KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC TỪ 1978 ĐẾN NAY - Pdf 63

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC Ở TRUNG QUỐC TỪ 1978 ĐẾN NAY
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TRUNG
QUỐC.
1.1.1. Cơ sở lý luận.
Trong quá trình xây dựng và phát triển về mặt lý luận cho công cuộc cải
cách nền kinh tế nói chung và cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nói riêng,
Trung Quốc luôn kế thừa và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin trong điều
kiện lịch sử mới.
* Về tính độc lập tự chủ của các chủ thể kinh tế.
Khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản(CNTB) ở giai đoạn tự do cạnh tranh, Mác-
Anghen đã đi đến nhận định khái quát rằng: nâng cao năng suất lao động, sản
phẩm thặng dư là cái cần thiết cho sự phát triển của tất cả mọi xã hội. Để đạt mục
đích này, sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa cần dựa trên tiền đề khách quan :
“những lao động tư nhân tiến hành độc lập với nhau” và “tiến hành việc trao đổi
hàng hoá giữa các chủ thể kinh tế”.
Trong những điều kiện cạnh tranh tự do tư bản chủ nghĩa, tính độc lập tự chủ
của các chủ thể kinh tế được thể hiện ở chỗ: Các chủ thể kinh tế tự do tiến hành sản
xuất, kinh doanh hàng hoá và cạnh tranh với nhau. Thông qua việc áp dụng các
hình thức cạnh tranh trong cùng ngành và cạnh tranh giữa các ngành sản xuất khác
nhau, các chủ thể kinh tế tìm mọi biện pháp nâng cao năng suất lao động, hạ giá
thành, thu nhiều lợi nhuận.
Thực tế kinh tế thế giới hiện đại cũng chứng minh rằng: càng tôn trọng tính
độc lập, tự chủ cuả các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường,
các quốc gia càng có được những bước phát triển đáng kể về lực lượng sản xuất.
* Về quyền sở hữu tách khỏi quyền sử dụng.
Nghiên cứu loại hình tư bản trong giai đoạn tự do cạnh tranh của CNTB,
Mác-Anghen đã cho ta biết: Tư bản công nghiệp không phải là loại hình tồn tại duy
nhất của tư bản mà ở đó còn có tư bản cho vay…đó chính là do phân công lao
động tạo thành. Tư bản cho vay có đặc trưng là quyền sở hữu tư bản tách rời quyền
sử dụng tư bản. Thực chất của việc cho vay là nhường lại quyền sử dụng tư bản

Công ty cổ phần là tiền đề cho sự ra đời của của các ngành công nghiệp
nặng và sự hình thành các tập đoàn tư bản tài chính. Cùng với sự xâm nhập cổ
phần của tư bản ngân hàng vào các lĩnh vực sản xuất công nghiệp cũng là lúc báo
hiệu tự do canh tranh của CNTB kết thúc, chuyển sang giai đoạn có đặc điểm kinh
tế như Lênin đã chỉ ra: “…Những công ty độc quyền tư bản công nghiệp đã thay
thế cho cạnh tranh tự do tư bản công nghiệp… ”. Lênin cũng chỉ rõ logic phát triển
để nảy sinh các hình thức tổ chức công ty cổ phần ở giai đoạn độc quyền là :
“Cạnh tranh tự do là đặc tính cơ bản của CNTB và của nền sản xuất hàng
hoá nói chung. Độc quyền là cái ngược hẳn với cạnh tranh tự do. Nhưng chúng ta
đã thấy cạnh tranh tự do biến thành độc quyền trong khi tạo ra nền sản xuất lớn,
loại bỏ nền sản xuất nhỏ, thay thế nền sản xuất lớn bằng một nền sản xuất lớn hơn
nữa, thúc đẩy sự tập trung sản xuất và tư bản đến một trình độ nhất định làm cho tổ
chức độc quyền xuất hiện: Cartel, Syndicate, Trust...”. Các tổ chức độc quyền trên
ra đời thâu tóm trong tay hầu hết các ngành kinh tế. Sự phát triển đó đòi hỏi nhà
nước phải ngày càng tham gia vào các quá trình kinh tế bằng các đạo luật, thuế
khoá, tiền tệ và lập ra khu vực kinh tế nhà nước, nhằm duy trì sự ổn định và tăng
trưởng nền kinh tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế .
1.1.2. Thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trước cải cách.
DNNN ở Trung Quốc đã có một quá trình phát triển lâu dài và được hình
thành, bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau song hầu hết các doanh nghiệp nhà nước
được hình thành do cải tạo công thương nghiệp đối với tư sản dân tộc (123.000
doanh nghiệp của tư sản dân tộc, hơn 4,02 triệu doanh nghiệp thương mại) hoặc do
nhà nước đầu tư và xây dựng mới theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung của
Liên Xô cũ. Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở Trung Quốc, DNNN
đã có một vai trò hết sức quan trọng, là lực lượng chính tạo nên sự thay đổi kết cấu
kinh tế công nghiệp; năm 1949 công nghiệp chỉ chiếm 15% GDP, nông nghiệp
chiếm 85% GDP. Đến năm 1991, trị giá sản lượng công nghiệp lên tới 77%, nông
nghiệp là 22% GDP. Sự phát triển DNNN đã thu hút số lượng lao động lớn. Trong
40 năm (1950-1990) số người làm trong DNNN từ 5,1 triệu tăng lên 43,64 triệu.
DNNN là nguồn cung cấp những sản phẩm chủ yếu cho nhu cầu trong nước và

