Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nếu nh vào thập kỷ 80, toàn thế giới tập trung vào nghiên cứu sự thần bí phía
sau sự phát triển thần kỳ của những con rồng châu á thì hiện nay, Nớc cộng hoà
nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc) nổi lên nh một hiện tợng kinh tế
thế giới với những chơng trình đổi mới cũng nh những thành tựu đáng kinh ngạc
về phát triển kinh tế. Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách cải cách mở cửa về
ngoại thơng và đầu t nớc ngoài, kinh tế Trung Quốc đã đạt đợc những thành tựu
to lớn. Hiện nay, nền kinh tế Trung Quốc dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trởng.
Vị thế và ảnh hởng của Trung Quốc đã tăng lên rõ rệt. Nhiều nhà kinh tế nhận
định rằng, từ nay đến hết thập niên đầu thế kỉ XXI vẫn là thời kỳ phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc.
Một trong những yếu tố chi phối mạnh mẽ sự phát triển kinh tế của
Trung Quốc trong hơn hai mơi năm qua là sự thành công trong việc thu hút đầu
t trực tiếp nớc ngoài. Từ năm 1992 đến 2001, Trung Quốc liên tục đứng đầu các
nớc đang phát triển và đứng thứ hai trên thế giới về thu hút đầu t trực tiếp nớc
ngoài, năm 2002 Trung Quốc vợt qua Mỹ và dành vị trí số một. Đầu t trực tiếp
nớc ngoài trở thành động lực của sự phát triển kinh tế Trung Quốc và chính nó
là yếu tố then chốt để nớc này thực hiện công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu.
Quan trọng hơn, nó là cơ sở chủ yếu để Trung Quốc thực hiện bớc chuyển từ
một nớc nông nghiệp, khai thác tài nguyên, xuất khẩu nguyên liệu là chính sang
thành nớc sản xuất và xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng công nghiệp chế tạo.
Nhờ có đầu t trực tiếp nớc ngoài mà đất nớc Trung Quốc đã thay da đổi thịt.
Nếu nh trớc khi mở cửa, Trung Quốc đợc ví nh một hành tinh chết, không sinh
sôi, không nảy nở, phát triển thì sau 20 năm mở cửa, một đất nớc Trung Quốc
lớn mạnh đang hình thành, tạo nên một trong những điều thần kỳ kinh tế vĩ đại
nhất của thế kỷ.
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
1
2
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
5. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn đợc chia thành 3 chơng:
Chơng I:
Chính sách thu hút đầu t nớc ngoài của Trung Quốc
Chơng II:
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp của trung quốc
Chơng III:
Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của ThS.
Mai Thu Hiền, giảng viên trờng Đại học Ngoại thơng, sự giúp đỡ tận tình về tài
liệu của Đại sứ quán Trung Quốc, cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên
tác giả hoàn thành luận văn này.
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
3
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
Chính sách thu hút đầu t trực
tiếp nớc Ngoài của Trung Quốc
T
rớc khi đi sâu phân tích các chính sách thu hút đầu t trực tiếp của Trung Quốc,
chúng ta sẽ xem xét khái quát bối cảnh nền kinh tế, là cơ sở cho việc ra đời và
phát huy hiệu quả của những chính sách này.
