tóm tắt Quan niệm của John Stuart Mill về bầu cử trong tác phẩm “Chính thể đại diện” và ý nghĩa của nó đối với Việt Nam hiện nay - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐINH THỊ QUỲNH ANH

QUAN NIỆM VỀ BẦU CỬ CỦA JOHN STUART MILL
TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN” VÀ
Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2016

Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐINH THỊ QUỲNH ANH

QUAN NIỆM VỀ BẦU CỬ CỦA JOHN STUART MILL
TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN” VÀ
Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

VIỆT NAM HIỆN NAY............................................................................................33
2.1. Hai nguyên tắc nền tảng cho quan niệm về bầu cử của J.S. Mill .............33
2.1.1. Nguyên tắc công lợi ..................................................................................33
2.1.2. Nguyên tắc về quyền tự do .......................................................................35
2.2. Quan niệm cơ bản về bầu cử của J.S. Mill trong “Chính thể đại diện” ..37
2.2.1. Mối quan hệ giữa chính thể đại diện và bầu cử .......................................37
2.2.2. Quan niệm về mở rộng quyền bầu cử.......................................................41
2.2.3. Quan niệm về quyền bầu cử cho phụ nữ ..................................................57
2.2.4. Quan niệm về quy trình bầu cử ................................................................62
2.2.5. Quan niệm về cách thức bỏ phiếu và nhiệm kỳ của Nghị viện .................66
2.3. Những giá trị và hạn chế chủ yếu trong quan niệm về bầu cử của J.S.
Mill trong “Chính thể đại diện” .........................................................................68

Footer Page 3 of 126.


Header Page 4 of 126.

2.3.1. Những giá trị chủ yếu trong quan niệm về bầu cử của J.S.Mill...............68
2.3.2. Những hạn chế chủ yếu trong quan niệm về bầu cử của J.S.Mill ............73
2.4. Ý nghĩa quan niệm về bầu cử của J.S. Mill trong “Chính thể đại diện”
đối với Việt Nam hiện nay ...................................................................................76
2.4.1. Ý nghĩa lý luận ..........................................................................................76
2.4.2. Ý nghĩa thực tiễn.......................................................................................80
KẾT LUẬN ..............................................................................................................87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................90

Footer Page 4 of 126.




V.I. Lê Nin, Toàn tập, Tập 33, Nxb Tiến bộ, M, .1976, tr.5.

1
Footer Page 5 of 126.


Header Page 6 of 126.

chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân
Việt Nam đều có hai quyền đó” (Tờ Cứu quốc phỏng vấn ứng cử viên Đại biểu
Quốc hội khoá đầu tiên, VietNamNet, 01/01/2006)
Phương Tây – là khởi nguồn của dòng tư tưởng xã hội dân chủ, nơi mà tất cả
các công dân có quyền được tham gia tối đa một cách thực sự vào các quyết định
chung cho sự phát triển, tồn vong của quốc gia. Dòng tư tưởng này đã thấm đẫm
vào thực tiễn đời sống chính trị, mang lại nhiều thành tựu quan trọng cho quá trình
hình thành, phát triển và kiện toàn bộ máy nhà nước tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong bối cảnh hội nhập và tiếp biến văn hóa toàn cầu hiện nay, chúng ta cần
nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá và tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng có giá trị
của phương Tây. Nghiên cứu triết học một cách nghiêm túc, chúng ta luôn ý thức
được tầm quan trọng của việc nghiên cứu những tư tưởng triết học vĩ đại trong lịch
sử tư tưởng nhân loại để lấy đó như bài học, kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển
của Việt Nam nói chung và công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam hiện nay nói riêng.
“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức”. Đó là tuyên bố trịnh trọng trong Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Điều 6 Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định “Nhân

