Tình hình phát triển kinh tế và vị thế của nền kinh tế EU trên thế giới và
đối với Việt Nam hiện nay
Nội dung
Chương 1. Khái quát chung về Liên minh Châu Âu ( EU)
1.1. Các thành viên của Liên minh Châu Âu
Lịch sử của Liên Minh Châu Âu bắt đầu từ chiến tranh thế giới thứ II. Có
thể nói rằng ý tưởng về hội nhập châu Âu đã được nhận thức sẽ giúp ngăn chặn
việc giết chóc và phá hủy không xảy ra nữa. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Robert
Schuman là người đã nêu ra ý tưởng và đề xuất lần đầu tiên trong một bài phát
biểu nổi tiếng ngày 9 tháng 5 năm 1950. Cũng chính ngày này là ngày mà hiện
nay được coi là ngày sinh nhật của EU và được kỉ niệm hàng năm là Ngày Châu
Âu. Ban đầu, EU bao gồm 6 quốc gia thành viên là: Bỉ, Đức, Italia, Luych-xam-
bua, Pháp và Hà Lan.
Các nước Đan Mạch, Ailen, và Anh gia nhập vào năm 1973. Hy Lạp gia
nhập 1981.
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha gia nhập 1986.
Áo, Phần Lan và Thụy Điển gia nhập 1995.
Kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2004, EU đã chính thức kết nạp thêm 10 thành
viên mới là Séc, Hungari, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia,
Malta và Kypros (Cộng hòa Síp).
Ngày 1/1/2007, Romania & Bulgaria, hai quốc gia Đông Nam Âu đã gia
nhập EU, nâng tổng số thành viên của Liên Minh Châu Âu lên 27 Quốc Gia
Thành Viên.
+ Diện tích : 4.000.000 km2
+ Dân số : khoảng 493 triệu người
+ GDP : khoảng 13.000 tỷ USD (2006)
+ GDP/đầu người : 29.000 USD/năm (2006)
1.2. Lịch sử hình thành
1
Một châu Âu hòa bình - Mục tiêu ban đầu của sự hợp tác (1945-1959). Ý
tưởng hợp nhất châu Âu thành một liên minh với hy vọng về hòa bình và hiểu
dự án hỗ trợ việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng. Năm 1979, Nghị viện châu Âu
lần đầu tiên áp dụng chế độ bầu cử trực tiếp; vai trò của Nghị viện được tăng
cường đối với các vụ việc trong nội bộ liên minh.
Một châu Âu đầy biến động (1980-1989). Tháng 9-1989, chính trường châu
Âu trở nên phức tạp do sự sụp đổ của bức tường Béc-lin, bức tường ngăn cách
Tây Đức và Đông Đức trong suốt 28 năm. Trước đó, năm 1981, Hy Lạp trở
thành thành viên thứ 10 của EU; 5 năm sau đến lượt Tây Ban Nha và Bồ Đào
Nha. Năm 1986, Hiệp ước về “châu Âu duy nhất” được thông qua nhằm xóa bỏ
những rào cản về lưu thông tự do hàng hóa trong liên minh trong vòng 6 năm;
cùng sáng kiến thành lập "thị trường duy nhất" của châu Âu cũng được thông
qua.
Hiệp ước Liên hiệp Châu Âu (hay còn gọi là Hiệp ước Maastricht) ký ngày
7/2/1992 tại Maastricht (Hà Lan), nhằm mục đích thành lập liên minh kinh tế và
tiền tệ vào cuối thập kỷ 90, với một đồng tiền chung và một Ngân hàng trung
ương độc lập, thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một
chính sách đối ngoại và an ninh chung để tiến tới có chính sách phòng thủ
chung, tăng cường hợp tác về cảnh sát và luật pháp.
Hiệp ước này đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa Châu
Âu. Cụ thể:
Liên minh chính trị:
- Tất cả các công dân của các nước thành viên được quyền tự do đi lại và cư
trú trong lãnh thổ của các nước thành viên.
- Được quyền bầu cử và ứng cử chính quyền địa phương và Nghị viện châu
Âu tại bất kỳ nước thành viên nào mà họ đang cư trú.
- Thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung trên cơ sở hợp tác
liên chính phủ với nguyên tắc nhất trí để vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia trên
lĩnh vực này.
- Tăng cường quyền hạn của Nghị viện châu Âu.
3
- Mở rộng quyền của Cộng đồng trong một số lĩnh vực như môi trường, xã
25/6/1991. Ngày 26/3/1995, Hiệp ước này mới có hiệu lực tại 7 nước thành
viên. Hiệp ước quy định quyền tự do đi lại của công dân các nước thành viên.
Đối với công dân nước ngoài chỉ cần có visa của 1 trong 9 nước trên là được
phép đi lại trong toàn bộ khu vực Schengen. Hiện nay, 14/15 nước thành
viên EU đã tham gia khu vực Schengen (trừ Anh).
Hiệp ước Nice (7-11/12/2000): tập trung vào vấn đề cải cách thể chế để đón
nhận các thành viên mới đồng thời tăng cường vai trò của Nghị viện châu Âu,
thành lập Lực lượng phản ứng nhanh (RRF).