I. Tổng quan về nền kinh tế Trung Quốc:
Nền kinh tế Trung Quốc có những thay đổi căn bản từ đầu năm 1978 khi n-
ớc này thực hiện chính sách cải cách kinh tế. Nội dung chủ yếu của chính sách
cải cách kinh tế gồm:
trong việc lập kế hoạch sản xuất và đầu t, tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm các đầu
vào. Cải cách trong khu vực tài chính và thị trờng lao động cũng cho phép các
DNNN linh hoạt hơn trong việc tìm kiếm các nguồn vốn khác nhau (nh tín dụng
ngân hàng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu) và sử dụng lực lợng lao động của họ
theo các điều kiện thị trờng. Nhìn chung, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
có quyền tự chủ quản lý cao hơn so với các DNNN. Từ năm 1978 đến 1997, tỷ
trọng đóng góp của các DNNN trong tổng sản lợng công nghiệp giảm từ 78%
xuống còn 27%. Trong ngành nông nghiệp, sử dụng cơ chế khoán hộ gia đình,
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
5
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
mặc dù chính phủ vẫn kiểm soát một phần trong khâu tiêu thụ ngũ cốc, dầu ăn
và bông thông qua hệ thống thu mua chính thức. Trong ngành bán lẻ cũng xuất
hiện một xu thế phát triển tơng tự của khu vực ngoài quốc doanh vì doanh số
bán lẻ của các doanh nghiệp bán lẻ quốc doanh chỉ chiếm 27% vào năm 1996,
giảm so với mức 67% vào năm 1978. Những sự phát triển này đã thay đổi một
cách cơ bản các nguồn lực tăng trởng kinh tế của Trung Quốc, từ các DNNN
đầu t trực tiếp theo định hớng, kế hoạch của nhà nớc trong thời kỳ trớc cải cách
sang kinh doanh tự do trong một môi trờng có tính cạnh tranh cao.
- Mở cửa ngoại thơng và đầu t nớc ngoài. Ngay từ mùa xuân năm 1978,
Trung Quốc đã xác định mục tiêu số một của đất nớc là tăng mức sống của
nhân dân toàn quốc thông qua phát triển kinh tế. Để đạt đợc mục tiêu này, ban
lãnh đạo Trung Quốc nhận định phải có quan hệ rộng hơn, tiếp cận mạnh hơn
các thành tựu công nghệ kỹ thuật và khoa học tiên tiến của phơng Tây, tận dụng
các mối quan hệ đối ngoại và Trung Quốc phải thực hiện điều chỉnh, tái cơ
cấu, củng cố và phát triển.
Mở cửa ngoại thơng và đầu t nớc ngoài đã góp phần thúc đẩy tăng trởng
kinh tế của Trung Quốc theo nhiều cách. Thứ nhất, hiện nay xuất khẩu đã trở
thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Năm 1997, giá trị gia
(4,52%). Từ năm 1978 đến nay, tốc độ tăng trởng bình quân hàng năm của
Trung Quốc là 7,6%, cao hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới. Giai
đoạn 1992 - 1997, kinh tế Trung Quốc tăng trởng ngoạn mục hơn nữa với tốc độ
tăng trởng GDP bình quân đạt 11%/ năm. Trong đó, GDP Trung Quốc năm
1996 lớn hơn GDP của ASEAN khoảng 15%, bằng 3% GDP của thế giới, 23%
kinh tế Nhật, 12% kinh tế Mỹ (xem biểu đồ 1.1). Nhiều nhà quan sát xem sự
tăng trởng này là thần kỳ, đặc biệt là khi so sánh với các nớc xã hội chủ nghĩa
cũ trong lúc các này trải qua sự suy thoái kinh tế trầm trọng trong suốt giai đoạn
từ đầu đến giữa thập niên 90. Trong những năm 1997 - 1999, do tác động của
cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, nền kinh tế Trung Quốc cũng chững lại, và
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
7
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
có dấu hiệu suy giảm. Tuy nhiên, ngay sau đó Trung Quốc đã lấy lại đợc xu thế
tăng trởng.
Năm 2000 là năm cuối của kế hoạch năm năm phát triển kinh tế xã hội lần
thứ chín ( 1996 - 2000), cũng là năm đánh dấu một bớc chuyển biến quan trọng
trong nền kinh tế Trung Quốc. Với những cố gắng gia nhập tổ chức thơng mại
thế giới (WTO), tái cơ cấu nền kinh tế, tập trung cải cách xí nghiệp quốc doanh,
thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, cải cách cơ bản về nông nghiệp và mở
rộng nhu cầu nội địa, Trung Quốc đã đảo ngợc xu hớng suy giảm tốc độ tăng
trởng kinh tế kéo dài liên tục trong 3 năm qua. Năm 2000, với GDP đạt 8.940 tỷ
NDT - tơng đơng 1.072 tỷ USD, với mức tăng GDP là 8,3% (theo Tổng cục
thống kê quốc gia), theo số liệu của IMF con số này là 7,5%), GDP bình quân
đầu ngời đạt 690 USD, Trung Quốc đã hoàn thành vợt mức kế hoạch tăng gấp 4
lần GDP bình quân đầu ngời của năm 1980 (200 USD). (Xem phụ lục 4). Với
kết quả này, Trung Quốc đã lần đầu tiên đặt chân vào hàng ngũ các quốc gia có
GDP trên 1000 tỷ USD.
