ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOn HỌC xn HỘI vn NHÂN VĂN
• • • •
HOÀNG VĂN NGHĨA
QUAN NIỆM CỦA TRIÊT HỌC MÁC
VÊ QUYỂN CON NGƯỜI
Chuụêrt ngành : &IÍL íiíịẨũxL (Luiị. oủi Ịùèjt ehứềUỊ,
u/ỉ- chủ ntịỉtĨẨL (Luiị. ưừt Lieh UJ .
Mõ sô': 5.01.02
IUỘN VfiN thọc Sĩ KHOn HỌC TRI6T HỌC
• * • •
Người hưóng dan khoo học :
PGS. BÙI THANH QUAT
H À N Ộ I - 1 9 9 9
MỤC LLC
A. MỎ ĐẦU. 3
B. NỘI DUNG: 7
Chương 1. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ CON NGƯỜI
VÀ GIẢI PHÓN G C O N NGƯỜI. 7
1.1. Q u an niê m của m ộ t s ố n h à triết ho c tiêu biêu p h ư ơ ng Táy
trước Mác vê con người và giải phóng con ngươi.
1.1.1. Thời kỳ cổ đại
1.1.2. Thời kỳ Trung cổ 9
1.1.3. Thời kỳ Phục Hưng, Khai sáng và Cận đai 10
1.2. Quan niệm vé con người và giải phóng con ngươi ì 5
trong triết hoc Mác
1.2.1. Con người-“một động vật xã hội” [ 5
1.2.2. Bán chất con nsười 18
1.2.3. Phương thức tồn tại cùa con người 22
1.2.4. Mối quan hệ giữa cá nhàn và xã hội 24
1.2.5. Về pham trù “tha hoá’\ “tha hoá của lao động”,
Đ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
78
82
A. Mỏ ĐÂU:
Con người và quyên con người là một trong những vấn đê then chốt của moi thời
đại trên cả lĩnh vực lý luận và thực tiễn, là vấn đê trunơ tàm cua mọi cuộc cách mạng và
tiến bộ xã hội.
Cùng với sư nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước hiện nay, chiến lược con
người được đặt lên hàng đấu của sư quan tâm chú ý của Đảrm và Nhà nước ta. tronc đó
quyền con người được xem như là vấn đế trung tâm cua chiến lược áy. Chỉ thị của Ban
Bí thư ngày 12/7/1992 khẳng định rõ vấn đề quvền con người như sau: "Tổ chức nghièn
cứu đề tài khoa học về quyền con người, đặc biẽt cần phát triển các tư tường nhân đạo,
giải phóng con người của chủ nghĩa Mác-Lê nin, của chù tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta,
làm rõ sự khác nhau giưã quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lẻ nin và Đảng ta với quan
diểm tư sản về quyền con người. Trẽn cơ sớ đó, xây dưns hệ thống các quan điểm cùa
dảng ta về quyền con người, làm cơ sờ cho công tác tư tướng và việc hoàn thiên pháp
luật và các chính sách về quyên con người, tao thế chu động chính trị trong cuộc đấu
tranh về quvèn con người trẽn trường quốc tê".
Quyền con neười là môt vấn đế rộns lớn, rất phức tap và hèt sức nhậy cám, nhát
là trong tình hình hiện nay- sau sư sup đổ cùa các nước XHCN ớ Lièn xô cũ và Đỏng
Âu, trước sư tấn còng của các lưc lương thù đich trong chiến lươc " diẻn biến hoa bình”,
dưới " chièu bài nhàn quvên" dể can thiẽp vào còns việc nội bò cùa các nước horm làm
suy sụp hoàn toàn các nước XHCN. Hién rhưc đó đòi hoi phải nghièn cứu sâu sác và có
hệ thông về mặt lý luận, từ nhiều góc độ và khía canh khác nhau cùa các khoa học
chuyên biệt như : Triết học, Luật học, Chính trị học, Sừ học, Xã hội học, Văn hoá học,
Hơn nữa vấn đề con người và quyển con người trong học thuyết Mác đã từ lâu
trờ thành mũi nhọn công kích từ phía kẻ thù nhầm phù nhàn giá trị nhàn ván chân chính
vốn có của chủ nghĩa Mác. Vì vậy, việc nshièn cứu một cách đầv đủ và có hộ thốn
2
những quan điểm, tư rường của các tác gia kinh điển về con người và các điều kiên cơ
4. Chương trình Khoa học Cône; nchè Quốc gia KX 07. dể tui 16 : "Các đièu kiện nao
đảm quyển con người, quyền công dân trong còng cuộc dối mơi đất nước" do
GS.PTS Hoàng Vãn Hảo làm chù nhiêm đề tài;
5. Hai đề tài cấp bộ : 1- " Quyến kinh tế -xã hội va cơ chê bảo đảm quyen kinh tế xã
hội ở nước ta trong điều kiện hiên nay”, thưc hiên nãm 1997; 2-" Quvèn dàn sự-
chính trị và cơ chế bảo đảm trong công cuộc đổi mới hiên nay", thưc hièn năm 1998,
do GS. PTS Hoànơ Văn Hảo làm chủ nhiệm ;
6. Để tài cấp cơ sờ: " Quan điểm iMác-Lê nin vể quyên con naười. quyén cònơ dân ' do
GS.PTS Hoàng Vãn Hảo làm chủ nhiệm, thực hiện năm 1998;
7. Đề tài cấp cơ sờ : “ Tư tường Hổ Chí Minh về quyền con người'’, do PTS. Cao Đức
Thái làm chủ nhiệm, thực hiện nãm 1998-1999.
