Tài liệu thi triết học lịch sử - Pdf 18

HỌC PHẦN II. TRIẾT HỌC DUY VẬT
LỊCH SỬ.
Đề : Bằng lý luận hình thái kinh tế xã hội
và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng
chí hãy phân tích luận điểm sau đây của
Đảng ta: “Xây dựng CNXH bỏ qua chế
độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất
của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là
sự nghiệp rất khó khăn phức tạp cho
nên phải trải qua một thời kỳ quá độ
lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều
hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có
tính chất quá độ”. (Văn kiện Đại hội
Đảng cộng sản Việt nam lần thứ IX,
NXB CTQG, HN-2001, tr 85).
Bài làm

Học thuyết macxit về hình thái kinh tế
xã hội là nội dung cơ bản của CNDVLS
của triết học Mác – Lênin; nó chẳng
những chỉ rõ kết cấu của các xã hội cụ
thể, mà còn vạch rõ những quy luật nội
tại, cơ bản chi phối sự vận động phát
triển của đời sống xã hội nói chung,
cũng như xã hội trong những giai đoạn
lịch sử cụ thể. Như vậy học thuyết
Macxit về HTKT-XH là cơ sở phương
pháp luận của các khoa học xã hội là
hòn đá tảng cho mọi nguyên cứu về xã
hội, và do đó là 1 trong những nền tảng
lý luận của CNXH khoa học

cũng tạo tiền đề vật chất để duy trì sự
sống và tồn tại của con người xã hội,
suy cho cùng nó quyết định tất cả các
lĩnh vực hoạt động khác của con người
và xã hội
Trong quá trình sản xuất vật chất của
xã hội, con người hình thành mốt quan
hệ song trùng : quan hệ giữa người với
tự nhiên goi là lực lượng sản xuất và
quan hệ giữa người với người đó là
quan hệ sản xuất. Đây là hai mặt của
quá trình sản xuất vật chất thống nhất
với nhau trong một chỉnh thể gọi là
phương thức sản xuất, trong đó lực
lượng sản xuất là nội dung và quan hệ
sản xuất là hình thức của quá trình sản
xuất vật chất. Phương thức sản xuất là
cách thức con người thực hiện trong
quá trình sản xuất vật chất ở một giai
đoạn lịch sử xã hội nhất định. Chủ nghĩa
duy vật lịch sử khẳng định rằng : mỗi
hình thái kinh tế - xã hội có một phương
thức sản xuất tương ứng, giữ vai trò chủ
đạo, quy định bản chất, sự tồn tại và vận
động phát triển của bản thân hình thái
kinh tế - xã hội đó.
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp
thống nhất giữa người lao động với tư
liệu sản xuất (trước hết là công cụ lao
động) để tạo thành sức sản xuất xã hội.

thường xuyên, lặp lại trong suốt quá
trình sản xuất vật chất hình thành nên
quy luật kinh tế - xã hội tất yếu, phổ biến,
quyết định sự vận động và phát triển của
các hình thái kinh tế - xã hội. Đó là quy
luật “quan hệ sản xuất phải phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất”. Quy luật này chỉ ra rằng: lực
lượng sản xuất quyết định quan hệ sản
xuất và quan hệ sản xuất sau khi hình
thành và tồn tại nó có tác động trở lại đối
với lực lượng sản xuất.
Trong một phương thức sản xuất, lực
lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ
sản xuất là hình thức. Nội dung quyết
định hình thức. Lực lượng sản xuất
quyết định quan hệ sản xuất thể hiện
qua việc trình độ lực lượng sản xuất
đang tồn tại đặt ra yêu cầu quan hệ sản
xuất phải phù hợp với nó mà không đòi
hỏi cao hơn hoặc thấp hơn nó. Ăngghen
khẳng định :”xét đến cùng thì mọi sự
thay đổi từ chế độ chiếm hữu này sanh
chế độ chiếm hữu khác, từ chế độ xã hộ
này sang chế độ xã hội khác đều là kết
quả tất yếu của việc tạo nên những lực
lượng sản xuất mới”.
Song, quan hệ sản xuất vừa phụ
thuộc, vừa có vai trò độc lập tương đối
và tác động trở lại lực lượng sản xuất.

