Phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT) của đài loan và trung quốc: kinh nghiệm đối với việt nam - Pdf 28

Phạm Quang Diệu 2001
Phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT) của đài loan và
trung quốc: kinh nghiệm đối với việt nam
Phát triển CNNT ở Đài Loan
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Đài Loan rơi vào khủng hoảng trầm trọng:
thu nhập bình quân dưới 200 USD/người, lạm phát cao, dân số tăng 3,5%/năm; tỷ
lệ đất nông nghiệp trên đầu người thấp, 0,2 ha/người; tỷ lệ thất nghiệp lên tới 50%.
Tuy nhiên bắt đầu thập kỷ 50, kinh tế Đài Loan đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh,
liên tục và bền vững, cơ cấu kinh tế chuyển đổi ổn định từ nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ, đưa Đài Loan thành nước công nghiệp mới của châu á. Giai
đoạn 1950-80, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người hàng năm đạt trên
12%. Những yếu tố tạo nên sự thần kỳ của nền kinh tế Đài Loan có thể kể đến là:
đầu tư phát triển nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm cơ sở để phát triển công nghiệp;
chiến lược công nghiệp hoá hướng ngoại, phát triển công nghiệp đều khắp giữa các
vùng; vai trò hỗ trợ hợp lý của chính phủ.
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Đài Loan
1962-65 1966-75 1976-85 1986-95
Tốc độ tăng trưởng(%/năm)
GDP
Công nghiệp
Nông nghiệp
Dịch vụ
GNP đầu người/năm
10,1
13,3
6,6
10,3
194,5
9,4
14
1,7

khẩu nông sản chế biến, từ các sản phẩm thô như đường, chuối, chè....chuyển dần
sang các sản phẩm chế biến đóng hộp như nấm, dứa, mã thầy. Cuối thập kỷ 70 đầu
80, Đài Loan tập trung quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp ở nông thôn,
hướng mạnh sang các ngành công nghiệp nhẹ, hàng điện tử, nông sản chế biến chỉ
còn tập trung vào một vài mặt hàng có lợi thế so sánh như đồ hộp, thực phẩm đông
lạnh. Một đặc điểm đáng lưu ý là trong từng giai đoạn nhất định, Chính phủ thay
đổi chiến lược phát triển nhằm hỗ trợ cho những ngành công nghiệp nội địa được
lựa chọn ưu tiên trong từng thời kỳ, trong đó có các ngành CNNT. Chiến thuật phổ
biến là Chính phủ chọn ra các ngành công nghiệp mới có triển vọng hay các ngành
cần đầu tư chuyển đổi công nghệ và áp dụng chiến lược bảo hộ, khi các doanh
nghiệp này đủ mạnh, Chính phủ chuyển sang áp dụng chiến lược thúc đẩy cạnh
tranh, khuyến khích xuất khẩu.
Giai đoạn từ 50 đến 70
Đầu thập kỷ 50, Đài Loan phải đối mặt nghiêm trọng với tình trạng dư thừa
lao động nông thôn và khan hiếm về vốn. Giai đoạn này, chiến lược phát triển kinh
tế của Đài Loan tập trung vào các mục tiêu: ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện cán cân
thanh toán, đẩy mạnh phát triển công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động, phát triển
công nghiệp ở nông thôn. Để có thị trường tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp,
Chính phủ hướng sản xuất vào thị trường nội địa và thực hiện chiến lược thay thế
nhập khẩu nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Cuối thập kỷ 50, do sức mua của thị
trường nội địa trở nên bão hoà, đe doạ kìm hãm tăng trưởng của nền kinh tế, Đài
Loan đã chuyển sang chiến lược phát triển hướng ngoại, tập trung đầu tư phát triển
các ngành công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu. Một loạt chính sách được áp
dụng nhằm đạt được mục tiêu trên:
• Nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm
• Đầu tư vào khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ
• Quy hoạch vùng nguyên liệu, áp dụng chính sách giá thu mua hợp lý, đảm bảo
ổn định nguồn cung cho các doanh nghiệp chế biến
• Thúc đẩy cạnh tranh
• Thực hiện thuế ưu đãi

250
300
350
1966 1982 1987 1992 1997
1000 §µi tÖ
0
10
20
30
40
50
%
Thu nhËp n«ng nghiÖp
Thu nhËp phi n«ng nghiÖp
Lao ®éng trong n«ng nghiÖp (%)
Nguồn: Council of Taiwanese agriculture. 1999
Phạm Quang Diệu 2001
Đường
Đồ hộp
Thực phẩm đông
lạnh
Bột ngọt
110,7 (79,8)
10
-
-
135,4 (29,2)
83 (12,3)
0,4 (0,05)
-

