Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc từ 1978 đến nay và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam - Pdf 23

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Bối cảnh quốc tế trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đã có nhiều thay
đổi lớn lao. Sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, việc toàn cầu hoá lĩnh vực tài
chính và sự liên kết của các thị trờng tài chính đợc tăng cờng. Các thị trờng riêng
biệt và các nền kinh tế quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, cùng với cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ đã trở thành những yếu tố đặc biệt quan trọng thúc
đẩy sự hợp tác và liên minh chiến lợc giữa các công ty, dẫn đến sự mở rộng và
phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn kinh tế. Tập đoàn kinh tế trở thành biểu tợng
sức mạnh của một quốc gia, bảo vệ nền kinh tế trong nớc trớc sự thâm nhập của
các nền kinh tế khác.
Cũng nh nhiều nớc đang phát triển trên thế giới, Chính phủ Trung Quốc đã
nhận thức rõ đợc tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển các tập đoàn
kinh tế nếu muốn cạnh tranh bình đẳng với các nớc phát triển hơn. Với đặc điểm
là nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc đã chọn cho mình hớng đi là
thiết lập các tập đoàn kinh tế của nhà nớc một dạng đặc biệt của mô hình tập
đoàn kinh tế thông qua quá trình cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nớc. H-
ớng đi này tuy còn có những hạn chế cần khắc phục nhng bớc đầu đã đem lại
những kết quả khả quan.
Việt Nam đang từng bớc hội nhập kinh tế quốc tế, việc thành lập các tập
đoàn kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu bức thiết và với lợi thế là một nớc đi sau
chúng ta có thể học hỏi đợc những kinh nghiệm trong quá trình thành lập và phát
triển các tập đoàn kinh tế từ nhiều nớc trên thế giới, đặc biệt là từ Trung Quốc
một đất nớc có rất nhiều điểm tơng đồng với nớc ta trên tất cả các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội .Đây cũng là những nội dung chính đ ợc đề cập trong
luận văn này.
Luận văn bao gồm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát chung về cải cách DNNN ở Trung Quốc từ 1978
đến nay.
Chơng 2: Mô hình tập đoàn kinh tế của Trung Quốc.
Chơng 3: Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong hình

* Về quyền sở hữu tách khỏi quyền sử dụng.
Nghiên cứu loại hình t bản trong giai đoạn tự do cạnh tranh của CNTB,
Mác-Anghen đã cho ta biết: T bản công nghiệp không phải là loại hình tồn tại duy
nhất của t bản mà ở đó còn có t bản cho vay đó chính là do phân công lao động
tạo thành. T bản cho vay có đặc trng là quyền sở hữu t bản tách rời quyền sử dụng
t bản. Thực chất của việc cho vay là nhờng lại quyền sử dụng t bản cho ngời khác.
ở đây, cùng một t bản nhng đối với ngời đi vay thì nó là t bản hoạt động, chức
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
năng của nó là tạo ra lợi nhuận. Do đó, thực chất của lợi tức chỉ là một bộ phận
của giá trị thặng d mà nhà t bản đi vay phải trả cho nhà t bản cho vay.
Việc tách t bản tiền tệ ra khỏi t bản sản xuất thành t bản cho vay và phân
biệt quyền sở hữu với quyền sử dụng tiền tệ thông qua hệ thống tín dụng, ngân
hàng đã cho phép tạo lập môi trờng kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể kinh
doanh hoạt động và từ đó tạo động lực mạnh mẽ phát triển nền kinh tế hàng hóa
theo cơ chế thị trờng.
Chính khả năng cho phép tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng của lý
luận Mácxít nêu trên đã và thực sự trở thành một trong những nguyên tắc, chìa
khoá quan trọng nhất để định hớng tiến hành cải cách DNNN ở Trung Quốc nói
riêng, chuyển đổi và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trờng nói chung của
Trung Quốc.
* Về mô hình doanh nghiệp.
Nghiên cứu CNTB, Mác- Anghen đã khẳng định sự cần thiết khách quan
của hình thức tổ chức kinh tế phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất.
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã sớm chỉ rõ vai trò và triển vọng to
lớn của loại hình sở hữu và công ty cổ phần với t cách là hình thức phát triển tột
cùng của chế độ t hữu, trong đó tính xã hội đã đạt tới mức cao nhất, và do đó, đây
là phơng thức kinh doanh chủ yếu của xã hội hiện đại Hình thức sở hữu này đã
thể hiện những tác động to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế. Vì :