Biểu đồ 1.1: GDP và tốc độ tăng trưởng GDP (g) của Trung Quốc giai
thị trờng Mỹ chiếm tới 40% lợng hàng xuất khẩu của Trung Quốc; còn Nhật
Bản chiếm khoảng 16 - 17%). Song, Trung Quốc vẫn duy trì đợc mục tiêu tăng
trởng. Theo đánh giá của Ngân hàng phát triển Châu á, năm 2001, GDP của
Trung Quốc đạt 9593,3 NDT, tăng 7,3%, thấp hơn so với mức kế hoạch đề ra
(7,5%). Tuy vậy, Trung Quốc vẫn là nớc có tốc độ tăng trởng kinh tế cao nhất
thế giới và trong vòng 10 năm tới Trung Quốc có thể vẫn giữ đợc tốc độ tăng tr-
ởng này.
Tăng trởng kinh tế nhanh kéo theo thu nhập bình quân đầu ngời dân Trung
Quốc tăng lên đáng kể. Từ năm 1978 đến năm 2000, thu nhập thực tế của dân
c đô thị tăng bình quân 6%/ năm, và thu nhập thực tế của dân c nông thôn tăng
với mức bình quân 8%/ năm. Năm 2001, con số này lần lợt là 8,5% và 4,2%.
Thu nhập của nông dân tăng đã làm số dân nghèo theo thống kê chính thức
giảm mạnh từ mức 33% vào năm 1978 (WB, 1992) xuống còn 4% vào năm
1997 (Li, 1998) và 3% vào năm 2001. Năm 2000 mức GDP bình quân đầu ngời
đạt 690 USD (xem thêm Phụ lục 4), con số này trong năm 2001 là 9.400 NDT
(1.140 USD).
Đồng hành với tăng trởng nhanh của Trung Quốc là những thay đổi quan
trọng trong cơ cấu ngành của nền kinh tế nớc này. Năm 1978, nông nghiệp
chiếm 24% GDP, công nghiệp và xây dựng chiếm 48% và dịch vụ 24% GDP .
19 năm sau, tầm quan trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân đã
giảm mạnh trong khi vị trí của dịch vụ đã tăng lên tơng ứng. Năm 1997, giá trị
gia tăng của nông nghiệp là 20%, của công nghiệp và xây dựng là 30% GDP .
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
9
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
Kết quả của việc chuyển dịch hoạt động nông nghiệp sang các hoạt động
khác đã làm cho lao động trong nông nghiệp đã giảm xuống còn 50% tổng số
công ăn việc làm trong năm 1996 so với mức 70% năm 1978. Từ năm 2000
Trung Quốc đã chính thức thông báo giảm sản lợng nông nghiệp, chấm dứt
năm (xác định theo chỉ số giá bán lẻ), dù đôi khi mức lạm phát ngắn hạn có thể
lên tới 20%/ năm ( 1987 - 1988 và 1993 - 1995). Điều đáng lu ý là Trung Quốc
đã đạt đợc sự ổn định trên trong điều kiện thả nổi hơn 90% giá cả hàng hoá mà
trớc đây nhà nớc kiểm soát. ở các nớc khác trong thời kỳ quá độ, tự do hoá giá
cả đã dẫn tới giá cả tăng đột biến và một số nền kinh tế phải chịu lạm phát kéo
dài. Đặc biệt, kết quả chơng trình "hạ cánh nhẹ nhàng" của Trung Quốc trong
hai năm 1996 - 1997 rất ngoạn mục: mức lạm phát bình quân giảm xuống dới
4% từ mức 15% năm 1995, trong khi tốc độ tăng trởng GDP vẫn ổn định ở mức
9%/ năm.