đã tăng lên 9 lần, nhưng sản lượng công nghiệp lại chỉ tăng lên 6 lần. Như vậy,
hiệu quả đồng vốn đầu tư chỉ bằng 2/3 so với năm 1957. Cùng với thời điểm so
sánh, số lượng lao động tăng gấp 4 lần, nhưng năng suất lao động lại chỉ được
50%.
Sau một thời gian cải cách, mặc dù đã đạt được một số thành tựu nhất định,
nhưng các xí nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc vẫn ở tình trạng khốn đốn, vì thừa
lao động, thiết bị lạc hậu, quản lý kém và nợ nần nghiêm trọng. Thể chế kế hoạch
hoá tập trung ở Trung Quốc đã mất dần hiệu lực và nó không phù hợp với yêu cầu
phát triển của nền kinh tế thị trường, từ đó đẩy nền kinh tế Trung Quốc lâm vào
tình trạng khủng hoảng. Cải cách tổng thể cơ chế nền kinh tế Trung Quốc nói
chung và khu vực DNNN nói riêng được đặt ra như một tất yếu không thể trì
hoãn…
1.2. CÁC GIẢI PHÁP CẢI CÁCH DNNN Ở TRUNG QUỐC.
1.2.1. Tách quyền sở hữu nhà nước và quyền kinh doanh của DNNN.
Trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở Trung Quốc nhà nước vừa là
chủ sở hữu vừa là cơ quan lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp
dẫn đến tình trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không gắn với
thị trường mà chỉ nhằm hoàn thành kế hoạch nhà nước đã đề ra, không tính đến
hiệu quả kinh doanh.
Cải cách DNNN ở Trung Quốc đã tập trung vào việc phân định rõ vai trò của
nhà nước và vai trò của DNNN thông qua việc tách quyền sở hữu và quyền kinh
doanh nhằm thực hiện quyền tự chủ kinh doanh của DNNN.
Trong giai đoạn 1978 –1984, Trung Quốc tiến hành thí điểm mở rộng quyền
tự chủ kinh doanh đối với 66.000 DNNN. Trung Quốc một mặt chuyển từ chế độ
cấp phát vốn đầu tư và vốn lưu động cho các doanh nghiệp trước đây thành các
hình thức vay ngân hàng, mặt khác, Trung Quốc còn đẩy mạnh cải cách ở các lĩnh
vực khác như: Mở rộng quyền lập kế hoạch sản xuất, quyền mua bán sản phẩm,
quyền định giá, quyền sử dụng vốn, quyền trả lương, quyền sử dụng lao động…
xây dựng một số đặc khu kinh tế như Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Dầu, Hạ Môn,
đây là những môi trường để mở rộng quyền tự chủ cho DNNN.