nghiệp của t sản dân tộc, hơn 4,02 triệu doanh nghiệp thơng mại) hoặc do nhà nớc
đầu t và xây dựng mới theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung của Liên Xô
cũ. Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở Trung Quốc, DNNN đã có
một vai trò hết sức quan trọng, là lực lợng chính tạo nên sự thay đổi kết cấu kinh
tế công nghiệp; năm 1949 công nghiệp chỉ chiếm 15% GDP, nông nghiệp chiếm
85% GDP. Đến năm 1991, trị giá sản lợng công nghiệp lên tới 77%, nông nghiệp
là 22% GDP. Sự phát triển DNNN đã thu hút số lợng lao động lớn. Trong 40 năm
(1950-1990) số ngời làm trong DNNN từ 5,1 triệu tăng lên 43,64 triệu. DNNN là
nguồn cung cấp những sản phẩm chủ yếu cho nhu cầu trong nớc và xuất khẩu,
đồng thời là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nớc Trung Quốc.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, các DNNN đã bộc lộ nhiều mặt yếu
kém. Ngay từ đầu, việc quyết định đầu t vào phát triển DNNN đã dựa vào ý chí
chủ quan chứ không đợc kiểm định và điều chỉnh bởi thị trờng, từ đó không đánh
giá đợc nhu cầu xã hội về các loại hàng hoá .Khi thành lập rồi thì doanh nghiệp
lại bị trói buộc trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, chúng bị quản lý ở rất
nhiều tầng nấc từ Quốc vụ viện đến phờng xã. Lợi nhuận của doanh nghiệp làm ra
hầu hết phải nộp vào ngân sách nhà nớc theo kiểu tát cạn ao để bắt cá, giết gà
lấy trứng làm cho doanh nghiệp luôn bị thiếu vốn, không thể tái đầu t phát triển.
Phân phối theo chế độ bình quân và biên chế suốt đời đã lọt đợc qua cổng là là
ngời của doanh nghiệp, chỉ cần có đi làm là đợc hởng tiền lơng cố định, không kể
làm tốt hay làm xấu. Quyền sở hữu tài sản DNNN thuộc về nhà nớc, nhng quan hệ
về quyền tài sản không rõ ràng, chức năng của chính quyền và doanh nghiệp lẫn
lộn, mọi ngời đều có phần nhng không ai chịu trách nhiệm, quản lý lộn xộn, lãng
phí nghiêm trọng, hiệu quả kém.
Bảng 1
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tình hình sản xuất tại các doanh nghiệp công nghiệp nhà nớc trung quốc
1975-1978
Chỉ tiêu

doanh nhằm thực hiện quyền tự chủ kinh doanh của DNNN.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong giai đoạn 1978 1984, Trung Quốc tiến hành thí điểm mở rộng
quyền tự chủ kinh doanh đối với 66.000 DNNN. Trung Quốc một mặt chuyển từ
chế độ cấp phát vốn đầu t và vốn lu động cho các doanh nghiệp trớc đây thành các
hình thức vay ngân hàng, mặt khác, Trung Quốc còn đẩy mạnh cải cách ở các lĩnh
vực khác nh: Mở rộng quyền lập kế hoạch sản xuất, quyền mua bán sản phẩm,
quyền định giá, quyền sử dụng vốn, quyền trả lơng, quyền sử dụng lao động xây
dựng một số đặc khu kinh tế nh Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Dầu, Hạ Môn, đây là
những môi trờng để mở rộng quyền tự chủ cho DNNN.
Trong giai đoạn cải cách tiếp theo từ 1984 1992, Trung Quốc thực hiện
chủ trơng tăng cờng sức sống cho các DNNN bằng cách tích cực đẩy mạnh viêc
giao quyền cho các doanh nghiệp, tách quyền sở hữu khỏi quyền kinh doanh, phân
định rõ chức năng của chính quyền và doanh nghiệp, phát huy đúng chức năng
quản lý kinh tế của bộ máy chính quyền. Chính quyền các cấp không đợc trực tiếp
làm công việc kinh doanh. Các doanh nghiệp trở thành một thực thể tơng đối độc
lập: lãi ăn, lỗ chịu, có khả năng cạnh tranh, tự cải tạo để phát triển và có t cách
pháp nhân. Nhà nớc cũng giao trách nhiệm cho các doanh nghiệp qua các chế độ
khác nh khoán kinh doanh, chế độ nộp thuế
Từ năm 1992 đến nay, Trung Quốc đã đi sâu vào cải cách toàn diện DNNN,
nhằm thực hiện hàng loạt quyền lợi của DNNN đã đợc quy định trong Luật
doanh nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu toàn dân của Cộng hoà Nhân dân Trung
Hoa. Những quyền lợi đó là thực hiện một cách triệt để việc tách bạch giữa quan
hệ nhà nớc với doanh nghiệp để nhà nớc tập trung vào chức năng quản lý vĩ mô,
còn chức năng kinh doanh thuộc về doanh nghiệp. Hơn nữa, việc tách bạch này
còn đợc thể chế hoá trong văn bản mang tính cỡng chế là Luật khiến cho cả cơ
quan nhà nớc, cơ quan kinh tế, tổ chức xã hội phải tuân theo, sức mạnh của nó
mang tính tổng hợp.
Việc Trung Quốc thực hiện tách quyền sở hữu và quyền kinh doanh của