8. Nhiều luận án PTS thuộc chuyên ncành !vhoa học khác nhau như Luật học, Triết
học, Chính trị học, Những luận án đã bảo vè thành Cỏn2 từ góc độ khoa noc Triết
học, đó là : "Tư duy chính trị vể quyển con người nhìn từ khía canh Triết học" của
Thuật ngữ “nhân quyển” ( từ Hán-Việt) và "quyển con neười"
<
từ Viéti là những từ dồnu nuhĩa. vì váy tư day
được dùng như nhau.
4
Nguyễn Vãn VTnh; 02 luận án về " Tính phổ biến và tính đặc thù của quyển con
người” của Vũ Hoàiie Công và của Phạm Văn Khánh
9. Và nhièu bài báo, tạp chí, sách chuyên khảo vé nhàn quyền đã được đăng và xuát
bản.
Nhìn chung các công trình khoa học trên đã phàn tích một cách khái quát, chung
nhất và làm sáng tỏ được vấn đề quyền con người trong lịch sừ tư tường nhàn loại và
trong tiến trình bảo đảm và hiện thực hoá quvền con người. Tuv nhièn, do nội duns
phong phú, rộng lớn và phức tap của bản thân quyền con nơười. nhiều vấn đề cụ thể cần
phải dày công nghiên cứu. Hơn nữa, con người và quyền con naười là vấn để xuyên suốt
toàn bộ sự phát triển của xã hội loài người, nó được phát triển không nsừng cả về mật
lượng và về mãt chất.
6. Cái mới của luán vãn :
- Góp phần khảng định tiền dê của quan niêm về quyén con người trong triết học
Mác chính là quan niẽm về con người và giải phong con nsười.
-Góp phần khẩníĩ định triết học Mác là triết hoc nhàn vãn chân chính nhất, là
triết học nhân bán hièn thưc hay chính là triết hoc thưc tiẻn-cách mang vê sư giãi phóng
con người và quvén con người.
- Manh dan dưa ra một khái niệm vè quyén con người trèn quan điếm mác-xít.
7. Ý nghĩa lý luận và thưc tiẻn của luán vãn:
- Luận vãn góp phẩn vào cuộc đấu tranh rư tươne trẽn lĩnh vưc quvén con người
mà các thế lực thù đich và những phàn cử phản động đana chĩa mũi nhọn vào Chủ nahla
Mác -Lênin và tư tuờns Hồ Chí Minh - nền tang tư tươn2 và kim chi nam cho moi hành
động của Đảng và Nhà nước ta.
- Luàn văn có thể dùnơ làm tài liêu tham khảo cho viêc nghiên cứu, í làn 2 dav
về những vấn đề liên quan đến dân chù, quyèn con nơười và chú nghĩa xã hội.
8. Kết cáu cùa luán van:
Ngoài phần mơ dấu và kết luùn, !uàn vãn sòm 03 chương, 07 tiết và phân danh
mục tài liệu tham kháo.
6
B .N Ộ I DƯNG:
Chương 1. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỂ CON NGƯÒI
VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯÒI
Triết học Mác là triết học luận giải về con người và các điều kièn 2Íải phón2 con
người trén cở sớ hiện thực và khoa học dựa trên lập trườns của chủ nghĩa duv vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên tinh thần kế thừa có chọn lọc những giá trị tinh
hoa của nhân loại, với bộ óc thiên tài Mác và Ảneghen đã khái quat lên một quan điểm
sâu sấc và toàn diện, đánh dấu một bước nhảv vọt về chất trong quan niệm vể con người
và giải phóng con người, về điếu kiện hiên thưc để giúp con nơười khắc phuc mọi sư tha
hoá và bảo đảm quyền và tự do cơ bản một cách đích thưc cho mỏi con người. Quan
nièm của Triết hoc Mác về con người và giải phóng con người là hạt nhàn, là tiền đề cùa
quan niệm về quyển con người. Vì vậy, chỉ có thể xuất phát từ nhữns quan niệm về con
) hoặc là
một cái gì đó irưu tương, không xác định, phi hình hài ( như: Anximen, bản chất cùa