tác phẩm nổi tiếng thể hiện ước mơ về một nhà nước lý tưởng, chúng ta cũng hoàn
toàn kinh ngạc khi đọc “Chính trị luận” của Aristotle,…cho đến “Khảo luận thứ hai
về chính quyền của” John Locke, “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu hay “Bàn
về khế ước xã hội” của Jean-Jacques Rousseau. Vấn đề nhà nước là gì, mục đích ra
đời của nhà nước ra sao, nhà nước có thể làm được gì và cơ chế hình thành nhà
nước như thế nào là những trăn trở, suy tư, phân tích chính của các triết gia. Một
vấn đề nan giải còn tồn tại chưa có cách giải quyết thỏa đáng đó là bằng cách nào để
có thể thiết lập được một hình thức nhà nước đại diện cho tất cả mọi người chứ
không phải số đông nhằm tổ chức một xã hội quy củ, hệ thống, đảm bảo hài hòa
quyền lợi của mọi người.
Xuất phát từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn như vậy, tác giả mong muốn
tìm tòi những tư tưởng về nhà nước trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Một triết gia
gây sự chú ý đặc biệt chính là J.S. Mill (J.S. Mill) – nhà tư tưởng nổi tiếng người
3
Footer Page 7 of 126.


Header Page 8 of 126.

Anh thế kỷ XIX, sự nghiệp chính trị và học thuật của ông có ảnh hưởng to lớn đến
công cuộc xây dựng hệ thống chính trị ở nhiều quốc gia trên thế giới. J.S.Mill
(1806-1873) được coi là người đại diện chính cho trường phái chủ nghĩa Công lợi
(Utilitarianism). Tư tưởng chính trị nổi bật của ông có thể coi là xuất phát từ lập
luận rằng mọi hành động của con người đều phải hướng tới việc mang lại tối đa
hạnh phúc (tức sự thỏa mãn các nhu cầu) cho đa số người. Học thuyết của ông đã có
đóng góp rất lớn trong việc đem lại các quyền tự do, dân chủ cho phụ nữ và tầng lớp
lao động ở nước Anh đầu thế kỷ XIX cũng như để lại nhiều bài học to lớn đối với
các quá trình thực hiện quản lý xã hội của các nhà nước dân chủ.
Nghiên cứu sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, J.S.Mill đã để lại một kho tàng các
tác phẩm tiêu biểu như “Bàn về tự do” (On Liberty, năm 1859), “Chính thể đại

chính trị của J.S.Mill chiếm số lượng khiêm tốn trong các đề tài nghiên cứu, đặc
biệt quan niệm về bầu cử của ông lại là một lĩnh vực nghiên cứu tương đối mới mẻ.
Trong số các tác phẩm của J. S. Mill, có hai tác phẩm được dịch ra tiếng Việt
đó là “Bàn về tự do” (Nguyễn Văn Trọng dịch, Nhà xuất bản Tri thức ấn hành lần

4
Footer Page 8 of 126.


Header Page 9 of 126.

đầu năm 2005) và “Chính thể đại diện” (Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn
dịch, giới thiệu và chú thích, Nhà xuất bản Tri thức ấn hành lần đầu năm 2008). Đây
là hai tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp của J. S. Mill. Các bản dịch của hai dịch
giả Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn cũng là những bản dịch công phu, tỉ
mỉ, có lời giới thiệu của người dịch phân tích đánh giá khái quát toàn bộ nội dung.
Đề tài "Tư tưởng chính trị phương Tây cận, hiện đại" do TS Ngô Huy Đức,
Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ nhiệm là đề tài
nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng chính trị. Đề tài dành chương II để nghiên cứu
về các tư tưởng của Mandison và Mill, trong đó, tư tưởng chính trị của J. S. Mill
được để cập thông qua các luận đề như quan niệm về con người chính trị, quan
niệm về thể chế chính trị, mối quan hệ giữa con người chính trị và thể chế chính trị.
Luận án Tiến sĩ Triết học của Ngô Thị Như (Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân Văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2012) với tên đề tài: “Triết
học chính trị của J.S. Mill – Giá trị và bài học lịch sử”, trình bày một cách hệ thống
triết học chính trị J.S.Mill và chỉ ra những nội dung cơ bản trong triết học chính trị
của ông. Luận án cũng phân tích và rút ra những giá trị, bài học lịch sử của triết học
chính trị J.S.Mill trong vấn đề tự do cá nhân, quyền lực nhà nước, dân chủ, bầu cử,
giáo dục và giải phóng phụ nữ, qua đó chỉ rõ những hạn chế của triết học chính trị
J.S.Mill thể hiện ở tính chủ quan, thiếu nhất quán và thiếu một cơ sở thực tiễn thể