khác.
* Tự chủ về lao động, tiền lơng và phân phối thu nhập:
Cải cách DNNN ở Trung Quốc đã coi trọng nội dung về tự chủ lao động.
Năm 1979 Trung Quốc thực hiện thí điểm cải cách quản lý doanh nghiệp tại 8
doanh nghiệp tại 3 thành phố: Bắc Kinh, Thiên Tân, Thợng Hải, cho phép các
doanh nghiệp lựa chọn, tuyển dụng nhân công và quyền khen thởng, xử phạt, sa
thải công nhân viên chức theo qui chế. Sau thời gian thực hiện nội dung này quyền
tự chủ về lao động đợc mở rộng thêm. Doanh nghiệp có quyền tuyển chọn, sử
dụng công nhân viên chức theo kế hoạch lao động của nhà nớc, có quyền thởng
phạt dựa trên biểu hiện của các công nhân viên. Doanh nghiệp có quyền dựa vào
nguyên tắc tinh giảm và nâng cao hiệu quả kinh tế, dựa trên nhu cầu thực tế để sắp
xếp cơ cấu nhân sự và định mức biên chế của mình.
Tự chủ về lao động theo yêu cầu cải cách DNNN ở Trung Quốc cũng đã đặt
rõ yêu cầu làm chủ tiền lơng và phân phối thu nhập. Trong thời kỳ 1978 1984,
Trung Quốc đã áp dụng văn bản Quy định tạm thời về việc mở rộng tự chủ của
doanh nghiệp công nghiệp nhà nớc, trong đó quy định doanh nghiệp có quyền
dựa vào các chính sách hữu quan của nhà nớc để xác định các hình thức tiền lơng:
lơng theo thời gian, lơng theo sản phẩm, phân phối tiền thởng và sắp xếp phúc
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
lợi Giám đốc có quyền th ởng phạt đối với công nhân viên chức theo quy định
của nhà nớc.
Từ năm 1992 đến nay, dựa trên cơ sở Luật doanh nghiệp công nghiệp
thuộc sở hữu toàn dân của nớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhiều doanh
nghiệp thuộc các thành phố: Thiên Tân, Thợng Hải, Hắc Long Giang đã sôi nổi
kết hợp chặt chẽ đồng bộ quyền làm chủ lao động, tiền lơng, bảo hiểm, hợp đồng
lao động, cùng với những kinh nghiệm quản lý của các doanh nghiệp chung vốn n-
ớc ngoài, khiến cho viêc tự chủ của doanh nghiệp không ngừng đợc mở rộng.
* Tự chủ về kế hoạch và thị tròng:
Suốt 30 sau khi thành lập nớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nền kinh tế

- Mở cửa để kết hợp kinh doanh.
- Chuẩn mực hoá hành vi.
- Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
+ Về hình thức, Trung Quốc chủ yếu áp dụng hai hình thức công ty:
Công ty trách nhiệm hữu hạn: Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai ngời trở
lên hoặc hai cổ đông trở lên tổ chức ra; mỗi ngời góp vốn hoặc mỗi cổ đông chịu
trách nhiệm đối với công ty theo số vốn của họ, toàn bộ số vốn không chia thành
cổ phần bằng nhau, không phát hành cổ phiếu, thờng phát hành giấy chứng nhận
cổ phần. Theo pháp luật của Trung Quốc, ngời góp vốn hoặc cổ đông, có thể góp
bằng tiền và cũng có thể góp bằng hiện vật, bằng quyền sở hữu công nghệ,quyền
sở hữu kỹ thuật, quyền sử dụng đất.
Công ty cổ phần hữu hạn: Hình thức công ty này hoạt động và tổ chức gần
giống với công ty trách nhiệm hữu hạn. Điểm khác nhau giữa hai loại công ty này
ở chỗ, trong các công ty cổ phần hữu hạn, toàn bộ vốn của công ty đợc chia thành
nhữmg cổ phần bằng nhau, có phát hành cổ phần, có loại có thể mang ra giao dịch
tại thị trờng chứng khoán, cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần và trách
nhiệm của cổ đông cũng giới hạn trong số cổ phần đã mua. Đại hội cổ đông là cơ
quan quyền lực cao nhất của các doanh nghiệp cổ phần
Cho đến nay, Trung Quốc đã chuyển đổi đợc 10% số doanh nghiệp sang
hoạt động theo Luật công ty. Đây thực chất là một định hớng đúng đắn, đã phân
định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp với t cách là pháp nhân hoạt động kinh
doanh và của nhà nớc với t cách là nhà đầu t vốn vào kinh doanh; tách bạch rõ
chức năng quản lý nhà nớc và chức năng quản lý của chủ sở hữu. Đồng thời, làm
tăng thêm tính chủ động, năng động trong kinh doanh của doanh nghiệp, khắc
phục ỷ lại vào Nhà nớc.
* Cổ phần hoá:
Bắt đầu từ những năm 80 trở đi, Trung Quốc đã tiến hành thí điểm thực
hiện chế độ cổ phần. Hình thức thí điểm chế độ cổ phần ban đầu chủ yếu là trong
nội bộ công nhân viên chức của doanh nghiệp hoặc những pháp nhân định hớng
giữ cổ phần, sau này đợc mở rộng đối tợng ra để thu hút đầu t.