Diễn biến kinh tế vĩ mô của Trung Quốc trong 20 năm qua đã phản ánh
quyết tâm chắc chắn của chính quyền Trung ơng đối với việc duy trì ổn định giá
cả, và chiến lợc tự do hoá giá cả từng bớc của Trung Quốc đang thu đợc kết quả
tốt đẹp. Chính phủ Trung Quốc đã rất thận trọng trong việc xác định các bớc
xoá bỏ kiểm xoát giá cả với một mức lạm pháp hạn chế do cải cánh giá gây ra.
Chính phủ Trung Quốc có xu hớng làm chậm lại, thậm chí làm đảo ngợc, quá
trình tự do hoá giá cả, tỷ giá hối đoái và lãi suất nếu vấn đề ổn định kinh tế vĩ
mô bị đe dọa. Hơn nữa, Trung Quốc kiên trì thực hiện chiến lợc hệ thống hai cơ
chế kinh tế trong nhiều khu vực, chiến lợc cho phép cơ chế thị trờng từng bớc đ-
ợc thành lập và giá cả thị trờng dần dần ảnh hởng đến tất cả giao dịch kinh
doanh. Chính phủ Trung Quốc cũng rất thận trọng trong việc lựa chọn các cơ
hội cải cách giá cả và các cải cách khác, nhờ đó giảm thiểu tác động của lạm
phát do những cải cách gây ra.
Điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi của Trung Quốc đã tạo ra tỷ lệ tiết kiệm
cao (35- 40%), trong suốt thời kỳ cải cách, so với các nớc có thu nhập thấp và
trung bình khác. Bởi vì vai trò của ngân sách nhà nớc trong quá trình huy động
các nguồn lực đầu t đã giảm xuống đáng kể, nên hệ thống ngân hàng và thị tr-
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
11
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
Trong thời kỳ 1978 - 1997, tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu bình
quân đạt 16% một năm. Cũng trong thời kỳ này, kim ngạch xuất nhập khẩu so
với GDP tăng từ 9% lên 36%, trong đó tỷ lệ giá trị xuất khẩu so với GDP tăng
từ 4% lên 9%. Năm 1997, tổng kim ngạch ngoại thơng của Trung Quốc đạt
325,1 tỷ USD. Năm 1998, do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ
Châu á, Kim ngạch ngoại thơng của Trung Quốc giảm nhẹ với mức 0,4% so
với năm 1997, tổng kim ngạch ngoại thơng đạt 424 tỷ USD, trong đó xuất khẩu
đạt 283,8 tỷ USD, tăng 0,5%; Nhập khẩu đạt 140,2 tỷ USD, giảm 1,5% (Xem
bảng 1.1). Nh vậy, kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng xấp xỉ
15 lần trong 20 năm, đa Trung Quốc từ vị trí thứ 32 lên vị trí cờng quốc ngoại
thơng thứ 10 thế giới, chỉ sau Mỹ, Đức, Nhật, Anh, Pháp, Italia, Canada, Hồng
Kông và Hà Lan. Từ chỗ chiếm 0,75% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn thế
giới tới chỗ chiếm tới 3,3%. Năm 2000, cùng với sự xuất hiện những nhân tố
mới của nền kinh tế thế giới, thơng mại thế giới đã đạt mức tăng trởng 10,6%,
cao nhất trong thập kỷ vừa qua với mức gia tăng kỷ lục về kim ngạch xuất nhập
khẩu, lớn gấp 2,3 lần so với mức tăng trởng 4,3% của năm 1998 và gấp gần 2
lần so với mức tăng trởng 5,3% của năm 1999. Trong bối cảnh đó, hoạt động th-
ơng mại của Trung Quốc cũng đạt mức tăng trởng mạnh với tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu của cả năm 2000 là 430,9 tỷ USD, tăng 30,2% so với năm 1999,
trong đó xuất khẩu đạt 227,2 tỷ USD, tăng 30,1%; nhập khẩu đạt 203,7 tỷ USD,