Theo luật của EU, Hiệp ước Nice cần được nghị viện của tất cả các nước
thành viên thông qua mới có hiệu lực. Hiện nay, quá trình này đang được tiến
hành trong các quốc gia thành viên.
1.3. Cơ cấu tổ chức
EU có bốn cơ quan chính là : Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban châu Âu, Nghị
viện châu Âu, Toà án châu Âu.
Hội đồng Bộ trưởng :
Chịu trách nhiệm quyết định các chính sách lớn của EU, bao gồm các Bộ
trưởng đại diện cho các thành viên. Các nước luân phiên làm Chủ tịch với nhiệm
kỳ 6 tháng. Giúp việc cho Hội đồng có Uỷ ban đại diện thường trực và Ban
Tổng Thư ký.
Từ năm 1975, người đứng đầu Nhà nước, hoặc Chính phủ, các Ngoại
trưởng, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban châu Âu có các cuộc họp thường kỳ để
bàn quyết định những vấn đề lớn của EU. Cơ chế này gọi là Hội đồng châu Âu
hay Hội nghị Thượng đỉnh EU.
Uỷ ban Châu Âu :
Là cơ quan điều hành gồm 20 Uỷ viên, nhiệm kỳ 5 năm do các Chính phủ
nhất trí cử và chỉ bị bãi miễn với sự nhất trí của Nghị viện Châu Âu. Chủ tịch
hiện nay là ông Rô man nô Prô đi, cựu Thủ tướng Italia (được bầu tại cuộc họp
Thượng đỉnh EU bất thường ngày 23/3/1999 tại Berlin). Dưới các Uỷ viên là các
Tổng Vụ trưởng chuyên trách từng vấn đề, từng khu vực.
5
được rộng mở, di sản văn hóa của toàn châu Âu thêm phong phú. Một châu Âu
giàu có về vốn hiểu biết và kinh nghiệm chính là chìa khóa của sự tăng trưởng
mạnh, việc làm và sự hoà hợp xã hội. Người dân EU được sống bình đẳng, đầy
đủ quyền tự do đi lại, học tập và sinh sống thuận lợi trong toàn liên minh.
Sự phồn vinh đã đến với liên minh khi người dân ở đây được hưởng mức
sống với những tiêu chuẩn xã hội cao. EU đã thành công khi tạo dựng hình mẫu
xã hội châu Âu công bằng và dân chủ. Không những thế, khối thị trường chung
dần phát triển thành thị trường duy nhất - khu vực trao đổi thương mại rộng lớn
nhất trên thế giới. Đồng ơ-rô là biểu tượng thành công cho tiến trình nhất thể
7
hóa kinh tế của EU, mang đến cho người dân EU những cơ hội tốt nhất trong
việc lựa chọn sản phẩm với giá cả cạnh tranh. 2.1.1. Lạm phát
Tỷ lệ lạm phát khá bình ổn và không cao, cụ thể: Lạm phát ở khu vực sử
dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đến tháng 9/2006 là 1,7. Trong số các
nước thành viên của Eurzone, Phần Lan là nước có tỷ lệ lạm phát thấp nhất
(0,8%) trong khi 2 nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Pháp có tỷ lệ lạm phát
lần lượt là 1% và 1,5%.
2.1.2. Tăng trưởng kinh tế của Liên minh châu Âu
Nói đến EU chúng ta nghĩ đến một nền kinh tế hùng mạnh, một trong 3 đầu
tàu của kinh tế thế giới (Mỹ, EU, Nhật Bản). Mỗi sự thay đổi nhỏ trong nền kinh
tế của các nước này đều gây ảnh hưởng đến kinh tế của các nước khác ngoài khu
vực. Ta có thể điểm qua tình hình tăng trưởng kinh tế trong nhưng năm gần đây
nhất của EU như sau:
Thứ nhất, là tình hình tăng trưởng kinh tế trong năm 2006. Năm 2006,
kinh tế Liên minh Châu Âu cải thiện rõ rệt. Theo đánh giá của Cao uỷ phụ trách
các vấn đề kinh tế tiền tệ của EU, châu Âu đang ngày càng ít phụ thuộc hơn vào
nền kinh tế Mỹ. Tăng trưởng kinh tế của EU25 đạt 2,8%, cao hơn 1,1% so với
kinh tế khu vực đồng tiền chung châu Âu gồm 13 nước thành viên sẽ tăng
trưởng 3% năm 2007
Môi trường kinh doanh không ngừng khởi sắc đang tạo ra xu thế tăng trưởng
khả quan cho ngành công nghiệp Eurozone; đàu tư ngày càng bùng nổ đang
củng cố triển vọng sáng sửa của nền kinh tế Eurozone trị giá 8.000tỷ Euro, sau
khi khu vực này đạt mức tăng yếu ớt trong quý I/2007, do ảnh hưởng của việc
Đức tăng thuế giá trị gia tăng (VAT) từ 16% lên 19% kể từ đầu tháng 1/07 và
chi tiêu tiêu dung trong khối giảm sút.
9