điều, sách vở về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội và vận dụng chưa đúng
các quy luật khách quan đang tác động
trong thời kỳ quá độ ở nước ta trong đó
có quy luật về quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất .
Giai đoạn này, chúng ta “chưa nắm
vững và vận dụng đúng quy luật về sự
phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính
chất và trình độ của lực lượng sản
xuất” . Xuất phát từ nhận thức khá phổ
biến rằng “xây dựng quan hệ sản xuất
mới để mở đường cho lực lượng sản
xuất phát triển” nên mọi đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và nhà
nước đều tập trung xây dựng một quan
hệ sản xuất cao mà không chú ý đến sự
phát triển trình độ lực lượng sản xuất
tương ứng. Chúng ta xây dựng CNXH
xuất phát từ một nền kinh tế nông
nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, phổ biến là
sản xuất nhỏ, “con trâu đi trước cái cày”.
Vì vậy lực lượng sản xuất của ta trình độ
thấp, sản xuất thủ công là chủ yếu, đầu
óc tư hữu, phong cách làm việc lề mề,
kém kỷ luật là đặc điểm chung của đại
bộ phận nhân dân lao động, đặc biệt là
nông dân. Mặc khác, chiến tranh kéo dài
không chỉ tàn phá khốc liệt cơ sở hạ
tầng kỹ thuật của đất nước, ảnh hưởng

những chủ trương sai trong việc cải
cách giá cả, tiền tệ, tiền lương.
Trong việc tổ chức quản lý, chúng ta duy
trì một chính sách kinh tế đóng cửa, một cơ
chế tập trung quan liêu, bao cấp, trong hình
thức tổ chức sản xuất, có xu hướng tổ chức
quá nhanh mô hình sản xuất, tập đoàn, hợp
tác xã … với quy mô lớn mà không tính đến
khả năng trang bị kỹ thuật, trình độ quản lý
và năng lực của cán bộ. .
Đến Đại hội lần thứ VI của Đảng, với
tư duy mới, chúng ta nhận ra rằng, quan
hệ sản xuất là vật cản của lực lượng sản
xuất không chỉ trong trường hợp quan
hệ sản xuất đi sau mà còn cả trong
trường hợp vượt lên trước, tách rời lực
lượng sản xuất. Chính vì vậy, từ đó đến
nay chúng ta luôn luôn cố gắng thiết lập
sự đồng bộ giữa các yếu tố trong quan
hệ sản xuất, trong lực lượng sản xuất và
giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản
xuất
Thay đổi đầu tiên là sự nhận thức lại
về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất, Kinh nghiệm đã
qua cho thấy không thể bằng mọi giá
xây dựng quan hệ sản xuất mới bất
chấp tình trạng thấp kém của lực lượng
sản xuất. Vì vậy, quan điểm chỉ đạo của
Đảng là ưu tiên hàng đầu cho phát triển

tin và công nghệ sinh học, từng bước
phát triển nền kinh tế tri thức. Bên cạnh,
việc phát huy nguồn lực trí tuê và sức
mạnh của lực lượng SX được thực hiện
song song với việc coi trọng phát triển
giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ
xem đây là nền tảng và là động lực cho sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước
Về quan hệ sản xuất, văn kiện Đại
hội Đảng lần VII đã nêu “để phù hợp với
sự phát triển của lực lượng sản xuất,
chúng ta phải thiết lập từng bước quan
hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao với
sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo định hướng XHCN, vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước”.
Đại hội VIII của Đảng đã đề ra chủ
trương : “Nếu CNH - HĐH tạo nên
LLSX cần thiết cho chế độ XH mới thì
việc phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần chính là để xây dựng hệ thống
QHSX phù hợp”. Các văn kiện Đại hội
Đảng cũng đã khẳng định các thành
phần kinh tế là những bộ phận cấu
thành phần kinh tế thống nhất, được
phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh
lành mạnh với nhau. Thực tiễn chứng
minh chính sách phát triển kinh tế nhiều

xuất khẩu và đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô đến các đơn
vị cơ sở theo hướng mở rộng quyền tự
chủ về sản xuất, kinh doanh, đã tạo điều
kiện phát huy tính chủ động sáng tạo
của các đơn vị kinh tế và của người lao
động. Bộ máy nhà nước từng bước
chuyển sang thực hiện chức nǎng quản
lý nhà nước, khắc phục dần sự can
thiệp vào điều hành sản xuất - kinh doanh
của các đơn vị cơ sở. Việc xây dựng pháp
luật kinh tế được đẩy mạnh.
Nhìn lại những sai lầm trong thời kỳ
trước đổi mới, Văn kiện ĐH Đảng lần VI
đã nêu “Do chưa nhận thức đầy đủ rằng
thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là
một quá trình lịch sử tương đối dài, phải
trải qua nhiều chặng đường và do tư
tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn
1
bỏ qua những bước đi cần thiết , Đại hội
IV chưa xác định những mục tiêu của
chặng đường đầu tiên”. Việc sai lầm do
“bỏ qua những bước đi cần thiết” không
chỉ thể hiện ở việc vi phạm các quy luật
khách quan mà còn ở việc bỏ qua bước
trung gian quá độ kinh tế hàng hóa
TBCN, phủ nhận các hình thức, bước đi
mang tính quá độ từ sản xuất nhỏ lên
sản xuất lớn - nội dung mà trước đây