Hobbes, J. S. Mill và Karl Marx. Trong công trình này, William Thomas nghiên cứu
về J. S. Mill theo từng luận điểm: tuổi thơ, nền giáo dục sớm, kinh tế chính trị học.
J. S. Mill được đánh giá như một nhân vật quan trọng của lịch sử tư tưởng thế kỷ
XIX, một nhà tư tưởng tiêu biểu của thời đại.
Luận án Tiến sỹ của John Mercel Robson (Đại học Toronto, Tháng 12, 1956)
với đề tài “The social and political thought of J.S. Mill” (Tư tưởng chính trị - xã hội
của J.S. Mill) đề cập quan niệm của Mill về Chính phủ song còn rất hạn chế. Tác
giả chủ yếu đi phân tích những tư tưởng chính trị xã hội nói chung của Mill như
Đạo đức học, Phương pháp khoa học hay một số vấn đề xã hội khác.
Cuốn “Mill on Democracy: From the Athenian Polis to Representative
Government” (Tạm dịch: Mill bàn về Dân chủ: Từ thành bang Athen đến Chính thể
Đại diện) của Nadia Urbinati, giáo sư chuyên nghiên cứu về Lý thuyết chính trị và
6
Footer Page 10 of 126.


Header Page 11 of 126.

lịch sử Hy Lạp thuộc Khoa Khoa học Chính trị của Đại học Columbia, Hoa Kỳ.
Công trình khoa học này được xem là nghiên cứu đầu tiên mang lại những kiến thức
sâu rộng về lý thuyết Dân chủ của Mill.
Cuốn sách “Tư tưởng chính trị của J.S. Mill” được nhà xuất bản Đại học
Cambridge xuất bản năm 2007 của hai tác giả Nadia Urbinati và Alex Zakaras đã
đưa ra một cách đánh giá lại (theo cách diễn đạt của các tác giả) về giá trị trong tư
tưởng chính trị Mill. Trong cuốn này, các tác giả cố gắng liệt kê những bài viết đề cao
giá trị triết học chính trị của Mill, từ đó các tác giả đưa ra nhận định riêng của mình về
sức hấp dẫn của những ý tưởng đặc sắc trong tư tưởng J.S. Mill.
Tựu chung, có thể nói rằng góc độ tiếp cận triết học chính trị J.S.Mill của các
tác giả trên thế giới thường tập trung nghiên cứu cả hệ thống tư tưởng hoặc những
tư tưởng chính trị của ông. Quan niệm của J.S.Mill về bầu cử chỉ được nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp khác
như: phương pháp phân tích – tổng hợp, logic – lịch sử, hệ thống – cấu trúc, đồng
thời sử dụng phương pháp tiếp cận từ góc độ chính trị - pháp lý.
6. Đóng góp của luận văn
- Đóng góp về mặt lý luận: Luận văn đã phân tích một cách tương đối hệ
thống và đầy đủ những điều kiện, tiền đề hình thành quan niệm bầu cử của J.S.Mill;
những nội dung cơ bản trong quan niệm về bầu cử của Mill trong “Chính thể đại
diện” và chỉ ra ý nghĩa của nó đối với việc đổi mới bầu cử ở Việt Nam hiện nay. Do
đó, luận văn góp phần vào việc khẳng định giá trị hệ thống tư tưởng chính trị của
J.S.Mill, đặc biệt là tư tưởng về bầu cử của ông.
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho công tác học tập và nghiên cứu của sinh viên, học viên cao học và những người
quan tâm đến triết học chính trị của J.S. Mill.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
2 chương, 7 tiết.

8
Footer Page 12 of 126.


Header Page 13 of 126.

NỘI DUNG
Chƣơng 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM
CỦA J.S.MILL VỀ BẦU CỬ TRONG TÁC PHẨM CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN
1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX
Thứ nhất, cuộc cách mạng tư sản Anh thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX

mạng đã đánh dấu sự thắng lợi của liên minh giữa tư sản và quý tộc mới, có ý nghĩa
to lớn đối với tiến trình phát triển của lịch sử thế giới. Đối với nước Anh, cuộc
thắng lợi này đã mở đường thênh thang cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Đối với thế
giới, cách mạng tư sản Anh đã đánh dấu thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang
tư bản chủ nghĩa.
Thứ hai, cuộc cách mạng công nghiệp Anh thế kỷ XVIII thay đổi một cách
căn bản diện mạo nước Anh.
Cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, ở châu Âu đã diễn ra một bước nhảy
vọt phát triển mới trong lĩnh vực sản xuất đó là cuộc cách mạng nhằm mục đích cơ
khí hóa nền sản xuất thay thế cho lao động thủ công, thực chất cuộc cách mạng này
là sự thay đổi về mặt kỹ thuật để tăng năng suất lao động cao hơn so với thời kỳ tư
bản chủ nghĩa và để củng cố nền tảng mới.
Anh là nước đầu tiên ở châu Âu diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp này, có
thể nói nguyên nhân là do nước Anh là nước đầu tiên tiến hành cách mạng tư sản
với sự phát triển lực lượng sản xuất mạnh mẽ nhất hay cụ thể là Anh hội đủ ba điều
kiện chính để tiến hành cách mạng công nghiệp. Đầu tiên, Anh là nước có cách
mạng tư sản nổ ra sớm đưa chính quyền thuộc về giai cấp tư sản, khi chế độ phong
kiến sụp đổ, giai cấp tư sản tiếp tục củng cố vị thế của mình bằng cách phát triển về
kinh tế mà chỉ có cách mạng công nghiệp mới có thể đáp ứng được yêu cầu đó, mục
đích là tạo ra một phương thức sản xuất mới thay thế phương thức sản xuất phong
kiến đã lỗi thời. Điều kiện thứ hai là do kinh tế tư bản phát triển mạnh mẽ ở nước
Anh, đặc biệt là công nghiệp. Thứ ba là do Anh có một hệ thống thuộc địa rộng lớn,
đủ điều kiện để cho nước Anh tích lũy tư bản nguyên thủy ban đầu (vốn ban đầu).
Trong tất cả các điều kiện trên, có thể nói tích lũy tư bản nguyên thủy là việc vô
cùng quan trọng để Anh có thể tiến hành được cách mạng công nghiệp vì có một
nguồn vốn thặng dư lớn sẽ giúp nước Anh luôn sẵn sàng quay vòng sản xuất.

10
Footer Page 14 of 126.


sáu ngày trong một tuần. Tình trạng thất nghiệp thêm nghiêm trọng và có xu hướng

11
Footer Page 15 of 126.


Header Page 16 of 126.

tăng cao đã khiến cả phụ nữ và thậm chí là cả trẻ em cũng phải làm việc trong các
nhà máy để kiếm sống. Từ hiện thực vô cùng khắc nghiệt này dẫn đến những cuộc
đấu tranh của công nhân mà bắt đầu là phong trào đập phá máy móc, phong trào này
diễn ra bộc phát và không đạt được nhiều thành công. Đặc biệt, vị trí và quyền lợi
của phụ nữ trong xã hội rất thấp kém, họ bị đàn áp, bóc lột và không có quyền được
tham gia vào các công việc xã hội. Nhiều nhà tư tưởng đã lên tiếng bênh vực cho
phụ nữ, đòi quyền đi bầu cho họ. Ngoài ra, tình hình đất nước sau cách mạng cũng
gặp phải rất nhiều khó khăn cho công tác tổ chức nhà nước, quản lý xã hội.
Xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội như vậy đã thôi thúc các nhà tư tưởng
lúc bấy giờ mong muốn tìm ra cách giải quyết những tình trạng đó và J.S. Mill là
một đại diện tiêu biểu. Với một nhà tư tưởng lớn, chưa bao giờ thỏa hiệp trong công
cuộc đấu tranh cho công bằng, tự do, dân chủ như J.S.Mill, ông suy tư, trăn trở cho số
phận những kiếp người khốn khổ, bị ức hiếp trong xã hội, những con người không có
những “quyền cơ bản” của một con người, để từ đó đã cho ra đời hàng loạt các tác
phẩm mang tính triết học, đạo đức, chính trị, xã hội vĩ đại của mình.
1.1.2. Bối cảnh văn hóa - chính trị nước Anh cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX
Muốn hiểu rõ và sâu sắc những tư tưởng và luận giải của Mill trong “Chính
thể đại diện” không thể không có cái nhìn khái quát về tình hình chính trị Anh ở
thời kỳ này.
Sau cách mạng, thắng lợi thuộc về liên minh giữa giai cấp tư sản và tầng lớp
quý tộc mới, hình thức chính thể Cộng hòa nghị viện được thiết lập mà quyền lực
tối cao được tập trung trong vào Hạ nghị viện. Nhưng chính thể này không tồn tại