con người là '‘apeưon” - '‘cái không xác định’’. Pitagor là “con số”), Do Vày, quan
niêm về quyén con người của các nhà tư tưởng ờ thời kỳ này là cũng rất trưu tuợnơ, và
thậm chí nhièu người trong sỏ ho cho rãne, quyên cúa con ncười chi tòn tại ớ trong
những con người thuộc tầng lớp thông trị xã hội, còn lai nhữns; người bị trị thì khòng có
quyền ( vì thưc tế ho không dươc COI là con người, ma chi là mót còng cu biết nói). Sở
dĩ gọi là quyền trừu tươne, ờ thoi kỳ này, là vì nó vẫn còn chưa phải la quvền thuộc vé
nhũng cá nhàn-cu thể, riêng biệt, bất kỳ nào khác, ma thuộc về con nsười nói chung,
con người trừu tượng; là vì nó lchônơ thuộc về con người với ban chất xã hội, bán chát
hiện thực chân chính của nó, trong tính phổ biến cùa nó ; mà thuộc vé con người trong
bản chát chính trị thuán tuý, trong sư đạc quvén và cá biệt của nó. Trong tác phẩm
"Chính trị học", Aristote viết: '' Kẻ này là nỏ lê. người kia là tự do, là chủ nô, điều đó là
đúng, là họp lý". Như vậy, Aristote đã đồng nhất quyền con người với đặc quyền, hơn
nữa còn bảo vệ chế độ đặc quvền đó, COI nó là hơp vói "luật cua tư nhiên". Như vậy,
thời kỳ cổ đại, với sự thống trị giữa người với người- như là một hình thức đầu tiên trong
lịch sử cùa xã hội loài người -của giai cáp chu nò đối với tầng lóp nô lê, đã mờ đầu cho
"sự tha hoá", theo nghĩa ỉà đánh mất bản chát minh, là sự tha hoá đầu tiên của con
người về nhân tính và do đó của quyền con người. Quan điểm của các nhà triết học cổ
đại vé con người và quyền con người nhìn chung đều thể hiện rõ lập trường cùa siai cấp
thốne trị, coi bát bình đang là lẽ tự nhièn, và cá nhãn với tư cách là cône dân của nhà
nước chi có phục tùns và cần phái phuc tùng, dó mói là côns !v. Theo Platon nha nước
xuất hiện từ sự đa dạng hoá cùa nhu càu con ncười và từ dó xuất hiên các dang phán
8
công lao đông để thoả mãn các nhu cầu ấy. Vì vậy, trong xã hội cán phải đuv trì các
dạng khác nhau, và do đó không thể có sự bình đẳna hoàn toàn giữa mọi người, ông
khảng định rằng : chân lý là ở chỗ, mỗi hạng người làm hết trách nhièm cua mình, biết
sống đúng với tầng lớp của mình, nói cách khác là phải biết phận mình, con người sống
vì nhà nước chứ không phải nhà nước sống vì con người.
211]. Ồng cũng khẳng định răng quyền tư do của ý chí, là thực chấr của mọi hoạt đôna
của đời sống tinh thần, ồng viết : "Chúa đã nói một lần và đã nói tất cả, và V chí tư do
của chúng ta phải nằm trong trật tự của những nguvèn nhàn, trật tư đó ià nãm trong ý
Chúa Đôì với Thomas D ’equin , nhà triết học-thãn học ra sức bảo vè giáo hội và nhà
thờ, bảo vộ sự thống trị của thần quvển, thì khẳng định ráng : “cuộc sống dưới trần thế
chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai ờ thế giới bên kia” [46. 231]. Theo òng, quốc
vương không chỉ là người điều khiển mà còn là người sáng tạo ra nhà nước. “Quvén
thống trị của Quốc vương là do “ ý chí Thượng đẽ” quy định”[46, 231]. òng cũng quyết
liệt chống lại sự bình đảng xã hội, bảo vệ sư phàn chia đẳng cấp, COI quyền của con
người là do_rThượng đế sản sinh ra”, trật tư xã hôi do Chúa an bài, con người khòna
được đảo lộn và cần phải phục tùng điểu đó.
