn Hy biên dịch) cũng là một tài liệu
chuyên sâu nghiên cứu triết học. Không viết về triết học như một dòng chảy lịch
sử, quyển sách đã nghiên cứu triết học thông qua các luận đề (như triết học về
tôn giáo, triết học về tri thức, đạo đức học, triết học chính trị và xã hội, siêu hình
học, bản ngã cá nhân và sự bất tử). Ở cả hai luận đề về đạo đức học và triết học
chính trị, J.S.Mill đều được bàn luận đến. Song, sự phân tích đối với các quan
điểm của ông vẫn chưa thực sự sâu sắc.
Về tài liệu tiếng nước ngoài, The liberal self: John Stuart Mill’s moral
and political philosophy (Wendy Donner, Cornell University Press, London,
1991) là một trong những quyển sách bàn luận khá cụ thể về J.S.Mill cùng
những quan điểm, tư tưởng của ông. Trong khi trình bày về tư tưởng của
J.S.Mill, tác giả W.Donner luôn đặt J.S.Mill trong mối liên hệ đối chiếu với
J.Bentham. Quyển sách đã chỉ ra một luận điểm quan trọng rằng: “Vấn đề tự do
và phát triển cá nhân là một trong những chủ đề phổ biến nhất của triết học

5
chính trị và triết học đạo đức của J.S.Mill”
1
. Song, tác phẩm The liberal self vẫn
nghiêng về trình bày quan điểm đạo đức công lợi của J.S.Mill còn tư tưởng
chính trị của ông thì mờ nhạt hơn.
Cũng chủ yếu bàn về tư tưởng đạo đức công lợi của J.S.Mill, nhưng Since
Socrate của các tác giả R.Solomon và C.Martin, (Thomson Wadsworth press,

Do đó, có thể xem luận án này là sự nỗ lực đầu tiên trong việc trình bày và
hệ thống hóa triết học chính trị của J.S.Mill. Và cũng vì thế, quá trình nghiên
cứu để hoàn thành luận án không thể tránh khỏi những khó khăn, những thiếu
sót nhất định.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án
Trình bày triết học chính trị J.S.Mill với tư cách một hệ thống, đánh giá
những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của hệ thống triết học này; từ đó, gợi
mở và liên hệ đến một số vấn đề thực tiễn của xã hội đương đại.
Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát cuộc đời và sự nghiệp của J.S.Mill, trong đó nêu bật
lên sự hình thành triết học chính trị của ông.
Thứ hai, trình bày và phân tích nội dung cơ bản trong triết học chính trị
J.S.Mill.
Thứ ba, phân tích những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của triết học
chính trị J.S.Mill
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu nội dung cơ bản trong triết học chính trị của
J.S.Mill. Mặc dù sự nghiệp sáng tác của J.S.Mill rất phong phú với một khối
lượng không nhỏ các tác phẩm, nhưng triết học chính trị của ông được thể hiện
tập trung nhất trong Bàn về tự do và Chính thể đại diện. Do đó, khi trình bày về
triết học chính trị của J.S.Mill, luận án chủ yếu khảo cứu những tác phẩm này.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận án
còn kết hợp phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy
nạp - diễn dịch, phương pháp so sánh, đối chiếu.

7

8
Chương 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL

1.1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC
CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL
1.1.1. Điều kiện lịch sử hình thành triết học chính trị John Stuart Mill
John Stuart Mill (1806 - 1873) là triết gia và nhà hoạt động chính trị nổi
tiếng nước Anh thế kỷ XIX. Tư tưởng của J.S.Mill mang đậm dấu ấn thời đại
mình. Đầu thế kỷ XIX, Anh đã trở thành một nước công nghiệp thực thụ. Đặc
biệt, cách mạng công nghiệp đã tạo điều kiện ra đời giai cấp mới là giai cấp
công nhân. Trên thực tế, đời sống công nhân rất khó khăn, khổ cực và bị bóc lột
nặng nề bởi chủ xưởng. Tình trạng đó khiến giai cấp công nhân có những đòi
hỏi rất bức thiết về quyền lợi kinh tế cũng như quyền lợi chính trị.
Ngược lại với sự bần cùng hóa của giai cấp công nhân lao động nghèo khổ
là quá trình giàu lên nhanh chóng của những chủ xưởng, hay những ông chủ tư
bản. Sự đối nghịch đó tạo nên những mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội tư bản Anh,
cũng như xã hội tư bản phương Tây. Tình hình kinh tế - xã hội đã tạo điều kiện
và tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị Anh quốc thế kỷ XIX.
Chính trị nước Anh thế kỷ XIX được gọi là thời đại cải cách nghị viện.
Hai lần cải cách nghị viện thế kỷ XIX (1832,1867) đã làm thay đổi rất nhiều tình
hình chính trị nước Anh. Cũng chính những lần cải cách nghị viện đã thu hút
được sự quan tâm lớn của cha, con James Mill và J.S.Mill.
1.1.2. Tiền đề lý luận hình thành triết học chính trị John Stuart Mill
Những tiền bối trực tiếp tác động đến tư tưởng của J.S.Mill là John Locke,
người cha James Mill, nhà đạo đức học Jeremy Bentham, nhà kinh tế học David
Ricardo, nhà triết học thực chứng August Comte. Về mặt siêu hình học, J.S.Mill
kế thừa quan điểm của George Berkeley và David Hume.
John Locke (1632 - 1704) là một triết gia nổi tiếng của Anh thế kỷ XVII,