với doanh nghiệp là yêu cầu khách quan. Yêu cầu về tự chủ tài chính đòi hỏi
DNNN phải thực hiện hoàn toàn kinh doanh theo nguyên tắc có lợi nhuận để tái
sản xuất mở rộng. Doanh nghiệp có thể chủ động, tự chịu trách nhiệm trong việc
huy động vốn từ nhiều nguồn để mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư chiều sâu và tìm
các biện pháp để sử dụng vốn có hiệu quả trong khuôn khổ pháp luật. DNNN phải
biết tích tụ vốn biết vay, biết trả. Các chủ DNNN được phép linh hoạt về tài chính,
chính phủ chỉ tiến hành kiểm tra, thanh tra khi phát hiện thấy doanh nghiệp có vấn
đề. Sự can thiệp của chính phủ chủ yếu là việc tạo ra môi trường hành lang để hoạt
động tài chính thuận lợi, phục vụ đắc lực và có hiệu quả cao nhất cho hoạt động
sản xuất và trao đổi hàng hoá.
Thực hiện chế độ quản lý vốn và tài sản trong các DNNN đã giúp cho các
doanh nghiệp tăng cường quyền tự chủ tài chính, thông qua cơ chế vốn riêng của
doanh nghiệp, từng bước đưa doanh nghiệp độc lập vào cạnh tranh thị trường,
giảm bớt các chi phối về vốn của nhà nước, khuyến khích các doanh nghiệp tăng
vốn, đó chính là nội dung cơ bản của tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Để ổn
định tự chủ về tài chính, hoàn thiện quyền tự chủ kinh doanh, chương trình cải
cách doanh nghiệp còn coi trọng việc cho phép các DNNN đó được tự chủ các mặt
liên quan khác.
* Tự chủ về lao động, tiền lương và phân phối thu nhập:
Cải cách DNNN ở Trung Quốc đã coi trọng nội dung về tự chủ lao động.
Năm 1979 Trung Quốc thực hiện thí điểm cải cách quản lý doanh nghiệp tại 8
doanh nghiệp tại 3 thành phố: Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, cho phép các
doanh nghiệp lựa chọn, tuyển dụng nhân công và quyền khen thưởng, xử phạt, sa
thải công nhân viên chức theo qui chế. Sau thời gian thực hiện nội dung này quyền
tự chủ về lao động được mở rộng thêm. Doanh nghiệp có quyền tuyển chọn, sử
dụng công nhân viên chức theo kế hoạch lao động của nhà nước, có quyền thưởng
phạt dựa trên biểu hiện của các công nhân viên. Doanh nghiệp có quyền dựa vào
nguyên tắc tinh giảm và nâng cao hiệu quả kinh tế, dựa trên nhu cầu thực tế để sắp
xếp cơ cấu nhân sự và định mức biên chế của mình.
Tự chủ về lao động theo yêu cầu cải cách DNNN ở Trung Quốc cũng đã đặt

hoặc mở rộng thị trường.
1.2.3. Đổi mới các hình thức tổ chức DNNN.
* Công ty hoá:
Cho rằng chế độ công ty là định hướng cần thiết cho cải cách DNNN, Trung
Quốc tiến hành chuyển các DNNN đang hoạt động theo Luật xí nghiệp quốc hữu
(ban hành năm 1998) đủ điều kiện theo quy định thành dạng công ty hoàn toàn vốn
nhà nước hoạt động theo Luật công ty (ban hành năm 1993).
+ Về nguyên tắc Trung Quốc quy định rõ:
- Công ty hoạt động độc lập.
- Thực hiện dân chủ song trùng (dân chủ đối với người góp vốn, các cổ đông
và công nhân viên chức)
- Công khai hoá tài sản, thực hiện chế độ công khai định kỳ cho cá cổ đông
về nợ đọng, vốn.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status