tăng 30,4%. Năm 2001, mặc dù có những biến động mạnh đối với nền kinh tế
toàn cầu, thêm vào đó là sự kiện khủng bố nớc Mỹ vào ngày 11 tháng 9 đã gây
tổn thất lớn cho nền kinh tế Mỹ và có ảnh hởng xấu tới hoạt động thơng mại của
Trung Quốc, bởi Mỹ là bạn hàng mậu dịch lớn nhất của Trung Quốc. Không
những vậy, việc trở thành thành viên chính thức của WTO cũng đã tác động
không nhỏ tới hoạt động thơng mại của Trung Quốc. Tuy vậy, năm 2001 Trung
Quốc vẫn duy trì đợc số thặng d thơng mại lớn đạt 17 tỷ USD, cụ thể: tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc đạt 501 tỷ USD, trong đó kim ngạch
62,1
71,8
85,0
91,8
121,0
148,8
151,1
282,3
283,8
174,6
227,2
266,2
10,9
20,0
42,3
53,4
63,8
80,6
104,0
115,7
132,1
138,8
142,4
140,2
156,3
203,7
234,8
4
6
9
- mở cửa đã gặt hái đợc nhiều thành tựu lớn, đóng góp một phần quan trọng vào
việc tăng trởng kinh tế và ổn định xã hội Trung Quốc. Với những thành tựu kinh
tế nói trên, Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi để chuyển sang thế kỷ 21,
hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ 10 ( 2001-2005).
Mức độ dựa vào đầu t nớc ngoài (tỷ trọng của lợng đầu t trực tiếp nớc
ngoài trong GDP ) cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh tình
hình thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài. Năm 1985, lợng đầu t trực tiếp nớc ngoài
1
State Statistical Bureau (1993, 1995, 1996, 1997a ), IMF (1998). Số liệu năm 1997 lấy theo
Chen (1998). Số liệu từ năm 1998- 2001 lấy từ tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc các số năm
1999,2000 và 2001
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
14
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
đợc thu hút vào Trung Quốc là 4,72 tỷ USD, mức độ dựa vào đàu t nớc ngoài là
1,55%. Chỉ tiêu này đã liên tục tăng lên và từ năm 1995 trở lại đây, mức độ dựa
vào vốn nớc ngoài khoảng 20%. Tính đến năm 1997, tổng đầu t trực tiếp nớc
ngoài đạt 220,14 tỷ USD, mức dựa vào vốn nớc ngoài lên tới 24,4%. Trung
Quốc đã thu hút tới 40% tổng vốn đầu t trực tiếp của các nớc đang phát triển và
trở thành nớc thu hút đầu t trực tiếp lớn thứ hai trên thế giới, sau Mỹ. Hiện nay,
đầu t trực tiếp nớc ngoài đã trở thành một trong những nhân tố có ảnh hởng
quan trọng đối với sự tăng trởng kinh tế của Trung Quốc .
Nợ nớc ngoài của Trung Quốc đợc duy trì ở mức cao. Mức dựa vào nợ nớc
ngoài là tỷ lệ giữa số d nợ nớc ngoài với thu nhập tài chính của một nớc. Đây là
một trong những chỉ tiêu đo mức quốc tế hoá kinh tế của một nớc và mức độ mở
cửa đối với nớc ngoài. Nhìn chung, tỷ lệ thông thờng của mức độ dựa vào nợ n-
ớc ngoài khoảng 0,9 đến 1,0. Năm 1979, số d nợ nớc ngoài của Trung Quốc là
2,35 tỷ USD, mức độ dựa vào nớc ngoài chỉ có 0,03. Sang thập kỷ 90, cùng với
việc tăng lên không ngừng của việc sử dụng vốn nớc ngoài, mức độ dựa vào nợ
ớc láng giềng bị hạn chế. Trái lại đờng bờ biển phía Đông mở rộng ra Thái Bình
Dơng với các cảng nằm rải rác từ Bắc xuống Nam đã tạo điều kiện tốt cho
Trung Quốc quan hệ với thế giới.