chứng vượt lên khỏi khuôn khổ thực chứng xã hội học. Với J.S.Mill, chủ nghĩa
thực chứng được triển khai theo phương án Anh, và được nhấn mạnh ở khía

10
cạnh triết học chính trị. J.S.Mill nhấn mạnh tự do cá nhân (individual liberty),
còn A.Comte nhấn mạnh tính thống nhất xã hội (social solidarity).
Ở lĩnh vực triết học chính trị thế kỷ XIX, nếu như J.S.Mill là đại diện cho
triết học Anh thì triết học Pháp có đại diện là Alexis de Tocqueville.
A.Tocqueville (1805 - 1859) được biết đến nhiều nhất qua tác phẩm Nền dân trị
Mỹ. Năm 1835, J.S.Mill đã đọc tác phẩm của A.Tocqueville và đặc biệt quan
tâm đến những lập luận của tác giả Tocqueville về các trở ngại cũng như triển
vọng của một chính thể dân chủ.
Về mặt thế giới quan, triết học J.S.Mill thể hiện rõ lập trường duy cảm
luận, từ sự ảnh hưởng bởi một số triết gia như George Berkeley, David Hume.
Ông cho rằng, cảm giác là tòa nhà chứa đựng hiểu biết của con người về thế giới
khách quan. Nói cách khác, những khả năng của cảm giác cấu thành nên thế giới
khách quan.
1.2. QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp của John Stuart Mill
John Stuart Mill sinh ngày 20 tháng 5 năm 1806 tại Pentonville, London,
nước Anh. Ngay từ nhỏ, ông đã được giáo dục bởi chính cha mình, James Mill,
người đề ra cho ông một chương trình học nghiêm khắc. Đến năm 13 tuổi,
J.S.Mill đã có kiến thức tương đương với chương trình đại học toàn phần.
Năm 1826, khi 20 tuổi, J.S.Mill rơi vào tình trạng khủng hoảng và suy sụp
tinh thần. Sau khi bình phục, J.S.Mill trở lại công việc viết báo. Ông thường
cộng tác với những tờ báo có thiện cảm với khuynh hướng cấp tiến, nhằm thảo
luận các vấn đề xã hội đương thời.
Toàn bộ sự nghiệp của ông gắn liền với một khối lượng đồ sộ những công
trình nghiên cứu, tác phẩm, bài luận, bài báo. Trong các trước tác của J.S.Mill
thì Bàn về tự do, Chính thể đại diện và Chủ nghĩa công lợi là ba tác phẩm được

Giai đoạn thứ ba - giai đoạn hoàn thiện triết học chính trị J.S.Mill
Đây là giai đoạn từ khi công bố tác phẩm Bàn về tự do cho đến cuối đời.
Điểm nổi bật dễ nhận thấy nhất của giai đoạn này chính là sự ra đời hàng loạt 2
“They dream of the commonwealth of Western nations where the libertarian tradition of England and that of
the French revolution might merge”.
The correspondence of J.S.Mill and Auguste Comte, (1995), translated from the French by Oscar A. Hacc,
with a foreword by Oscar A. Hacc and an introduction by Angele Kremer-Marietti, Transaction publishers New
Brunswick, (at Website books.google.com.vn), p. xxiii-xxiv.

12
các tác phẩm triết học đặc sắc nhất của ông, như Bàn về tự do, Chính thể đại
diện, Chủ nghĩa công lợi, Sự áp bức phụ nữ. Trong những tác phẩm này,
J.S.Mill đã trình bày một cách hệ thống và sâu sắc về các vấn đề triết học chính
trị, với một nhãn quan khoa học và một tâm huyết thực sự.
Ở Bàn về tự do, J.S.Mill đã phân tích một cách sâu sắc về quyền tự do cá
nhân, để từ đó bình dẫn mối quan hệ giữa tự do cá nhân và xã hội. Tư tưởng
triết học chính trị đặc sắc của ông được nối tiếp bằng những chú giải tỉ mỉ về
chính thể, về quyền lực nhà nước, về dân chủ trong tác phẩm Chính thể đại diện.