* Sát nhập DNNN:
Thực chất của việc sát nhập doanh nghiệp ở Trung Quốc là liên kết kinh tế
theo chiều ngang nhằm thực hiện mục tiêu: Doanh nghiệp mạnh hơn, cơ cấu tổ
chức của doanh nghiệp hợp lý hơn, phát huy cao hơn hiệu quả vốn và tài sản của
doanh nghiệp, thúc đẩy các TĐKT lớn, có sức cạnh tranh quốc tế, hoà giải các
khoản nợ có khả năng thanh toán. Hình thức sát nhập: sát nhập dới hình thức gánh
chịu nợ, sát nhập dới hình thức hợp nhất.
* Bán, giải thể, phá sản doanh nghiệp:
Việc bán DNNN ở Trung Quốc chủ yếu áp dụng với các doanh nghiệp nhỏ,
không thuộc các ngành huyết mạch quan trọng. Giữa những năm 90 số lợng doanh
nghiệp vừa và nhỏ làm ăn thua lỗ nhiều, với chủ trơng đa dạng hoá quyền sở hữu
DNNN, đổi mới các hình thức DNNN, Trung Quốc đã khuyến khích bán một phần
hoặc toàn bộ doanh nghiệp. Hiện nay Trung Quốc đã có chủ trơng bán cả một số
xí nghiệp lớn. Dựa theo luật phá sản của Trung Quốc, những doanh nghiệp phá sản
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phải là những doanh nghiệp thua lỗ nghiêm trọng, mất khả năng thanh toán các
khoản nợ đến kỳ hạn, trình độ quản lý doanh nghiệp yếu kém. Nhng khi thực hiện
biện pháp phá sản Trung Quốc rất thận trọng vì nó động chạm đến cuộc sống của
công nhân viên chức và an toàn xã hội. Đến năm 1996, chỉ có 6.000 doanh nghiệp
đợc phá sản, so với thực tế thì con số này còn khá khiêm tốn.
* Xây dựng chế độ DNNN hiện đại:
Từ năm 1987, Uỷ ban cải cách thể chế nhà nớc Trung Quốc trong quy
hoạch trung hạn của cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc (1988-1995) đã xác định
rõ việc xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại đợc coi là nhiệm vụ trọng tâm của
công cuộc cải cách thể chế kinh tế ở Trung Quốc. Về bản chất chế độ doanh
nghiệp hiện đại ở Trung Quốc có các đặc trng sau:
+ Quan hệ về tài sản rõ ràng, tài sản nhà nớc trong doanh nghiệp thuộc về
nhà nớc, doanh nghiệp trở thành thực thể pháp nhân độc lập, đợc hởng quyền lợi
và nghĩa vụ dân sự.

ớc Trung Quốc đã rất coi trọng việc tạo hành lang pháp lý, tiến dần từ thấp đến
cao, từ trung ơng đến địa phơng. Đặc biệt, từ năm 1988 trở lại đây, nhà nớc Trung
Quốc đã ban hành các đạo luật nhằm tạo ra môi trờng kinh doanh thuận lợi thúc
đẩy các DNNN hoạt động theo cơ chế thị trờng. Luật doanh nghiệp công nghiệp
sở hữu toàn dân của nớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đợc thông qua ngày
23/4/1988 quy định khá cụ thể những quyền lợi của DNNN, hóng dẫn DNNN
chuyển đổi sang cơ chế thị trờng phù hợp với định hớng phát triển kinh tế xã hội
của Trung Quốc.
Quá trình chuyển đổi cơ chế kinh doanh đối với xí nghiệp công nghiệp
thuộc sở hữu toàn dân, đòi hỏi phải có luật về hình thức tổ chức, do đó, tháng
7/1994 Luật công ty nớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời. Trong đạo luật
công ty đã xác định hai hình thức công ty: công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty
cổ phần hữu hạn. Hai hình thức công ty trên vừa phù hợp với hình thức tổ chức
kinh tế thị trờng hiện đại, vừa phù hợp với yêu cầu chuyển dịch từ DNNN hoạt
động trong nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trờng XHCN ở Trung
Quốc.
Trong tiến trình cải cách, vấn đề lập pháp, xây dựng một hệ thống luật pháp
hoàn chỉnh tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế theo đúng định hớng luôn đợc
DNNN Trung Quốc quan tâm. Vì thế cho tới nay hệ thống pháp luật của Trung
Quốc vẫn không ngừng đợc hoàn thiện để phù hợp với hoạt động ngày càng đa
dạng và phức tạp của các DNNN, cũng nh các thành phần kinh tế khác trong nền
kinh tế thị trờng mang đặc sắc Trung Quốc.
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
* Phối hợp sử dụng đồng bộ các chính sách vĩ mô:
+ Về chính sách thuế:
Mục tiêu cơ bản của chính sách thuế là thông qua thể chế quản lý và cơ chế
vận hành thuế, thực hiện chuẩn mực quan hệ phân phối giữa nhà nớc và doanh
nghiệp, giữa trung ơng và địa phơng, tạo lập thể chế tài chính có lợi cho các doanh
nghiệp cạnh tranh một cách bình đẳng và tăng nguồn thu ngân sách một cách ổn