CNTB. Đó là những thành tựu chung đặc
biệt về khoa học công nghệ mà nhân loại
đạt được.
Mỗi xã hội trong lịch sử có một kiểu
những quan hệ vật chất cơ bản nhất
ứng với những LLSX đó là những
QHSX. Phù hợp với kiểu QHSX đó là
một hệ thống những quan hệ về chính
trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ
thuật Những quan hệ chính trị, tinh thần
này được thể hiện thông qua những
thiết chế xã hội tương ứng như : Nhà
nước, Đảng phái, tòa án, giáo hội và các
tổ chức xã hội khác Sự liên hệ và tác
động lẫn nhau giữa những quan hệ kinh
tế của xã hội và các quan hệ kinh tế đó
được chủ nghĩa duy vật lịch sử phản
ánh trong các phạm trù CSHT và KTTT,
trong nguyên lý về quan hệ biện chứng
giữa CSHT và KTTT
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những
quan hệ sản xuất tạo thành cơ cấu kinh
tế của một xã hội nhất định. Một xã hội
đang ở trong thời kỳ quá độ thì cơ sở hạ
tầng của nó mang tính quá độ, tức là có
sự đan xen giữa quan hệ sản xuất tàn dư
tồn tại cùng với mầm móng quan hệ sản
xuất mới.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ
những quan điểm chính trị pháp quyền,

của kiến trúc thượng tầng diễn ra khá
lâu dài, một cách biện chứng.
Sự tác động trở lại của kiến trúc
thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể
hiện qua vai trò định hướng chính trị cho
hoạt động kinh tế theo yêu cầu mục đích
của giai cấp thống trị, mà trong đó Nhà
nước là thiết chế quan trọng nhất khi tác
động trở lại kinh tế. Kiến trúc thượng
tầng cũng có nhiệm vụ bảo vệ và phát
triển cơ sở kinh tế đã sinh ra nó. Sự tác
động của kiến trúc thượng tầng đến cơ
sở hạ tầng có thể diễn ra 2 khả năng
sau đây : một là phù hợp với tính tất yếu
kinh tế, với yêu cầu phát triển của lực
lượng sản xuất thì có tác dụng thúc đẩy
kinh tế phát triển; hai là do yếu kém và
sai lầm của kiến trúc thượng tầng tác
động không phù hợp với quy luật kinh tế
thì sẽ kìm hãm sự phát triển của đời
sống kinh tế. Trong những trường hợp
đặc biệt, kiến trúc thượng tầng có thể tác
động làm đảo lộn nhanh chóng cơ sở hạ
tầng nhưng suy đến cùng thì kiến trúc
thượng tầng vẫn bị kinh tế quyết định
Lịch sử xã hội loài người đã trãi qua 4
hình thái KTXH, đó là : chế độ công sản
nguyên thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ,
chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ
nghĩa và đang trãi qua thời kỳ quá độ

sử tự nhiên nhưng mang tính đặc thù,
rút ngắn lịch sử. Tuy nhiên, phát triển rút
ngắn đòi hỏi phải có những điều kiện
khách quan và chủ quan mới có thể
thực hiện được. Lê-nin cũng đã nói con
đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội có
thể có những hình thức khác nhau; điều
đó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất. Theo người, hình
thức quá độ trực tiếp là con đường phát
triển tuần tự từ CNTB lên CNXH; còn
hình thức quá độ gián tiếp là con đường
phát triển rút ngắn, bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa đi lên CNXH.
Dựa vào học thuyết của Mác – Lênin
về hình thái kinh tế - xã hội, Đảng ta đã
vận dụng những lý luận này vào thực
tiễn cách mạng Việt Nam, chọn lựa con
đường phát triển rút ngắn - tức là đi lên
CNXH không trải qua giai đoạn phát
triển tư bản chủ nghĩa. Sự chọn lựa đó
dựa trên những yếu tố khách quan và
chủ quan như sau :
Về khách quan, thời đại ngày nay
vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên
CNXH trên phạm vi toàn thế giới và theo
quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người
nhất định sẽ tiến tới CNXH. Văn kiện Đại
hội IX đã chỉ rõ mặc dù trước mắt CNTB
vẫn còn tiếp tục phát triển nhưng nó