Chương 2
NỘI DUNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL
2.1. VẤN ĐỀ TỰ DO TRONG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL
2.1.1. Vấn đề tự do cá nhân
Tự do cá nhân là một vấn đề rất quan trọng trong triết học chính trị của
J.S.Mill. Ông đã phân tích quyền tự do của con người qua ba vấn đề cơ bản:
quyền tự do tư tưởng và thảo luận, quyền tự do sắp đặt cuộc sống, quyền tự do
lập hội. J.S.Mill đã khảng khái bảo vệ tự do cá nhân từ luận điểm xuất phát là

rộng tiếp nối từ chủ nghĩa tự do của ông. Lời kêu gọi của J.S.Mill cho bình đẳng
nam nữ cũng chính là tiếng nói ủng hộ các quyền tự do cá nhân chính đáng của
nữ giới. Tự do sẽ mang lại cho người phụ nữ món quà về “sự ý thức trong việc
sẽ điều khiển vận mệnh của chính mình bằng chính trách nhiệm đạo đức cá
nhân”
3
. Giải phóng phụ nữ không chỉ đem lại lợi ích cho chính họ, mà còn đem
lại những lợi ích tích cực cho nam giới và là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
Đồng thời với sự thừa nhận bình đẳng giới tính, J.S.Mill cũng đã đưa ra
những hình thức khẳng định quyền bình đẳng ấy. Thứ nhất, J.S.Mill muốn xóa
bỏ khoảng cách giới tính ngay trong phạm vi gia đình. Thứ hai, một trong
những biện pháp quan trọng hướng tới sự giải phóng phụ nữ chính là cải thiện
giáo dục, để phụ nữ có cơ hội phát triển như nam giới. Sau cùng, trong các hình 3
“… the consciousness of working out their own destiny under their own moral responsibility …”.
J.S.Mill (1984), The Collected Works of J.S.Mill - 33 volumes, University of Toronto Press (Canada), Routledge
& Kegan Paul (London - England), vol 21, p. 337.

14
thức khẳng định quyền bình đẳng nữ giới, J.S.Mill xem bình đẳng cho phụ nữ
trong chính trị là hình thức quan trọng nhất. Ông thường sử dụng vị trí của
mình trong nghị viện để yêu cầu quyền bầu cử cho nữ giới.
2.2. CHÍNH THỂ VÀ QUYỀN LỰC HỢP THÀNH CHÍNH THỂ TRONG
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL
2.2.1. Tiêu chuẩn đánh giá hình thức chính thể
J.S.Mill khẳng định: “ các thiết chế chính trị là sản phẩm của con người,
có nguồn gốc và toàn thể sự tồn tại nhờ cậy vào ý chí của con người”
4

hành pháp thể hiện chức năng thực thi. J.S.Mill đặc biệt nhấn mạnh tầm quan
trọng của việc phân định chức năng giữa các ban ngành. Việc phân loại chức
năng từng ban ngành phải phù hợp từng đối tượng, nhưng không nên có nhiều
ban ngành độc lập với nhau. Đồng thời, giữa các ban ngành cũng cần một sự rành
mạch về trách nhiệm. Bên cạnh đó, J.S.Mill còn rất coi trọng việc xác định trách
nhiệm cá nhân. Ông lưu tâm đến chức vụ bộ trưởng và xây dựng tầng lớp công
chức chuyên nghiệp.
J.S.Mill không bàn nhiều đến cơ quan tư pháp trong các bộ phận cấu
thành nên chính thể đại diện. Tuy nhiên, ông vẫn chú trọng đến chức năng xét
xử của nó như một chức năng độc lập để góp phần tạo nên giá trị của toàn bộ hệ
thống chính thể. Ông cho rằng, tính ưu tú của nền hành chính tư pháp là sự phức
hợp giá trị của những viên chức cấu thành nên các tòa án.
Trong hệ thống chính trị, J.S.Mill chủ trương thiết lập các cơ quan đại
diện địa phương để mọi người có cơ hội phát huy quyền làm chủ thực sự với tư
cách là một công dân trong xã hội. Việc xác định trách nhiệm của chính quyền
trung ương đối với chính quyền địa phương cũng là một cách để hoàn thiện bộ
máy nhà nước theo hướng chuyên môn hóa, tri thức hóa và lợi ích hóa.
2.2.3. Dân chủ với quyền bầu cử
J.S.Mill không tập trung bàn về phạm trù dân chủ ở khía cạnh thuần túy
khái niệm. Điều mà J.S.Mill quan tâm là bản chất cốt lõi của nền dân chủ, để từ
đó phân biệt dân chủ thực sự và dân chủ giả hiệu. Dân chủ thực sự đồng nghĩa
với sự bình đẳng của tất cả mọi công dân. Còn dân chủ giả hiệu là sự thiên vị
cho đa số số học.
Để có thể hiện thức hóa một chính thể dân chủ thực sự mà mọi ý kiến đều
được lắng nghe, J.S.Mill khẳng định cần phải mở rộng hơn nữa quyền bầu cử.