chủ, chủ động và bình đẳng trong sản xuất kinh doanh, đồng thời qua đó cũng
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
giảm bớt gánh nặng trợ cấp tài chính của nhà nớc, từng bớc xoá bỏ những dấu ấn
của chế độ bao cấp trong DNNN.
+ Về chính sách lãi suất:
Trung Quốc chủ trơng giảm mức lãi suất ngân hàng để hỗ trợ DNNN nhà n-
ớc tăng năng lực về vốn, đáp ứng yêu cầu mở rộng sản xuất. Cụ thể, trong hai năm
1996-1997 Trung Quốc đã ba lần thực hiện giảm lãi suất ngân hàng và tiếp tục
điều chỉnh mức lãi suất một cách linh hoạt, phù hợp với sự biến động của thị tr-
ờng, Trung Quốc cũng đã dành 12 tỷ USD để xoá các khoản nợ khó dòi cho
DNNN. Bên cạnh đó, chính phủ Trung Quốc xúc tiến tách hệ thống ngân hàng
chính sách và ngân hàng thơng mại, lập ngân hàng xuất khẩu, từng bớc điều chỉnh
tỷ giá hối đoái chính thức sát với tỷ giá thị trờng tự do, dần dần thực hiện chế độ
một tỷ giá và phát triển thị trờng tín dụng, tiền tệ để giúp cho các doanh nghiệp
tiếp cận đợc với thị trờng vốn trong xã hội, thu hút đợc các nguồn vốn rộng rãi
thông qua các kênh nh phát hành cổ phiếu trái phiếu .phát triển thị tr ờng tín
dụng tiền tệ.
1.3. Những thành tựu chủ yếu của cải doanh nghiệp Nhà nớc ở
Trung Quốc từ 1978 đến nay.
1.3.1. Tăng sức cạnh tranh của DNNN, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Nhìn một cách tổng quát, từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách DNNN, khu
vực kinh tế nhà nớc đã có những chuyển biến khá mạnh mẽ và góp phần ổn định
tích cực vào sự phát triển ổn định và nhanh chóng của nền kinh tế nói chung.
Về giảm số l ợng các DNNN : Qua hơn 20 năm tiến hành cải cách, số lợng
DNNN của Trung Quốc đã giảm xuống một cách đáng kể, cụ thể từ 348.000
DNNN trong đó có 4.400 DNNN cỡ lớn, với chính sách nắm lớn buông nhỏ,
Trung Quốc chỉ giữ lại một 1.000 doanh nghiệp 100% vốn nhà nớc, trong đó có
512 doanh nghiệp cỡ lớn làm trọng điểm. Trung Quốc quan niệm việc giảm tỷ
trọng DNNN không làm ảnh hởng đến tính chất XHCN, vai trò chủ đạo của kinh

điều tra của Trung Quốc ở 31 tỉnh, khu tự trị và thành phố, thì có 26 tỉnh, thành có
số doanh nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp nhà nớc khống chế cổ phần đạt hiệu quả
tốt hơn trớc, trong đó đáng chú ý là Liêu Ninh, An Huy, Quảng Tây, Thanh Hải,
Ninh Hạ mức độ giảm thua lỗ tới 50%. Đại bộ phận các ngành nghề có chuyển
biến rõ rệt về hiệu quả. Các ngành nh công nghiệp hoá chất, dầu mỏ cơ khí, điện
tử, công nghiệp nhẹ, công nghiệp dệt tình hình đ ợc cải thiện rõ rệt, nh tăng lợi
nhuận, chuyển từ lỗ sang lãi hoặc giảm lỗ. Chẳng hạn nh ngành dệt có những bớc
đột phá, nh năm 1997, toàn ngành lỗ 7,2 tỷ NDT, năm 1998 lỗ 1,9 tỷ NDT, nửa
đầu năm 1999 lỗ 1,2 tỷ NDT, tháng 6 năm 1999, thực hiện đợc lợi nhuận 390 triệu
NDT về cơ bản đã chuyển từ lỗ sang lãi. Ngành đờng sắt là ngành thua lỗ nghiêm
trọng sau ngành dệt cũng có chuyển biến tốt: năm 1997 lỗ 3,7 tỷ NDT, năm 1998
lỗ 2,2 tỷ NDT, năm 1999 chuyển lỗ thành lãi, thực hiện sớm hơn một năm so với
dự kiến.
Cùng với những thành tựu nêu trên, môi trờng bên ngoài của DNNN cũng
đợc cải thiện rõ rệt, hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động xã hội đang dần dần đợc hoàn thiện. Năm 1999,
mức thu phí bảo hiểm cả năm của Trung Quốc đã lên tới 139,3 tỷ NDT (bao gồm
cả cơ cấu doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài) tăng 10,2% so với năm trớc. Gánh
nặng nợ của DNNN từng bớc đợc giải quyết. Đối với các doanh nghiệp có cổ
phiếu trên thị trờng còn đợc bổ sung vốn thông qua huy động vốn tại thị trờng
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chứng khoán. Tính đến tháng 5/1998 tại hai sở giao dịch chứng khoán Thợng Hải
và Thâm Quyến có 791 công ty tham gia giao dịch, tổng số giao dịch vợt 223,6 tỷ
NDT, số cổ phần đã lu thông là 74,4 tỷ cổ phần, có 105 doanh nghiệp phát hành
cổ phiếu ở đại lục để gọi vốn ở nớc ngoài, và 43 doanh nghiệp phát hành cổ phiếu
ở nớc ngoài để gọi vốn. Tổng số vốn huy động trên thị trờng cổ phiếu khoảng 316
tỷ NDT. Cải cách DNNN đã góp phần đảm bảo yêu cầu ổn định cuộc sống cơ bản
của công nhân viên. Năm 1999, nâng cao 30% tiền bảo hiểm thất nghiệp đảm bảo
mức sống tối thiểu của dân c thành thị, tiền lơng hu công nhân viên chức đợc cải