1.1.3. Thời kỳ Phuc Hưng, Khai sáng và Cân đai:
Vấn để con người và số phận của nó được đặt ra và giải quyết một cách hiện thưc
hơn bao giờ hết. Tư tuớng thống trị trong quan niệm về con người và quvén con người ở
thời kỳ này chịu ảnh hường manh mẽ của thuyết " pháp quỵèn tư nhièn". Thuvét này
khẳng định con người là do tự nhiên sinh ra mà có, chứ khòng phải do Qiúa, Thượng
đế hay Đấng sièu nhiên nào đó sinh ra. Con người là một sản phẩm đích thưc của giới
tự nhiên và thuộc vể giới tự nhiên. T.Hobbes, nhà triết học duy vật tiêu biểu Anh thế kỷ
XVII, đã khẳng định " con người là một thưc thể sinh vật- xã hội”, và con người ngay
từ khi sinh ra đã sông thành tập đoàn, cần đến nhau trong sự tồn tại và phát triển của
mình. Ông viết: “ Đời sống của con người, nếu không có xã hội, là một đời sống nshèo
nàn, cỏ đon, gian nan, tàn nhẫn và ngắn ngùi” [1, 4]. Tuv nhiên, Hobbes đã khònơ coi
xã hội là tính quy định bản chất con người, mà khẳne định tính tự nhiên là bản chất của
con người. Cũng như T.Hobbes, I.Locke, Montesqiueu, J.J. Rousseau, đều khảng định
bản chất cúa con người chính là bản chất tự nhièn của nó. Và vì vậy, "trạng thái tự
nhièn" của con nsười được các nhà tư tườnc thời kv này coi là tư tườns hat nhàn trons
việc xây dựng các học thuyết về nhà nước, chính trị -xã hội, Do vậy, con người-chủ thể
đích thưc của quyền- ngay từ khi sinh ra đã có quyèn rồi, và quyền đó mans tính 'tao
hóa", " bám sinh", " tự nhiên", chứ khỏng phải do Thượng đế hay một lưc lượng siầu
nhiẻn, bèn ngoài nào sản sinh hay ban tặng. . Chính vì thế, "pháp luàt tư nhiên' dứng
biện chứng, nhất là tronơ quan niệm về cá nhân và xã hội : “mỗi cá nhàn sẽ trở nên
mong manh và khó khăn hơn nếu như anh ta sông một cách bièt lập ( khỏi xã hội,
HVN)” [48, 161]. Diderot đã đăc biệt nhàn manh đến vai trò quan trọna cua cá nhàn,
rằng “cá nhân là điểm xuất phát cùa hình thái xã hội”[48, 163]. Đóng thời ông cũng
11
nhấn mạnh về vai trò của xã hội đối vớị sự hình thành bản chát của con người, “nhu cầu
của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên đã là động lực thúc đẩy con người son2
thành xã hội(.„). Nếu tự nhiên thoả mãn được tất cả những nhu cầu cua con người thì xã
hội sẽ tan rã ngay tức thì”[48, 163]. Nhưng Diderorvẫn chưa thoát khỏi quan điểm tư
nhiên luận khi đồng nhất tính xã hội, bản chất xã hội cùa con người vói “bản nàng bầy
đàn” của động vật, ông viết: “Con người sống thành xã hội cũng như các động vật khác
sống thành bầy đàn theo bản năng sinh tồn của chúng”[48. 163]. Theo ôna, “Con người
là một sản phẩm của tự nhiên, một sinh vật được phú cho những nhu cầu tư nhiên, anh
ta chi trở nên hạnh phúc khi được thỏa mãn những nhu cầu ấy( ). Mỗi cá nhàn ngav từ
khi sinh ra đã có quyển-tự nhiên được hường hạnh phúc. Tuv nhiên, con người chỉ có
thể thực hiện được quvền đó ờ trong xã hội mà thôi”[48, 159]. ông khẳng đinh ràng,
“trong trạng thái tự nhiên của mình, con người đã không biết gì đến kẻ thống trị (nhà
cầm quyén - Rulers), tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau và đươc độc lập hoan
toàn” [48, 1611. Và, “ Như vậy là, nguồn gốc của chu quyền, như chúng ta biết, quyên
lực của con người và quyền con người của họ chỉ đươc tìm thấy trong sư cho phép (-sư
thoả thuận) của mọi người”[48, 161]. Có thể thấv tư tướns hết sức tiến bó của Diderot
trong quan niệm về quvén [ực và quyền con người. Tuv nhiên, ông cũng chi dừng lại lãp
trường cúa giai cấp tư sản, nhà triết học duy vặt nàv cũng không thế tranh khỏi lãp
trường duv tâm về lịch sứ khi cho rằne, hình thức khả đĩ nhất cùa Nhà nước là mỏt nèn
cộng hòa nghị viện mà ờ đó ông vua đóng vai trò như là vị tổng thống. Nhưng dù sao đi
chãng nữa, tư tưởng cùa ông về một nhà nước pháp quvền cũng có những tiến bộ nhát
định. Theo Diderot, “trật tự xã hội phái bảo vệ một cách tối un nhất nguyèn vọng của
con người, mà ờ đó quyền lập pháp phải được giao cho các đai biểu của nhàn dân, là
những người đổng thời kiểm soát các cơ quan hành Dháp củng như quvèn lực của quốc
vưcmg” [48, 161-162]. Đó là quan niệm đúng đăn vè nhà nước pháp quyền, mặc dù nó
là lịch sử của “đời sống có tính chất trưc tiếp cua con ngươi : hoạt đôns sản xuất vật
chất”.
Đối với Feuerbach, con người là sản phẩm cua tư nhiên, là 'cái gương vũ trụ",
thòng qua đó giới tự nhièn ý thức và nhán thức chính bản than mình. Bản chát cua con
ncười là tổng thể các nhu cầu, khát vonơ, ham muốn và cả khả năng tươns rượnơ cua
anh ta nữa. Ong khảng định " Con ngươi là san phàm cua con người, của vãn hoá và cua
lịch sử" [46, 461]. Nhưng, "văn hoá", 'lịch sử" ờ đây !à văn hoa. là lịch sừ-chung chuna,
trừu tượng , phi giai cấp, phi dàn tộc, và vì thế quan niêm này cực kỳ trừu rượna chứ
không cụ thể. Trong quan niệm vè bán chát con naươi cua ỏng cũns trừu tượns, ‘bán
chất của con người là bàn chát chung và ban thân no là ban chất cá tiìể'’ [46. 462] Vã
bàn chát chung dó cúa con người không phai cái gì khác hơn ià tòn siáo. tón iĩiáo là ban
chất của con người, ỏng viết : "bản chát rhần thánh không !ù ::íi ‘Ị1 khác, ma !à bùn chát
13
cùa con người, nhưng đã được '.inh chế. khách juan noa. rách rời vơi con 1-sười hiện
thực báng xương, băng thịt" [46. 463]. Như Vậv. bán chát của con neưới vú cua quvền
con người đếu ỉà trừu cượng và phi hiện thực. Nhân xét vè Feuerbach, \n 22hen viết:
"Về hình thức, ông là mỏt người hièn íhưc chủ nchĩa. ông lấy con người làm xuất phát
điểm, song óng hoàn toàn không nói đến ìhế áiới ironc đó con người ấv sóng, vì vậy
con người mà ông nói, íuôn iuón là con ngươi trưu tượng vẫn chiếm cứ lĩnh vực triết
học về tôn giáo" [29, 391].