những lập luận của mình. Tầng lớp lao động và cả tầng lớp trung gian trong xã hội
cũng bị tước đoạt quyền chính trị.
Ở Thượng viện là sự tranh chấp quyền lực của Đảng Whig (nay là Đảng Dân
chủ tự do) và Đảng Tory (nay là Đảng Bảo thủ). Đảng Tory có quan hệ với giới
thượng lưu và Giáo hội Anh, trong khi đảng Whig gần gũi hơn với giới nghiệp
đoàn, tài chính và chủ đất. Hai đảng này thay nhau quản lý đất nước và tranh chấp
để giành đa số ghế trong nghị viện. Nhìn chúng, cả hai đảng đều bảo vệ quyền lợi
cho giai cấp tư sản và quý tộc thượng lưu, củng cố quyền thống trị của giai cấp tư
sản. Hình thức quân chủ lập hiến này khác hẳn so với hình thức nhà nước quân chủ
chuyên chế trước đây của Anh, ở hình thức mới, Thủ tướng và nội các chính phủ

13
Footer Page 17 of 126.


Header Page 18 of 126.

thuộc về tay đảng nào chiếm đa số ghế trong nghị viện do đảng có cử ra và ủng hộ.
Thủ tướng và nội các chỉ chịu trách nhiệm trước nghị viện chứ không thông qua
vương quyền.
Bối cảnh văn hóa tinh thần phương Tây thời Mill chứng kiến cuộc khủng
hoảng tinh thần hậu cách mạng tư sản và cách mạng công nghiệp. Hai cuộc cách
mạng to lớn đã thay đổi tận gốc rễ các điều kiện kinh tế-xã hội, văn hóa và kỹ thuật,
nó xuất phát từ nước Anh rồi sau đó lan tỏa ra toàn thế giới. Bên cạnh những tiến bộ
xã hội không thể phủ nhận của một giai đoạn lịch sử sôi động, hai cuộc cách mạng
cũng để lại những nhiệm vụ to lớn không giải quyết được – chính những nhiệm vụ
này lại là căn nguyên dẫn đến đấu tranh, phản đối trong xã hội Anh.
Cuộc cách mạng tư sản diễn ra đã mở đường cho một bước phát triển ngoạn
mục của giai cấp tư sản khi chế độ phong kiến phản động đã bị lật đổ, mọi quyền lợi
giờ đã thuộc về tay giai cấp tư sản, tuy nhiên lực lượng mạnh mẽ sát cánh và quyết

Nhìn chung, ảnh hưởng của các nhà tư tưởng đi trước đối với sự hình thành
hệ thống triết học chính trị - xã hội J.S. Mill có thể kể đến như: Jeremy Bentham,
James Mill, Wilhelm von Humboldt… Đặc biệt, xem xét dưới hệ thống quan điểm
của J.S. Mill trong “Chính thể đại diện” mà phạm vi nghiên cứu là quan niệm về
bầu cử của ông thì không thể không kể đến ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc của các nhà
tư tưởng: Jeremy Bentham (1748 – 1832), Alexis Tocqueville (1805 - 1859),
Thomas Hare (1806 – 1891). Trước hết, tác giả luận văn đi phân tích những nét tư
tưởng chính của những tư tưởng có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của J.S. Mill
về bầu cử.
1.2.1. Thuyết công lợi của Jeremy Bentham
Jeremy Bentham (1748 – 1832) là một triết gia kiêm nhà cải cách xã hội
người Anh, ông là cha đẻ của Thuyết Công lợi (Utilitarianism), ông cho rằng lợi ích
cá nhân hoàn toàn đồng nhất với lợi ích xã hội. Ông giữ một vị trí quan trọng trong
lịch sử văn hóa tinh thần của nước Anh.
Jeremy Bentham khai triển đạo đức công lợi, theo ông, tính chất tốt hay xấu
của một hành vi được đo lường theo tính lợi ích của nó, nghĩa là theo cái gì đem lại
cho chúng ta tối đa “khoái lạc” và tối thiểu “khổ đau”. Học thuyết đạo đức và chính
trị này của Bentham bắt nguồn từ việc ông không hài lòng với những cơ sở lý
thuyết về luật pháp hiện hành và cách áp dụng luật tại các tòa án. Ông cho rằng
những cơ sở bất hợp lý và hỗn loạn của những hệ thống pháp lý và cấu trúc xã hội