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tự quản lý đồng vốn
ngày càng đợc tăng cờng.
Quá trình cải cách DNNN ở Trung Quốc đợc thực hiện dần dần từng bớc,
Trung Quốc đã không chủ trơng đột ngột cắt giảm hoàn toàn mối liên hệ kinh tế
giữa các doanh nghiệp với kế hoạch truyền thống. Trong quá trình cải cách các
DNNN, nhà nớc vẫn ít nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp tục trợ cấp cho các
ngành thuộc khu vực kinh tế nhà nớc. Các hình thức tài trợ bao gồm trợ cấp tài
chính và trợ cấp thông qua các khoản vay với lãi suất thấp và các khoản vay không
lãi hoặc bao tiêu sản phẩm ở thời kì đầu cải cách. Đặc biệt hệ thống quản lý tài
sản nhà nớc đã hoàn thiện hơn, nhờ đó trong quá trình cổ phần hoá, tài sản nhà n-
ớc ít bị thất thoát hơn.
Trên thực tế bớc chuyển dần nh vậy đã giúp các DNNN tiếp cận vào kinh
doanh theo cơ chế thị trờng, vừa ổn định vừa phát triển, củng cố đợc vai trò DNNN
trong nền kinh tế quốc dân.
1.3.3. Xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại.
Trung Quốc đã hoàn thành việc thí điểm và xây dựng đợc khung cơ bản về
chế độ doanh nghiệp hiện đại.
Hội nghị trung ơng Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ nhất khoá XV(ngày
16/9/1997) đã quyết định: Trong thời gian ba năm, thông qua cải cách, cải tổ, cải
tạo và tăng cờng quản lý, làm cho đại đa số doanh nghiệp nhà nớc lớn và vừa thoát
khỏi khó khăn, phấn đấu đến cuối thế kỉ này đại đa số doanh nghiệp loại lớn và
vừa bớc đầu xây dựng đợc chế độ doanh nghiệp hiện đại.
Từ năm 1994, Trung Quốc đã chọn ra 100 doanh nghiệp tiến hành thí điểm
xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại. Qua thí điểm, bớc đầu đã dựng nên cơ cấu
quản lý pháp nhân tơng đối tuân thủ theo quy trình của doanh nghiệp hiện đại, đẩy
mạnh tiến trình đa dạng hoá chủ thể đầu t doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thí
điểm nhìn chung đều tăng cờng thực lực, nâng cao sức sống, tìm ra một số biện
pháp hữu hiệu giải quyết đợc những khó khăn chủ yếu. Trong số 100 doanh
nghiệp thí điểm thì bình quân vốn vay trớc thí điểm là 67%, sau giảm xuống 65%,

pháp, TĐKT cũng khác nhau về hình thức tổ chức, cũng nh trình độ và cấp độ liên
kết nội bộ. Tuy nhiên tựu chung lại, có thể định nghĩa TĐKT nh sau: Đó là tổ hợp
lớn các doanh nghiệp có t cách pháp nhân hoạt động trong một ngành hay
những ngành khác nhau, có quan hệ với nhau về vốn, tài chính, công nghệ,
thông tin, đào tạo, nghiên cứu và liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các
doanh nghiệp tham gia liên kết, trong đó thờng có một công ty mẹ nắm quyền
lãnh đạo, chi phối hoạt động của công ty con về tài chính và chiến l ợc phát
triển .
Thực tế cho thấy TĐKT đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế
của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nớc đang phát triển. Vai trò đó đợc thể
hiện trên các mặt sau:
- Sự hình thành và phát triển của các TĐKT làm tăng khả năng kinh tế của
cả tập đoàn và các công ty thành viên, nó cho phép các nhà quản lý kinh doanh
huy động đợc tất cả các nguồn lực trong xã hội để phục vụ việc phát triển kinh tế,
việc tập trung các công ty vào trong một đầu mối làm cho họ có điều kiện thuận
lợi khi cạnh tranh với các tập đoàn nớc ngoài.
- Đối với các nền kinh tế mới phát triển, nền công nghiệp trong nớc còn
manh mún thì các TĐKT là một biện pháp hữu hiệu để chống sự thâm nhập một
cách ồ ạt của các công ty khổng lồ trên thế giới và giúp cho sản xuất trong nớc có
thể đứng vững và từng bớc vơn ra đợc các thị trờng khu vực và thế giới.
- Các TĐKT sẽ khắc phục đợc khả năng hạn chế về vốn của từng công ty
riêng lẻ, việc các tập đoàn có công ty tài chính sẽ cho phép thống nhất trong tích
tụ và tập trung vốn; khi có nguồn vốn lớn các tập đoàn sẽ đầu t vào các dự án có
hiệu quả cao nhất, từ đó sẽ góp phần tăng nguồn thu và thúc đẩy nền kinh tế phát
triển.
- TĐKT có tác dụng rất lớn trong việc cung cấp trao đổi thông tin và những
kinh nghiệm quan trọng trong tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
vào sản xuất. Sự hợp tác về nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong tập