16
Tất nhiên, đối với J.S.Mill, quyền bầu cử chỉ nên mở rộng cho tất cả mọi người
đủ tuổi, đủ điều kiện và thực sự mong muốn có quyền đó.
Trên cơ sở đề cao giáo dục trí tuệ cũng như trình độ học vấn của công

giá trị đặc sắc cho triết học chính trị của ông. Chúng là những điểm son còn sáng
mãi, thu hút sự quan tâm của những ai nghiên cứu triết học chính trị J.S.Mill.
Giá trị của tư tưởng chính thể đại diện
Triết học chính trị J.S.Mill, cụ thể là tư tưởng chính thể đại diện, thể hiện
tính biện chứng. Ông đã dành rất nhiều tâm huyết trong quan điểm triết học lịch
sử. Những ý tưởng và thể chế có thể phù hợp với thời đại này, nhưng lại trở nên
dư thừa và cần được thay thế trong thời kỳ kế tiếp. Do đó, sự thay thế và biến
đổi giữa các hình thức chính thể là một điều tất yếu và cần thiết cho sự phát triển
xã hội.
Đối với hình thức chính thể đại diện, giữa các cơ quan quyền lực luôn tồn
tại mối liên hệ tất yếu về điều phối vai trò, chức năng và nhiệm vụ. Nếu sự điều
phối giữa cơ quan lập pháp - cơ quan hành pháp - cơ quan tư pháp thể hiện sự
hợp lý, thích ứng với thực tiễn thì sức mạnh của thể chế chính trị sẽ được phát
huy. Ngược lại, nếu giữa chúng xuất hiện sự lấn át lẫn nhau thì nền chính trị của
một quốc gia trở nên bất cập và khập khiễng.
J.S.Mill không phải là nhà triết học đầu tiên đưa ra thiết kế phân chia ba
quyền. Lịch sử triết học chính trị cho thấy rằng, tư tưởng về phân chia quyền lực
bắt đầu được manh nha từ giai đoạn cận đại trong triết học phương Tây gắn với
đóng góp của J.Locke. Sau đó, tư tưởng phân quyền chỉ thực sự trở thành học
thuyết hoàn chỉnh khi Montesquieu công bố tác phẩm Tinh thần pháp luật. Đến
lượt mình, J.S.Mill đã tiếp thu và ủng hộ học thuyết phân quyền đã được đề ra
bởi các triết gia đi trước; từ đó, ông đề cao mô hình chính thể đại diện.
3.1.2. Hạn chế của triết học chính trị John Stuart Mill
Hạn chế ở tính chủ quan và thiếu nhất quán
J.S.Mill cho rằng, cần hạn chế quyền lực của nhà nước và gia tăng quyền
tự do cá nhân vì có những sự việc cá nhân thực hiện sẽ tốt hơn chính phủ thực

18
hiện. Quan điểm này của ông đã lý tưởng hóa phẩm chất cá nhân theo hướng
một chiều. Thế nên, nguyên tắc tự do mà ông nêu lên ít nhiều chứa đựng yếu tố