sản xuất tràn lan dẫn đến sản lượng tăng quá nhanh, cung vượt cầu, dư hơn 40.000 thùng, vốn
tồn đọng lên đến 200 triệu Đài tệ (khoảng 5,2 triệu USD), gây tổn thất lớn cho cả người nông
dân và các nhà máy chế biến. Sau đó, ủy ban Mậu dịch Quốc tế đã can thiệp nhằm cứu vãn
tình thế. Uỷ ban đã tập hợp tất cả các nhà máy chế biến nấm đóng hộp thành công ty liên hợp,
tiến hành lập kế hoạch sản xuất, thống nhất giá, lập kế hoạch xuất khẩu. Các biện pháp trên đã
cải thiện tình hình xuất khẩu nấm hộp, ổn định giá cả và cung cầu. Từ giữa thập kỷ 60, lượng
nấm xuất khẩu của Đài Loan đứng đầu thế giới. Năm 1980, sản lượng nấm đạt mức kỷ lục trên
3,5 triệu thùng.
Nguồn: Council of Taiwanese agriculture. 1998
Phạm Quang Diệu 2001
Trong giai đoạn này có hai yếu tố làm các ngành công nghiệp xuất khẩu của
Đài Loan gặp nhiều khó khăn, nhất là công nghiệp chế biến nông sản. Thứ nhất, giá
nguyên liệu đầu vào và lao động trong nước tăng làm cho các doanh nghiệp nội địa
mất đi lợi thế lao động rẻ. Thứ hai, trên thị trường quốc tế, áp lực cạnh tranh của
các nước đang phát triển tăng lên. Kết quả là, Đài Loan không còn xuất khẩu
đường, và xuất khẩu đồ hộp giảm hơn một nửa. Để đối phó với tình hình trên, Đài
Loan một lần nữa thay đổi chiến lược phát triển, chuyển đổi từ các ngành công
nghiệp sử dụng nhiều lao động sang sử dụng nhiều vốn, áp dụng công nghệ mới.
Các ngành CNNT của Đài Loan chuyển dịch cơ cấu theo hai hướng chính:
• Chuyển dịch cơ cấu từ chế biến nông
sản sang các ngành công nghiệp nhẹ,
điện tử, và các hoạt động dịch vụ
(biểu 2).
• Trong các ngành công nghiệp chế
biến nông sản xuất khẩu, thực hiện
chuyển dịch từ các sản phẩm sơ chế
sang tinh chế, chế biến trọn gói, áp
dụng công nghệ tiên tiến nhằm tăng
giá trị gia tăng. Đài Loan chỉ xuất
khẩu một vài sản phẩm chế biến có

14000
1965 1975 1985 1995
Thùc phÈm
ThiÕt bÞ
m¸y mãc
Nguồn: APO. 1997
Biểu 3: Giá trị kim ngạch xuất khẩu
của ba khu chế xuất (tỷ USD)
0
1
2
3
4
5
6
7
1993 1994 1995 1996
Nguồn: APO. 2000
Phạm Quang Diệu 2001
nhân thực hiện. Chính phủ đưa ra một số nguyên tắc phát triển khu công nghiệp
như: Đảm bảo cơ chế 1 thủ tục; cơ sở hạ tầng hoàn thiện; luật và các quy định hoàn
chỉnh; áp dụng thuế ưu đãi; lực lượng lao động có tay nghề; áp dụng chiến lược
kinh doanh mềm dẻo; tất cả các sản phẩm trong khu phải xuất khẩu; các máy móc
trang thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu dùng trong khu công nghiệp đều được miễn
thuế.
Năm 1995, Đài Loan phát triển 95 cụm công nghiệp với diện tích 13003 ha
và 3 khu chế xuất có tổng diện tích 192 ha. Ba khu chế xuất có 235 doanh nghiệp
với tổng vốn đầu tư là 1,26 tỷ USD. Tính đến năm 1996 tổng kim ngạch xuất khẩu
của các khu chế xuất đạt 56,15 tỷ USD, riêng năm 1996 kim ngạch xuất khẩu đạt
6,3 tỷ USD, chiếm 18% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu, thu hút 55 ngàn lao động.

20
40
60
80
100
1965 1975 1985 1995
Toµn quèc
Khu vùc n«ng th«n
Nguồn: APO. 1997
Phạm Quang Diệu 2001
các hộ nông dân đã có điện. Đặc biệt, Đài Loan thực hiện chính sách giá điện của
nông thôn và thành thị ngang nhau. Nhờ những chính sách đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng nông thôn, môi trường đầu tư của khu vực nông thôn trở nên hấp dẫn, giảm
chi phí lưu thông, cho phép Đài Loan huy động các nguồn lực thuận lợi hơn để phát
triển các hoạt động CNNT, giúp các doanh nghiệp nông thôn (DNNT) tiếp cận dễ
dàng hơn đến các thị trường đầu vào và đầu ra. Do đó các hoạt động công nghiệp
của Đài Loan phát triển đều khắp trong cả nước, số doanh nghiệp hoạt động ở khu
vực nông thôn chiếm 85% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc.
Nông nghiệp phát triển và đa dạng hoá
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nông nghiệp Đài Loan phát triển mạnh. Tốc
độ tăng trưởng nông nghiệp đạt trên 6%/năm. Tăng trưởng nông nghiệp nhanh đã
tạo nguồn vốn và thị trường tiêu thụ cho các hoạt động sản xuất công nghiệp, kích
thích CNNT phát triển. Những yếu tố đóng góp vào tăng trưởng nông nghiệp của
Đài Loan bao gồm:
(i), Đài Loan có khí hậu phù hợp cho phát triển nhiều loại cây trồng, như lúa,
hoa quả nhiệt đới và nhiều loại khác. Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phép Đài
Loan phát triển nông nghiệp đa dạng hoá, tạo thuận lợi phát triển công nghiệp chế
biến nông sản.
(ii), Chính sách từ thời Nhật Bản cai trị. Do muốn biến Đài Loan thành nơi
cung cấp hàng nông sản cho chính quốc nên Nhật đã đầu tư mạnh vào nông nghiệp