của DNNN thì không những phải cải cách từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà còn
phải căn cứ vào yêu cầu xã hội hoá, để liên hiệp các doanh nghiệp lại với nhau, lập
ra các tập đoàn kinh tế, tạo ra cơ cấu tổ chức tốt hơn giữa các doanh nghiệp. Nếu
nói rằng kinh doanh theo chiều sâu mà chủ yếu là nâng cao trình độ kinh doanh
trong nội bộ doanh nghiệp thì liên kết các doanh nghiệp lại với nhau, đặc biệt là
thành lập ra các tập đoàn kinh tế là nâng cao trình độ tổ chức lực lợng sản xuất
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trong phạm vi xã hội. Chỉ có phát triển theo hớng tập đoàn hoá thì các DNNN mới
thực sự trở thành vật tải lực lợng sản xuất hiện đại, mới trở thành chủ thể thứ nhất
của nền kinh tế thị trờng, mới có thể triệt để phát huy đợc lợi thế của mình.
Trung Quốc cho rằng đổi mới về thể chế tổ chức doanh nghiệp, hình thành
nên các TĐKT có thể khắc phục đợc các bất cập của thị trờng trong quá trình
chuyển đổi kinh tế, do quá trình phát triển nền kinh tế thị trờng ở Trung Quốc vẫn
đang tiếp tục, nên các chức năng của thị trờng vẫn còn yếu kém và đôi khi phải
chịu nhiều phí tổn. Bằng việc hình thành các tập đoàn kinh tế, mỗi doanh nghiệp
thành viên có thể tận dụng các thông tin tốt hơn, có khả năng đối phó với những
rủi ro đi kèm với cơ cấu thị trờng cha phát triển và có khả năng tiếp cận với các
khoản tín dụng mà bình thờng phải rất tốn kém hoặc không thể có đợc. Điều quan
trọng hơn là việc thành lập các tập đoàn kinh tế có thể tạo điều kiện cho quá trình
cải cách DNNN khi việc t nhân hoá hàng loạt không phải là giải pháp đợc lựa
chọn. Đồng thời các tập đoàn có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp Trung Quốc so với các tập đoàn đa quốc gia khi tham gia vào tổ chức th-
ơng mại thế giới (WTO).
Nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, với sự
hoạt động của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó thành phần kinh tế nhà
nớc giữ vai trò chủ đạo. Muốn làm đợc điều này phải có các doanh nghiệp nhà nớc
thực sự lớn mạnh, hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế thay thế cho hình thức
tổ chức doanh nghiệp nhà nớc kém hiệu quả đã tồn tại trong một thời gian dài. Do
vậy cần phải xây dựng các tập đoàn kinh tế theo hớng đa sở hữu trong đó sở hữu

hình cổ phần khác một cách căn bản ở các nớc t bản ở chỗ đông đảo công nhân
viên chức ở các doanh nghiệp bị thầu, thuê, bị nắm giữ cổ phần khống chế vẫn là
chủ nhân của doanh nghiệp, chẳng những quyền lợi của họ đợc pháp luật bảo vệ,
đợc bố trí sắp xếp thích đáng trong phạm vi tập đoàn mà còn đợc nhiều thực lợi
hơn, nh những sự đãi ngộ về tiền lơng, tiền thởng, phúc lợi, bảo hộ lao động dần
đợc nâng cao.
Đặc điểm thứ ba, là mục đích của việc thành lập TĐKT của nhà nớc, của
các đơn vị thành viên và của công nhân, viên chức về cơ bản là thống nhất với
nhau. Đặc điểm này xuất phát từ tính chất của chế độ XHCN ở Trung Quốc. Chính
quyền các cấp căn cứ vào đòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế để hớng dẫn
các DNNN tăng cờng liên kết, hợp tác, lấy dài bù ngắn, bổ sung lợi thế cho nhau,
phát huy tốt hơn nữa tác dụng của các yếu tố lực lợng sản xuất, nâng cao hiệu quả
kinh tế, nâng cao đời sống công nhân viên chức. Chính quyền các cấp là ngời đại
biểu cho quyền sở hữu tài sản tại các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong
việc giao dịch quyền sử dụng tài sản trên thị trờng quyền sử dụng tài sản. Một là,
căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế và xã hội để định ra chính sách ngành
nghề, hớng dẫn việc lu động và phân phối hợp lý tài nguyên, thúc đẩy việc tổ chức
lại các yếu tố sản xuất một cách hợp lý. Hai là, căn cứ vào nguyên tắc xác định
quyền tài sản để định ra quy tắc quản lý thị trờng, cung cấp các dịch vụ pháp luật,
công chức quản lý hành chính, bảo đảm cho giao dịch diễn ra bình thờng. Ba là,
cung cấp thông tin, thúc đẩy hạ giá thành giao dịch, thúc đẩy giao dịch có kết quả,
giúp cho việc nâng cao hiệu qủa và ngạch giao dịch. Bốn là, khi cần thiết thì dùng
các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế để điều tiết giao dịch quyền sử
dụng tài sản, bảo vệ lợi ích của nhà nớc, ngăn chặn các hành vi làm tổn hại đến lợi
ích của nhà nớc.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
* Đặc điểm về mô hình tổ chức.
Hình thức thứ nhất, là TĐKT tổng hợp nhiều cấp: Đây là loại TĐKT nắm
trong tay nhiều lĩnh vực: khoa học công nghệ, thơng mại, tài chính, dịch vụ và lấy