Mặc dù J.S.Mill từng phê phán rất nhiều mặt trái của nền kinh tế công
nghiệp, nhưng ông vẫn tin vào khả năng của nền kinh tế tư bản sẽ nuôi dưỡng
những chuẩn mực sống, những cơ hội đang mở rộng. Và với ông, càng khó khăn
hơn để biện luận cho chủ nghĩa xã hội khi mà chủ nghĩa tư bản nói chung là
phân phát nhiều tiền hơn, nhiều lựa chọn hơn và tưởng chừng nhiều tự do hơn.
3.2. BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL
3.2.1. Bài học về phát huy vai trò của giáo dục
Trong triết học chính trị của J.S.Mill, vấn đề tự do và vấn đề xây dựng nền
giáo dục có mối quan hệ mật thiết với nhau. Giải phóng con người ra khỏi
những tập quán giáo điều, phát triển con người như một thực thể tự do là đích
đến trong triết học chính trị của ông. Ngay giữa thế kỷ XIX, J.S.Mill đã khẳng
định: “phổ cập giáo dục phải đi trước phổ thông đầu phiếu”
5
.
Nền giáo dục sâu rộng không những vì mục đích phát triển của con người
cá nhân, mà còn nhằm hướng đến lợi ích của xã hội, cụ thể là xây dựng thể chế
chính trị của xã hội đó. J.S.Mill xem giáo dục trí tuệ và tình cảm cho dân chúng
vừa là cơ sở bảo đảm, vừa là mục tiêu của hình thức chính thể dân chủ.
Ngày nay, nhân loại đang bước vào một nền văn minh mới - văn minh trí
tuệ, một nền kinh tế mới - kinh tế tri thức, một trình độ xã hội mới - xã hội thông
tin. Do đó, giáo dục càng trở nên quan trọng. Thiết nghĩ, triết lý giáo dục trong
triết học chính trị J.S.Mill là một bài học lịch sử nhân văn và ý nghĩa đối với các
quốc gia hiện nay, trong đó có Việt Nam.
Đối với Việt Nam hiện nay, đổi mới giáo dục là một vấn đề mang tính cấp
thiết. Đổi mới giáo dục không phải chỉ là thay đổi sách giáo trình hay thay đổi
hình thức thi cử, không chỉ là thay đổi tên gọi của mỗi cơ sở đào tạo. Thực chất,
đổi mới nền giáo dục chính là đổi mới trong tư duy giáo dục, tức là đổi mới tư
duy của cả người dạy và người học, để giáo dục thực sự là một quá trình nghiên
không phù hợp với thời đại ông sống cũng như không phù hợp với bối cảnh hiện
đại, nhưng chắc chắn rằng quan điểm về xây dựng hình thức chính thể dựa trên

21
nền tảng là lợi ích người dân chưa và sẽ không bao giờ là sai lầm hay lạc hậu đối
với lịch sử phát triển của nhân loại.
3.2.4. Bài học về xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp
Có một điểm độc đáo trong triết học chính trị của J.S.Mill là ông đưa ra
“dự án” xây dựng tầng lớp công chức chuyên nghiệp. Sự cần thiết phải xây dựng
đội ngũ công chức do chỗ họ sẽ phục vụ cho hoạt động công quyền được tốt
hơn, tức là đem lại lợi ích cho dân chúng. Ông yêu cầu việc tuyển dụng công
chức, viên chức chính quyền phải thông qua kỳ thi tuyển công khai.

KẾT LUẬN
Trong dòng chảy lịch sử triết học phương Tây, J.S.Mill xuất hiện như một
triết gia Anh tiêu biểu của thế kỷ XIX. Nước Anh thế kỷ XIX với những biến
chuyển kinh tế vượt bậc trong thời đại cách mạng công nghiệp, cùng những cải
cách chính trị sôi nổi đã tác động rất lớn đến sự hình thành triết học chính trị
J.S.Mill. Với nền tảng giáo dục nghiêm khắc được thụ hưởng từ sự sắp đặt của
cha, với một khả năng nỗ lực tự học đáng ngạc nhiên, J.S.Mill đã khéo léo tiếp
thu các quan điểm và tư tưởng của những tiền bối như nhà triết học J.Locke, nhà
đạo đức học J.Bentham, nhà kinh tế học D.Ricardo, nhà triết học thực chứng
A.Comte, người bạn cùng thời A.Tocqueville.
Triết học chính trị của J.S.Mill xuất hiện trong bối cảnh lịch sử nhất định,
nhưng đồng thời đã hòa chung vào dòng chảy lịch sử tư tưởng triết học phương
Tây. Qua các giai đoạn cơ bản trong hành trình tư tưởng, những tư tưởng về triết
học, chính trị học, lịch sử, logic học, kinh tế học và đạo đức học đã phác họa
J.S.Mill như một chân dung lớn của thời đại, là bộ óc bách khoa của nước Anh
thế kỷ XIX.
Nước Anh là cái nôi của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm thế kỷ XVII.

thánh của chủ nghĩa duy lý” (Saint of Rationalism) [dẫn theo 118, tr.8].
Để bảo vệ tự do cá nhân, đem lại lợi ích cho công dân và toàn thể xã hội,
J.S.Mill chủ trương thiết lập một nền dân chủ đại diện với tính cách là hình thức
chính thể lý tưởng. Đề xuất tiêu chuẩn đánh giá hình thức chính thể, J.S.Mill thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status