Còn C.Mác thì phê phán 'Feuerbach hoa tan ban chất tòn giáo vào ban chất con
người” [15, 257]. Vì Feuerbach hiểu bản chất cua con nsười hết sức trưu tượng, coi dó
như là bản tính bất biến, cảm giác được của mỏi cá thể như trái tim. trí tuệ, ý chí. Là
một nhà triết học phê phán tôn giáo và chông tôn giáo song vì Feuerbach quan niệm tòn
giáo phản ánh cái gì đó vĩnh hãng thuộc về con ngươi, cho nén tình cảm ton giáo lại là
cái không thể vứt bò được. Theo ông, tình yèu giữa con ngươi với con người, đặc biệt là
tình vèu nam nữ là một tình cám tôn giáo, đó ià bàn chát dích thưc của tôn giáo. Do đó,
Feuerbach coi chủ nghĩa vò thân cũng là một tón giáo. Vì Vặv, ỏng đã tư coi minh là
một nhà cài cách tôn giáo, tao ra một tón giáo mơi xưnc dán2 với ban chát cua con
này chí dừng lại hoăc là duv vật nhưng sièu hình, hoãc là biên chứna nhưng duy tâm.
Điéu này chí đến giai đoan Mác và Ảngghen mới khãc phuc và giải quyết đươc triệt đế
và khoa học, trên một phươns pháp luân mới-phươno, pháp luận duv vật bièn chưns, vè
con người và số phàn của nó.
1.2. Q u a n n iệ m vẽ con n gư ờ i va g id ỉ p h o n g con n g ư ời tro n g triết h ọc M ác.
1.2.1. Con người ‘"một dông vát xã hoi" :
Mác đã kế thừa tư tưons biện chứna: và duv vật trons quan niệm vé con nsươi.
”con người ià. một động vật chính trị”, cùa Aristote. Tuv nhièn, Mác đã đi sàu hon vào
vièc tìm ra bản chất đích thưc của con người, và chỉ ra rằng, con naười khỏns chí dừns
lại ớ bản chất chính trị-thuần tứv của nó. Bán chất chinh trị cùa con nsười chí là một
bản chất đặc thù, không phải là bản chất phố quát của con nsười ờ moi thời đại, mọi xã
hội và diều kiện lịch sử. Con nsười không chi mang ban chất chính tri mà còn hơn thế là
bàn chất xã hội của nó-là bản chất đích thưc của con người, Vì lẽ sư tồn tai của con
nsười với tư cách là con nsười-công dân, con ngưòi-chính trị chưa phai là sự ròn tại đích
thực, chưa phải là nhàn tính tư do. Con người khòna chỉ dừng lại ờ muc đích chính trị-,
là con người cua cộng dồng, của thành bana, mà còn vươn tới con người cua xã hội loài
ntiười, của nhàn loại, hay “loài người xã hòi hoá”. Tuy nhiên, trong quan niêm cua
Aristote tính cộng đổnc lán dấu tiên đã dược chi ra và nhãn manh con nsười khôn2 the
sòng ngoài cộng dồng ( chính trị-thành quốc). Tiếp nối tư tướng cùa Aristote va các nha
triết liọc duy vật thế ký XVII-XVIII. nhưne trên một thế siới quan hoan toan mới- dó ;à
15
thè giới quan duy vật biện chứng, Mác và Ảnsghen dã có quan niệm đúns dấn và khoa
học vè con người va bán chát cua nó.