có t cách pháp nhân nhằm đạt đợc mục tiêu vì lợi ích chung.
Hình thức thứ t, là Tập đoàn hoà nhập nghiên cứu khoa học với sản xuất
kinh doanh: Lấy liên kết phát triển kỹ thuật mới làm nút liên kết. Loại tập đoàn
này lấy những đơn vị nghiên cứu khoa học trong cùng ngành hoặc xí nghiệp công
nghiệp lớn làm chủ thể, bổ sung cho nhau lợi thế khoa học kỹ thuật và vốn nhằm
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phát triển sản phẩm kỹ thuật cao từ đó chế tạo sản phẩm có giá trị cao, nâng cao
năng lực cạnh tranh.
Hình thức thứ năm, là Tập đoàn liên kết mạng lới cùng ngành: Đây là hình
thức biến tớng của những liên hiệp các xí nghiệp đặc biệt lớn có cùng ngành nghề,
nó xuất hiện khi cải cách thể chế kinh tế kế hoạch. Chúng chính là sản phẩm của
sự cải cách thể chế liên doanh cũ thành Tập đoàn liên kết màng lới cùng ngành,
gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều khu vực trong đó chế độ công hữu làm chủ thể.
Hình thức thứ sáu, là Tập đoàn theo mô hình cổ phần: Loại TĐKT này lấy
công ty của nhà nớc có thực lực rất mạnh nắm giữ cổ phần khống chế làm nòng
cốt. Doanh nghiệp nòng cốt thể hiện sự khống chế của mình với doanh nghiệp
khác bằng cách mua cổ phần hoặc các doanh nghiệp, các nhà đầu t trong và ngoài
nớc, các cá nhân khác tự nguyện tham gia tập đoàn bằng hình thức tham dự cổ
phần. Toàn bộ tập đoàn lấy tài sản dới hình thức cổ phần làm nút liên kết, hình
thành thể liên hợp các pháp nhân, triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh theo
hình thức cổ phần.
* Đặc điểm về hoạt động kinh doanh và quản lý điều hành của TĐKT
Trung Quốc.
Chiến lợc hoạt động tác nghiệp của các TĐKT Trung Quốc là đa dạng hoá,
sản xuất kinh doanh theo chiều sâu và tiến tới quốc tế hoá. Các TĐKT không chỉ
là những Tập đoàn xuyên vùng, xuyên ngành mà còn nhiều hình thức, nhiều chức
năng sản xuất, thơng mại, nghiên cứu khoa học, vận tải, tài chính, dịch vụ Nó
thể hiện khá rõ ở chỗ:
Một là, các doanh nghiệp thành viên đợc chuyên môn hoá, tổ chức quản lý

hội nhập quốc tế của mình.
Về quản lý và cơ chế điều hành trong TĐKT Trung Quốc cũng tơng đối
phức tạp với nhiều hình thức khác nhau, có thể khái quát thành ba dạng chủ yếu
sau:
Loại thứ nhất: Đối với TĐKT có quy mô cực lớn, thi trờng hớng nội, thờng
áp dụng hình thức công ty tập đoàn, thể chế quản lý hai cấp đối với công ty
con. Công ty tập đoàn là một cổ đông lớn, thông qua việc nắm giữ cổ phần khống
chế và hội đồng quản trị để nắm quyền quản lý vỡi công ty con.
Loại thứ hai: TĐKT có quy mô tơng đối lớn, thị trờng hớng ngoại, thờng áp
dụng thể chế quản lý ba cấp, kết hợp tập quyền và phân quyền,nhng trên thực tế
các phòng nghiệp vụ là cầu nối công ty mẹ đối với công ty con.
Loại thứ ba: Là những TĐKT quy mô không lớn, thị trờng hớng ngoại, th-
ờng áp dụng thể chế quản lý kiểu song song, ở trong nớc thì có 2 cấp Công ty tập
đoàn công ty con; ở nớc ngoài thì quản lý kiểu 3 cấp, Công ty tập đoàn
phòng nghiệp vụ ở nớc ngoài công ty con.
*So sánh mô hình TĐKT của Trung Quốc với TĐKT của một số nớc
Châu á khác.
- Mô hình TĐKT của Hàn Quốc :
Đầu những năm 70 của thế kỷ XX, để thúc đẩy nhanh chóng tiến trình công
nghiệp hoá, Chính phủ Hàn Quốc đã tăng cờng đáng kể vai trò can thiệp của mình
vào quá trình kinh tế. Trọng điểm là tập trung đầu t phát triển các ngành công
nghiệp nặng và hoá chất đồng thời hình thành các tổ hợp công nghiệp lớn (thờng
gọi là các Chaebol): Có hai yếu tố dẫn đến sự phát triển của Chaebol là vay nợ nớc
25

Trích đoạn Quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam về vấn đề hình thành và phát Về cơ cấu tổ chức của các TĐKT Về quản lý các TĐKT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status