v hn 2/3 dõn s nụng nghip i Loan cú bng cp giỏo dc chớnh thc. u t
phỏt trin giỏo dc mnh to ra cho i Loan mt lc lng lao ng c o to
tt, cú tay ngh, nm bt c khoa hc k thut.
Ngoi ra i Loan cũn tip nhn c "ngun cht xỏm" rt ln do lung
ngi n t nn n t i lc, trong ú cú nhiu nh cụng nghip cú k nng
qun lý v k thut. Do cú trỡnh cao, nờn i ng ny cú th d dng tip thu
cụng ngh mi, kin thc kinh doanh, c lp x lý cỏc hp ng, giao dch vi cỏc
khỏch hng nc ngoi. Chớnh i ng trờn ó to nờn tng lp ch DNNT ca i
Loan khi bc vo giai on cụng nghip hoỏ.
8
Biu 5: Tc tng trng nụng nghip bỡnh quõn nm v t trng xut khu nụng nghip trong
tng xut khu.
0
1
2
3
4
5
6
7
1953-56 1956-60 1961-64 1965-68 1969-72 1973-75 1976-79
Tăng trưởng
nông nghiệp %
0
20
40
60
80
100
Tỷ trọng xuất

• Tổ chức các khoá đào tạo cho nông dân, mời các chuyên gia dạy các kỹ thuật
sản xuất: ươm trồng chăm sóc, bón phân, phun thuốc, quản lý đồng ruộng, thu
hoạch.
• Giúp nông dân thành lập trạm gia công. Nông hội cùng với nông dân bàn bạc
xác định địa điểm, quy mô, mời các đơn vị tư vấn tiến hành quy hoạch, thiết kế
nhà xưởng và thiết bị, huy động vốn. Nông hội tổ chức nông dân thành lập các
nhóm, mỗi nhóm lập ra một trạm gia công, người phụ trách trạm là lớp trưởng.
Trạm gia công có thể do một người bỏ vốn kinh doanh, hoặc vốn của nhiều
thành viên kinh doanh. Trạm gia công lên kế hoạch sản xuất tiêu thụ, sau đó
9
Phạm Quang Diệu 2001
định giá theo nhu cầu của thị trường và hợp đồng với nông dân là thành viên của
nhóm, sản phẩm do trạm gia công tự tiêu thụ.
• Phối hợp với Hiệp hội Thương mại Quốc tế thiết kế nhãn hiệu và bao bì phù hợp
với tiêu chuẩn quốc tế. Nông hội tổ chức nông dân thành lập trung tâm bao
tiêuvà các nhóm đóng gói, tổ chức giải quyết khâu vận chuyển và tiêu thụ. Nông
hội sẽ thu phí dịch vụ và phí thủ tục của nông dân tham gia các hoạt động này.
phát triển công nghiệp nông thôn của Trung Quốc
Trong số các nước chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường,
Trung Quốc là một thành công điển hình. Cũng như Việt Nam, Trung Quốc bắt đầu
công cuộc cải cách kinh tế từ khu vực nông nghiệp và nông thôn sau đó lan sang
các lĩnh vực ngân hàng, thương mại. Bắt đầu từ năm 1979, đổi mới chính sách nông
nghiệp đã đem lại những thành công to lớn, giai đoạn 1979-96, GDP nông nghiệp
tăng 13,7 lần, thu nhập đầu người nông thôn tăng 14,7 lần, đói nghèo nông thôn
giảm từ 32,7% xuống còn 6,5%, lương thực thực phẩm dồi dào, mức sống dân cư
tăng, tạo đà cho công cuộc cải cách kinh tế và công nghiệp hóa.
Trong thành công của công cuộc cải cách nông nghiệp và nông thôn của
Trung Quốc, phát triển CNNT là nhân tố nổi bật. Sự phát triển mạnh mẽ của các
DNNT
1

- Tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng: Chiếm 45% tổng kim ngạch xuất khẩu
- Đóng góp quan trọng cho việc nâng cao thu nhập xoá đói giảm nghèo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status