Mác và Ãnaghen khãns định rãna, trước hết con người là mỏt sản vật của tự
nhiên, là một bỏ phân cò hữu cua giới tự nhiên: con người là một "khách :hể cua tự
nhièn”, là mòt bộ phàn cua tư nhiên, hay con người là '‘tự nhiên sống"’, "tự nhiên đã
dược nhân tính hoá”. ông viết: ‘‘ bản thân con nsười. được COI như tôn tai thuán tuý của
sức lao động, là mỏt khách thể tư nhiên, một sự vật át hản là một sư vặt Sỏna và có V
thức tư nó” [44, 14]. Mác cũng cho rằna, con nsười. một tồn tại tự nhiên và là một bộ
phận cùa giới tự nhiên, vừa là tác nhân vừa ỉà kẻ chiu tác động của biên chứne lịch sừ.
có diêu kiện va có 21 ới hạn:
nghĩa là các
đối tương
cua những xu hướng của no tổn tại ncoài nó, với tư cách là nhữna
khách thè’ độc lập dối với no( }” [44, 83]. Như vậy. con naười một mát !à chú the cho
16
hoạt động của mình, mật khác chính tự nhiên lại ià chù thế, !à nguôn 2ÒC của con ngưcn
Và vì vậy, “con người !à một động vật-xã hội” [31, 366Ị. '* ià sinh vật có rinh :oài"
[29,120], tức là con người cũng là một sinh vật ( tất nhiẽn là ì inh vật ĩrona sự liến hoa
cao nhất của giới tự nhiên). Thế nhưng con người là một sinh vặt đặc biệt, một sinh vật
cao cấp. Con người, ngay từ đầu đã không chiu thỏa mãn những nhu cáu cò iiữu -nhu
cầu thể xác, nhu cầu “chỉ sản xuất ra cái mà bản thăn nó hoác con no trưc tiếp cán đến",
“chỉ tái sản xuất ra bản thân nó” trên cơ sờ của cái sẵn có [rong giới tu nhiên, mà no còn
có nhu cầu “sản xuất ra một thế giới vật thể bãng việc cai tao giới tư nhiên vò cơ" va
còn có nhu cầu “ sản xuất theo quy luật của cái đep”. Chính xuát phát từ nhu cáu cải
biến giới tự nhiên vô cơ thành giới tự nhiên thứ hai, phuc vụ cho những nhu càu khăng
định nhàn tính của mình, khẳng định mình là một sinh vật có tính loài, là sinh vật sáng
tạo-tự do, và băng lao động sản xuất của mình- hành độna thực tiẻn, đã làm cho con
người tách khỏi giới tư nhiên, đứng đối diên với tự nhién và vì vậy trơ thành một "sinh
vật có tính loài”, là “ sinh vật-xã hội”. C.Mác đã gọi sư san xuất ra đời sống vàt chất là
“đời sống có tính loài tích cực của con .người”. “Nhờ sư sán xuất đó. giới tư rihién biếu
hiện ra là tác phám của
nó
(con người) và thưc tai của nó. Do dó dối tươno cua lao dộng
là
sư đối tượng hoa dời sóng có tính loai cùa con ngươi.
Vì con ncươi khòns phai cni
tư nhàn đôi mình lên một cách chi bằng trí óc, như trườns ỉicrp xaỵ ra [rons V thức , ma
còn tự nhàn đôi mình lên một cách tích cực, mỏt cách hièn thưc, và con người n.gám
nhìn bản thàn mình trong thế giới do mình sáng tạo ra” [29. 120]. Như Vày là : chính
người đang hành động, hiên thưc và chính là cũng xuất phát từ quá trình đời Sống hiộn
thực của họ ” [16, 37-38],
+ Con người là con nsười hiện thực-lịch sừ, là những cá nhân với " hành vi lịch
sử đầu tiên là hoạt động sản xuất ra đời sống vật chát". Học thuvết của các òng khỏng
phái xuất phát từ con người trừu tượrm, phi lịch sư, phi hiện thực mà là từ con người
hiện thưc -lịch sử, con người cu thể. aắn với từna mai đoan lịch sư nhất dinh : " Đó là
những cá nhàn hiên thực, là hoat động của họ và những điều kiện sinh hoat vật chát của
ho, những điều kiện mà ho thấy có sẩn cũng như những điều kiện do hoạt dộng của
chính họ tạo ra “ [29, 281-282]. Nói đến những cá nhàn hiện thưc thì cũng có nghĩa là
nói đến những con người đang sống, đans tồn tại và đang hoat động. Dĩ nhiên, con
người bao giờ cũng là con người lịch sử. Nhưng lịch sử không phai chỉ là lịch sử của
từns giai đoan nên2; lẻ. Lich sử còn là lích sử của giống người từ thời khới nsuvên, khi
oo.c?. . J
con người đầu tiên ( người khéo- homo habilis) đã đi vào cái xã hội đầu tièn, là cái cộng
đồng địa phương. Vì vậy, nói con n2UỜi- lịch sử. cu thể khônc có nghĩa chi là con
người của đuỵ nhất một giai đoan lịch sử cụ thể. một xã hội cu thể. mà nó còn có nghĩa
là con người của lịch sừ nói chung, là “ con naười của lịch sử con người”, nshĩa là con
người-phổ biến, con người “ mang bản chất loài", '‘bản chát nhân loại".
+ Các ỏns nhàn mạnh rằng, muốn tìm được bàn chất của con nsười hiện thực thi
trước hết phái xuất phát từ nhữníi tiền đề hiện thực, từ nhữns cú nhan con nsười iang
sóng, đang hoạt động. Nhũng con người đó phai đặt tronii mối liên hè , irons lự vãn
đông, phát triển với những điều kiện lịch sử cụ thể. Thưc tế lịch sư xã hội loài người
18
cũng đã chứng minh, nếu xét trona tính hiên thưc thì con nsười dù là để thỏa mãn nhu
cầu dời sống của bán rhân minh hay !à đề rao ra nhữna rhè hồ nếp theo, các cá nhan J0n
người cũng không thế tách rời, cò lập với Iihửng ngươi khác, ma phai co môi liên hê với
những người khác trong moi iTnh vưc hoat độns của mình. Đó là quan hệ xã hội. Vì vạy.
