I - Thực tiễn quan hệ Việt Nam – EU trong lĩnh vực đầu tư
1.Trước khi gia nhập WTO
Trong suốt 2 thập kỷ 80 – 90, các nhà đầu tư EU chủ yếu chú trọng vào thị
trường của chính mình và các quốc gia Đông Âu, Trung Âu. Do đó, trong khoảng
thời gian này, hầu như quan hệ đầu tư giữa EU và Việt Nam chưa có thành tựu
nào đáng kể. Tuy nhiên, vào năm 1996 sau khi EU công bố chiến lược Châu Á
mới thì các nhà đầu tư của họ đã tăng cường hiện diện ở Việt Nam. Phái đoàn Ủy
ban châu Âu tại Việt Nam được thành lập và chính thứchoạt động từ năm 1996.
Từ đó tới nay, quan hệ Việt Nam - EU đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực,
trong đó lĩnh vực đầu tư phát triển mạnh.Kể từ khi Việt Nam ban hành Luật Đầu tư
nước ngoài tháng 12/1987 đến hết tháng 8/2005, các nước EU có 466 dự án còn
hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 6,8 tỷ USD và vốn Đầu tư thực hiện gần
3,8 tỷ USD. Đã có 16 trong tổng số 25 quốc gia thành viên EU đầu tư vào Việt
Nam, trong đó dẫn đầu là Pháp với 150 dự án và tổng vốn Đầu tư là 2,12 tỷ USD;
tiếp theo là Hà Lan với 57 dự án và tổng vốn Đầu tư1,8 tỷ USD; Anh có 66 dự án
tổng vốn Đầu tư1,2 tỷ USD…Các nhà đầu tư EU có mặt trong hầu hết các ngành
kinh tế của Việt Nam,trong đó tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực công nghiệp và
xây dựng, với 260 dự án và tổng vốn Đầu tưlà 4 tỷ USD, đặc biệt đáng chú ý là
riêng dầu khí có 7dự án còn hiệu lực, với tổng vốn lên tới 1,35 tỷ USD. Trong lĩnh
vực dịch vụ, EU có 158 dự án với tổng vốn đầu tư là 2,3 tỷ USD và trong lĩnh vực
nông,lâm nghiệp, 48 dự án, tổng vốn đầu tư là 452,5 triệu USD có nguồn gốc
từ EU.
2. Sau khi gia nhập WTO
Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với EU, Việt Nam cùng EU đã ký hơn 10
Hiệp định quan trọng liên quan đến hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại,
các hoạt động hỗ trợ, viện trợ cho Việt Nam trong công cuộc đổi mới.
a. Vốn đầu tư nước ngoài FDI
EU có tổng vốn đầu tư nước ngoài FDI ra ngoài khối chiếm 47% FDI của
toàn cầu. Tính đến ngày 20/10/2010, với 1.036 dự án, tổng vốn đăng ký xấp xỉ 16
tỷ USD, EU đang là một trong các nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam. Các nhà đầu
tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam nhưng tập
đến thương mại và hỗ trợ đối thoại chiến lược giữa Việt Nam và EC.
Về tổng thể, EU là một trong những đối tác viện trợ song phương lớn nhất
cho Việt Nam. Các nước EU đang nỗ lực thực hiện hài hòa hóa thủ tục ODA giữa
các nước thành viên và với các nhà tài trợ khác với mục đích phân công và phối
hợp trong từng lĩnh vực và nâng cao hiệu quả tốc độ giải ngân.
Các dự án hợp tác của EC đều tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên của ta là:
1/ Phát triển nông thôn nhằm giảm khoảng cách giàu - nghèo, hỗ trợ vùng sâu
vùng xa, miền núi. 2/ Phát triển nguồn nhân lực. 3/ Phát triển y tế giáo dục. 4/ Hỗ
trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý đặc biệt trong các lĩnh vực kế toán, kiểm
toán, quản lý chất lượng, sở hữu trí tuệ,.... 5/ Hỗ trợ cải cách hành chính, tư pháp,
ngân hàng, tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế.
II - Triển vọng và giải pháp
1. Triển vọng
Hiệp định đối tác, hợp tác toàn diện (PCA) vừa được ký tắt vào ngày
4/10/2010, tạo ra một khuôn khổ mới, dài hạn và toàn diện cho quan hệ Việt Nam
– EU. PCA sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hai bên có thể khai thác được tốt hơn lợi
thế so sánh và bổ sung lẫn nhau. Nhiều lĩnh vực EU có thế mạnh như cơ khí, chế
tạo, giao thông vận tải, hoá chất, dược phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao
trong khi Việt Nam có nhu cầu lớn nhưng khả năng đáp ứng trong nước còn hạn
chế. Đồng thời, nhiều mặt hàng Việt Nam có lợi thế, có thể đáp ứng nhu cầu nhập
khẩu lớn của EU như cao su nguyên nhiên liệu, thủ công mỹ nghệ, giày dép, may
mặc, thuỷ hải sản, cà phê, chè, hạt tiêu…
Đặc biệt, PCA đã tạo tiền đề để có thể đi đến một Hiệp định tự do thương
mại song phương (FTA) và hiện nay hai bên đang tham vấn để sớm chính thức
tiến hành đàm phán hiệp định này. Việc đàm phán và ký kết FTA sẽ mở ra nhiều
cơ hội hợp tác kinh tế, thương mại cho cả hai bên. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ
có nhiều điều kiện thuận lợi hơn khi vào thị trường EU; đồng thời tính hấp dẫn của
môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam cũng tăng lên đối với các nhà đầu tư
EU.
2. Giải pháp