15
Footer Page 19 of 126.


Header Page 20 of 126.

lúc bấy giờ là nguyên nhân gây ra bất ổn chính trị. Các tác phẩm chính của Bentham
có thể kể tới như “Những đối thoại của Chính phủ” (1776), “Về các nguyên tắc đạo
đức và pháp luật (xuất bản năm 1789), “Cải cách Nghị viện” (1817), “Đạo đức học

Header Page 21 of 126.

công lợi theo quan niệm của Bentham không đồng nhất với mức độ thỏa mãn của cá
nhân trong sự gắn liền với các hoạt động xã hội rộng lớn. Những quan niệm số học
về khoái lạc hay coi sự thỏa mãn về thể chất cũng giống như tinh thần là những
điểm yếu ở Bentham mà sau này được Mill khắc phục. Khi còn trẻ, Mill ảnh hưởng
rất nhiều từ Bentham. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với các nhà tư tưởng Pháp và một số
nhà tư tưởng Anh tiền bối, ông đã có những ý nghĩ khác xa so với Bentham, đặc
biệt là trong quan niệm về chất lượng khoái lạc. Mặc dù tiến bộ về nhiều mặt so với
Bentham nhưng chúng ta cũng không thể không thừa nhận ảnh hưởng mạnh mẽ từ
nhà tư tưởng này tới J.S. Mill.
1.2.2. Tư tưởng dân chủ của Alexis de Tocqueville
Alexis de Tocqueville (1805 – 1859) sinh ra ở Pháp nhưng dấu ấn cuộc đời
và sự nghiệp lại gắn chặt với nước Mỹ. Cho đến tận ngày nay, ông vẫn được coi là
“một huyền thoại” của nước Mỹ - đất nước mà ông thông hiểu hơn chính quê hương
Pháp. Tocqueville từng đảm đương những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà
nước Pháp như đại biểu Quốc hội (1839 – 1848), Phó Chủ tịch Quốc hội và Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Pháp (1849).
Sau những biến cố khi cách mạng Pháp nổ ra (1848 – 1849), Tocqueville tìm
đường sang nước Mỹ với niềm mong mỏi lớn lao sẽ học tập được nhiều điều về mô
hình chính trị kiểu mẫu của Mỹ để giúp xây dựng nền chính trị Pháp.
Không chỉ ở Mỹ, Tocqueville còn đến Anh để nghiên cứu hệ thống chính trị
ở quốc gia này. Ông đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu hệ thống chính trị của
Hoa Kỳ và cho ra đời rất nhiều khảo luận về lĩnh vực này. Tác phẩm “Nền dân trị
Mỹ” (Nguyên bản có tên: Democracy in America) là một trong những khảo luận
đầu tiên, sâu sắc nhất và nổi tiếng nhất về lĩnh vực này. Tác phẩm được xuất bản
phần 1 vào năm 1835 và phần 2 vào năm 1840. Trong tác phẩm này, Tocqueville đã
thẳng thắn chỉ ra những nguy cơ của nền dân chủ Hoa Kỳ. Ông lo ngại ý kiến của
quần chúng có xu hướng tạo ra tình trạng chuyên chế và chế độ cai trị theo số đông số
học có thể cũng có tính chất đàn áp không khác gì một kẻ chuyên quyền (Nền dân trị

phải là số đông số học. Mill đã trăn trở rất nhiều về mối nguy hiểm của dân chủ, đó
là sự đàn áp của đa số lên cá nhân hay thiểu số. Trong “Chính thể đại diện” Mill đã
dành một dung lượng đáng kể để phân tích về vấn đề này.
Bên cạnh nguyên tắc “nhân dân tối thượng”, nguyên tắc “tự do và bình
đẳng” chính là tư tưởng nổi bật của Tocqueville có ảnh hưởng đến Mill. Tự do và

18
Footer Page 22 of 126.


Header Page 23 of 126.