Mác mới kết luận : “ Sư sán xuát ra dời sórm- ra đời ìống của bán thán mình bãn,2 .ao
động, cũng như ra dời sống cua người khác bâng việc sinh con dẻ
cái-
19
thời đại khác, xã hội khác. BỜI lẽ cái xã hỏi mà anh ta dans sốnc, "xã nòi hiẽn 'on'’
khỏíig phải chỉ là xã hội hiện tai, nhữns mối quan hệ hiên tại. ma còn !à “toan bõ ja
nhân với những quan hệ của họ”, những mối quan hẽ của hiện tại. cua qua khư va cua
tương lai. Xã hội, dĩ nhiên là xã hội riêng bièt của từng giai đoan lịch sư. iổncr thơi nó
là xã hội của toàn thể loài người, xã hội nói chunc, phát triển cu ihế iroim iịcn 'U loai
người. Con người cũng là con nsười của từna 2Ĩai đoan, từng tâp doan xã hội nhát đinh,
đống thời nó là con người nói chung, con ngươi mang ban chất nhan loai, phai triển
trong toàn thể lịch sử loài người, con người phổ cập-cụ thế: " Con người chính là thé
giới con người, là nhà nước, là xã hội “ [14, 569]. Con ngươi sinh ra là rư do hay nò lệ
điéu đó không phải là do những phàm chất tư nhiên (-phấm chất bám sinh), ma đó là do
những phẩm chất xã hội đưa lại, và vì vậy, bản chất cùa con người là ban chát xã hội
cùa nó. Trong Hệ tư tường Đức, Mác và Àncshen nhản manh : ■■ xã hội tòn tại ĩrong
những cá nhàn như là tổng hòa của các mối quan hê ma ờ đó họ tham dư vào. Các cá
nhản tồn tại trong nhữníĩ mới quan hệ nàv chì với tư cách xác đinh bơi vì những phẩm
chất xã hội được thông qua bới những quan hè như thế. Trớ thành một nsười [ao động
làm thuè không phải do phám chát tự nhiẻn của cá nhan A, mà đó là một phẩm chut san
sinh do quan hè mà ở đó anh ta bị đối lâp với cá nhan B, là nsười mang phàm chất là
một “ nhà tư sàn”. Những phâm chát này chi tổn tai tron” chính nhửns quan hệ Jó"í49.
19]. Theo GS. Trần Đức Thảo, quan điếm '‘ban chất con người là toan diên (-Ờ đây Trán
Đức Thảo đùns khái mèm “tổng hoà” là “toàn diên”, H.V.N) các quan hệ xã hội" :un
được hiểu là sư biện chứng “kép”, '‘biện chứng hai tâng’’ : tàng dưới là nen tans góm
những quan hệ xã hội cộng sản nguyên thuv tái diễn trong quan hè xã hôị cộns dôns
của tuổi trẻ, sinh ra nhân cách đầu tiên của con nsười theo nghĩa cơ bản chung ( nhàn
cách phổ biến, mang tính loài, tính nhàn loai). Từ đó con nsười chuyển lên hệ thông
giai cấp. ơ đây phát triển trên hai mặt : một mật là cá nhãn nhàn cách, mãt khác là cá
nhàn lệ thuộc điểu kiện giai cấp. [39, 78].
Con người, trons lịch sử của mình, để trơ thanh ‘‘sinh vật có rinh loài”, đã đổng
thời thực hiện hai “sự phàn hóa”: 1. Sư phàn hóa thứ nhất là sư tách khoi giới rư nhiẽn
cùa con người, đứng đối lập với giới tư nhiên, bánII lao độns san \uát. tiến2 noi và quan
hay “giới tư nhiẻn là thân thể vò cơ cùa con người" hay ônơ đã xuất phát từ con người
có nguồn gốc giống người trong giới động vặt ( lịch sử của con người cũng chính là lịch
sử của giới rư nhiên). Biện chứng vì nó thõng nhát hai mặt màu thuẫn phát triển từ đây :
xã hội và con người; hay con người là một ihưc thể thòng; nhât giữa tính tự nhièn và tính
xã hội. Mác và Ảnaghen đã luôn đem cái nhìn biện chứns vào để xem xét và lv siải
mọi hiện tương. Trons cùng một thời điểm, sự vật vừa là nó ( tôn tại) vừa khònơ phải là
nó ( hư vô-khổng tòn tại), Vì vậy, bản chất con naười cũng vậy. các ông cũn? chỉ ra
ràng : trong xã hội có giai cấp , con người mang bán chất giai cấp rõ rệt, nhưng đồng
thời nó vẫn là con người theo nghĩa chung cua loài người, mans ban chất chuns-nhàn
loại-phổ biến, và ban chát chung-phổ biến nàv khòns phải ỉà cái iỉì khác hơn là sư thể
hiện đặc thù ờ từng cá nhàn ờ mỏi giai đoạn lịch sử-xã hội nhất định. Các õng viết :
■‘Con người là độna vật có xươns sống, trona ấy. tư nhiên đat tới V thức về mình'’ [39,
117]. Hay, con người là sản phám của lịch sử, đồng thời oũns là sàn phẩm của bản than
21
nó, rức là chính nó là chu the iàm ra lịch sư , và khi làm ra lịch sừ thi nó cũns làm ra
bản thân nó với tư cách con nguôi giai cấp. Ntiưna dõns thời nó vẫn ià tiên đề rhườn2
Lrực cua lịch sư loài người. Tức !à trong cùng thời man, nó vừa là ban than nó, (con
người giai cấp), vừa là cải khác (con người theo nghĩa loài người). [39. 118].