đoán của C. Mác: "cùng với sự phát
triển của đại công nghiệp, chính cái nền
tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất
và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị
phá sập dưới chân giai cấp tư sản.
Trước hết, giai cấp tư sản sinh ra những
người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp
đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của
giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau".
Mặt khác, thế kỷ XXI là thế kỷ khoa
học và công nghệ có những bước nhảy
vọt, kinh tế trí thức ngày càng có vai trò
nổi bật trong sự ảnh hưởng đến quá
trình lực lượng sản xuất của các quốc
gia. Bên cạnh đó, toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế đối với mọi nước,
nhất là các nước đang phát triển, vừa là
thời cơ vừa là thách thức. Đối với nước
ta, thời cơ lớn hơn thách thức. Chúng ta
chẳng những có khả năng tiếp cận
những tiến bộ KHKT, tranh thủ nắm bắt
và vận dụng những thành tựu khoa học
và công nghệ sản xuất, trình độ sản
xuất, kỹ năng lao động, trình độ tổ chức
và quản lý sản xuất của con người để
nhanh chóng xây dựng lực lượng sản
xuất hiện đại mà còn có khả năng tạo ra
thời cơ nếu ta có đường lối đúng, có bản
lĩnh để thực hiện đường lối đó.
Về chủ quan, Qua gần 20 năm thực

nhận vấn đề bỏ qua “giai đoạn” hay “thời
kỳ” đơn thuần là rút ngắn thời gian trên
cơ sở có được những điều kiện, thời cơ
và tiền đề vật chất quan trọng nhất đó là
sự phát triển của LLSX và sự trưởng
thành của giai cấp vô sản. Cụ thể hoá
nội dung “bỏ qua”, đại hội ĐBTQ lần IX
của Đảng đã nêu rõ :”Bỏ qua chế độ
TBCN, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí
thống trị của QHSX và KTTT TBCN,
nhưng tiếp thu, kế thừa những thành
tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế
độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công
nghệ, để phát triển nhanh LLSX, xây
dựng nền KT hiện đại”. Nghĩa là chúng
ta thừa nhận sự tồn nền KT nhiều thành
phần theo định hướng XCHN. Có tiếp
nhận, cải tạo các quan hệ sản xuất cũ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát
huy mọi thành phần kinh tế, nâng sức
sản xuất của XH, tạo ra thật nhiều sản
phẩm phong phú có sức cạnh tranh trên
thị trường. Đồng thời thông qua sự
nghiệp CNH-HĐH – đây là nội dung
mang tính quyết định và đột phá nhằm
nâng tầm về chất của LLSX và xây
dựng LLSX cần thiết cho chế độ mới.
Sự nghiệp CNH phải đi đôi với HĐH
nghĩa là trong xu thế tất yếu của toàn
cầu hoá kinh tế và trong điều kiện của

chặn đường để thực hiện bằng được
mục tiêu cuối cùng là ước nguyện của
cả dân tộc : xây dựng thành công CNXH
theo mô hình đã được xác định trong
Cương lĩnh ĐH7. Đó là một xã hội : “Do
nhân dân dân lao động làm chủ; Có một
nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và chế độ công
hữu về các TLSX chủ yếu; Có nền văn
hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
Con người được giải phóng khỏi áp bức
bốc lột, bất công, làm theo năng lực,
hưởng theo lao động. Có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc; có điều kiện phát
triển toàn diện cá nhân. Các dân tộc
trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu
nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các
nước trên thế giới.”.
Tóm lại ”XD CNXH bỏ qua chế độ
TBN tạo ra sự biến đổi về chất của XH,
trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất
khó khăn phức tạp, cho nên phải trãi qua
một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều
chặn đường, nhiều hình thức tổ chức
kinh tế XH có tính chất quá độ” là quan
điểm đúng đắn của Đảng ta trong tình
hình mới. Phù hợp với tiến trình lịch sử
– tự nhiên của sự phát triển xã hội
chẳng những diễn ra bằng con đường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status