bình đẳng là giá trị căn bản của con người nó dành cho tất cả mọi người trên thế
giới không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, chính trị, văn hóa. Tự do theo
nghĩa truyền thống là các quyền tự nhiên bất khả xâm phạm nên còn gọi tự do Hiến
định nhằm bảo tính độc lập tự chủ và nhân phẩm của con người trước những chèn
ép về chính trị, xã hội, tôn giáo... J.S. Mill hiểu tự do theo nghĩa “tự do của mỗi
người tìm thấy giới hạn của mình trong tự do của người khác và tự do xã hội là ranh
giới giữa sự kiểm soát xã hội và sự độc lập cá nhân” [35, tr. 9]. Tocqueville phân
loại ra làm hai loại là tự do quý tộc và tự do dân chủ. Nếu xã hội tồn tại tự do quý
tộc, thì sự tự do này được xem như một đặc quyền dành cho một số người chứ
không thuộc về toàn bộ thành viên trong xã hội. Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng
giữa người tự do và người không tự do. Còn trong xã hội tồn tại tự do dân chủ, sự tự do
đó có mối quan hệ mật thiết với bình đẳng, phục tùng những nguyên tắc của bình đẳng.
Ngoài hai nguyên tắc trên, Mill cũng thấm đẫm những tư tưởng độc đáo khác
của Tocqueville trong tác phẩm “Nền dân trị Mỹ”. Mill đã sử dụng khá nhiều cụm từ
mà Tocqueville đã nhắc đến trước đó là “chuyên chế của đa số”. Quyền tự do trong xã
hội dân chủ được ủng hộ mạnh mẽ, khác hẳn so với ở chế độ độc tài. Tuy nhiên, nó
cũng có mặt trái, vì không bị áp đặt dưới sự chuyên quyền nên dễ xảy ra nhiều tranh
cãi, bất đồng ý kiến mà phần thắng thường thuộc về đa số. Chính ở điểm này Mill chịu

phương cách giảm thiểu chuyên chế của đa số: “trong mức độ như vậy, điều này có
thể đem lại quyền bầu cử cho nhóm thiểu số mà nếu không thế thì những quyền ấy
đã bị tước đoạt thực sự” [34, tr. 218].
Một lợi ích khác nữa mà hệ thống của ông Hare đem lại, đó là, kể cả cử tri
bầu cho ứng viên địa phương của họ mà ứng viên đó không đủ số lá phiếu để được
đại diện thì lá phiếu của họ vẫn có thể đem lại sự đại diện đối với ứng viên nào đó ở
một địa phương khác. Bởi vì, trong lá phiếu của họ được ghi tên những ứng viên họ
bầu cho theo thứ tự ưu tiên, và “cần thiết phải để cho số phiếu được tính cho người
đắc cử không vượt quá chỉ tiêu, dù cho ứng viên có thể thu được nhiều đến đâu đi
nữa: số phiếu còn lại bầu cho anh ta có thể có phiếu bầu tính cho người tiếp theo
trong những danh sách tương ứng cần đến những phiếu ấy, và nhờ số phiếu còn lại
ấy mà người đó hoàn tất được chỉ tiêu” [34, tr.219]. Bằng cách này, bất kể cử tri nào
cũng sẽ tìm được cho mình người đại diện. Ngoài ra, tính minh bạch của bầu cử
cũng được đề cao “những lá phiếu và tất cả các yếu tố tính toán có thể đặt ở nơi lưu
trữ mà tất cả những ai quan tâm đều có thể tiếp cận được; và nếu bất cứ ai thu được

20
Footer Page 24 of 126.


Header Page 25 of 126.

chỉ tiêu mà không đắc cử một cách sai trái thì người ấy dễ dàng có thể chứng minh
được điều đó” [34, tr. 220].
Trích dẫn cuốn “Luận thuyết về Bầu cử các Đại biểu” của ông Hare, Mill
đánh giá rất cao: “Càng nghiên cứu những công trình này sâu hơn, càng có ấn tượng
mạnh mẽ hơn về tính khả thi hoàn hảo của kế hoạch và những lợi thế phi thường
của nó, tôi xin mạnh dạn dự đoán như thế” [34, tr. 221]. Mill đánh giá “kế hoạch
của ông Hare thuộc loại những cải tiến vĩ đại nhất từng được tạo nên trong lý thuyết
và thực hành chính quyền” [34, tr. 221], bởi nó đảm bảo cho sự đại diện tỷ lệ theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status