1.2.3. Phương thức tôn tai của con ngươi:
Hoat động thực tiễn, mà thành tố quan trons nhất là lao động sàn xuất vật chất
đã gắn kết “cái xã hội” và '4 cái sinh vật” trong con nsười và là cái quyết định nén bản
chất con người, là phương thức tón tại của con người.
Như vậy, hoat động sán xuất ra đời sống vật chất-lao độnơ sản xuẩt, đã là
phương thức sản sinh ra con người ( theo đúnơ nghĩa của nó, con nsười vói ý thức của
mình, với nhân cách vãn hoá ) và xã hội loài người-giới tư nhiên thứ hai của minh í giới
tự nhièn thứ nhất là giới tự nhièn thuần túy đã cấu thành nên con người, hav như Mác
nói đó là tư nhièn-võ cơ ), và do đó, hoạt độns thưc úẻn-lao độns cũng là phươns thức
tôn tai và phát triển đối với mỗi cá nhân và xã hòi loài người. Nhờ có lao dộng và thòns
qua lao dộne san xuất, con người trờ nén là " thưc thè tôc loại, một thưc thể có V thức”.
Chính vì con người là rnòt thực thế tộc loai, một thực thể có ý thức, "sinh hoạt cua bản
đời sống có tính loài tích cực của con người. Đó cũng chinh là đặc tínĩrhơn hản của
con người so với con vật, vì thế Víác mới khãns đinh, khi đối tương sản xuất của con
người bị tước đi. dẫn đến lao đôns bị tha hoá, thì cũng có nghĩa là tước đi của con người
“đời sông có tính loai
’ . Trong chẽ đô tư hữu. do lao đôna bị tha hóa nén đã dẫn đến kết
quả: ”làm cho thân thế của bản thàn con người, cũng như giới tư nhièn ở bèn ngoài con
người, bản chất
nhản loai
của con người, trò thành xa la với con người'’. (Bán chất
nhân loai ở đây chính là bán chất nhân vãn vòn có của con người. ) Kết qua trưc tiếp là
“con người bị làm cho trở thành xa la với con người" [29, 121]. Chính vì vậy, khi lao
động đối với con người không còn với tư cách là nhu cầu nội tại. là phươns thức tòn tại
và hoàn thiện nhàn cách của con người nữa. mà với tư cách là mòt “sự cột chật”, “sự
tha hóa”, “sự nỏ dịch” con người thì khi đó con naười tôn tại không phải với tư cách là
“nhàn tính tư do”- là con neười mang bản chất chung, phổ biến mà chi còn tôn tại với tư
cách là “con người lệ thuộc điều kiện giai cấp’’-con người mãt tư do- nsười còns nhân,
con người phi nhân tính- người tư sản. Đúna như lời nhận xét của Mác : “ Trong điều
kiện của lao dộng bị tha hoá, mỗi người xem xét nsười khác căn cứ vào thước đo và
quan hộ trong đó bàn thân mình tồn tại với tính cách là người còng nhàn-’[10, 95], và
người cỏng nhàn đó “ tồn tại không phải như con neười, mà như công nhân” [10, 105].
Sự hiện hữu của phám chất đăc thù của con naười đó chi là sư hiện hữu một cách trừu
tượng, vì đó khỏng phải minh với tư cách ià nhàn tính tự do. mà là nhàn tính mất tư do,
nhàn tính lệ thuộc điều kiện giai cáp. Mác viết : “ Sư tồn tai trừu tượna cua con người
coi như chì là con người lao độnơ (-con nơười lè thuộc đieu kiên giai cấp-, nhàn Linh
mất tự do, H.V.N)” [10, 1071. Do lao động bi tha hóa mà con nu ười đã tha hoa lừ chỗ “
23
con người vơi tính cách là con người (-nhãn LÍnh tư do. H.V.N) ‘‘ thành ra ‘‘ con ngươi
với tính cách bị bóp méo đi nào đó” [10, 119]. Mác cũng chỉ ra rãng, cuns "ơi ÌƯ jia
tãng của 3ự phong phú sản phẩm vật chất trong xã hội tư ban thì “ con người rrơ thành
ngày càng nghèo khổ với tính cách là con người” [10, 147].