Do điều kiện địa lý ở các vùng khác nhau và do trình độ phát triển kinh tế,
văn hoá không đồng đều giữa các vùng nên Trung Quốc không thể cùng lúc mở
cửa với mức độ nh nhau trong phạm vi cả nớc. Vì vậy Trung Quốc đã chọn
vùng ven biển làm vùng có nhiều thuận lợi hơn cả để đi đầu trong chính sách
mở cửa, nhằm phát huy u thế của vùng này với tài nguyên thiên nhiên phong
phú, sức lao động dồi dào, vị trí thuận lợi trong giao lu quốc tế. Đây cũng là
những vùng có truyền thống kinh doanh buôn bán lâu đời, có một số cơ sở công
nghiệp đã hình thành và có khả năng tiềm năng khoa học tơng đối lớn. Vùng
ven biển phía Đông Nam, đặc biệt là hai tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến còn là
quê hơng của hàng chục triệu Hoa kiều.
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
16
Muốn vợt một
dòng sông phải dò
từng bớc lên những
tảng đá dới lòng
sông
Đặng Tiểu Bình
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
Nếu khu vực ven biển Trung Quốc (bao gồm cả đồng bằng sông Châu Giang
và đồng bằng sông Trờng Giang, vùng tam giác nam Phúc Kiến, bán đảo Sơn
Đông, bán đảo Liêu Đông) có thể đivào thị trờng quốc tế để tỏ rõ thế mạnh, tìm
lối thoát, thực sự chuyển sang quỹ đạo kinh tế hớng ra bên ngoài thì chẳng
những kinh tế vùng ven biển có thể đẩy nhanh tốc độ phát triển mà còn kéo theo
sự phát triển của khu vực miền Trnng và miền Tây.
Để thực hiện chiến lợc này, Trung Quốc áp dụng phơng châm của ông Đặng
Đặng Tiểu Bình
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
Năm đặc khu trên có đặc điểm chung là đợc đặt ở khu vực có quan hệ lâu
dài với nớc ngoài và có vị trí thuận lợi trong thơng mại quốc tế. Các đặc khu
đều nằm sát các thị trờng t bản, giao thông đờng biển, đờng không thuận tiện.
Do đó nhng đặc khu này chịu tác động trực tiếp của các trung tâm công nghiệp
và thơng mại ở bên ngoài. Đây là con đờng chủ yếu để Trung Quốc du nhập
vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của t bản nớc ngoài. Các đặc khu trên là quê
hơng của rất nhiều Hoa kiều, họ có vốn, có khả năng quản lý, có kinh nghiệm
về các hoạt động tài chính và ngân hàng. Khá nhiều ngời trong số họ còn giữ
những vị trí quan trọng trong những ngành kinh doanh khắp Đông Nam á. Hơn
nữa, truyền thống của ngời dân Trung Quốc là dù có đi khắp nơi trên thế giới
nhng khi có điều kiện, họ sẽ tìm mọi cách để hớng về đất mẹ bằng mọi hình
thức khác nhau. Đây là một lợi thế đặc biệt của Trung Quốc mà ít nớc nào có đ-
ợc.
Bên cạnh những đặc điểm chung, mỗi đặc khu lại có những đặc điểm riêng.
Trừ Hạ Môn có môt nền tảng công nghiệp truyển thống, các đặc khu khác khi
mới thành lập đều không có cơ sở hạ tầng. Đặc khu Sán Dầu lại không có nhiều
mối quan hệ họ hàng và văn hoá với Hoa kiều nh Thâm Quyến và Hạ Môn song
bù lại họ có một lịch sử buôn bán hơn một trăm năm,
Với những đặc điểm nh vậy, ngay từ khi bắt đầu xây dựng, Trung Quốc đã
xác định nhiệm vụ cho các đặc khu kinh tế là: một mặt làm ra của cải vật chất
ngày càng nhiều, dẫn đầu cả nớc trong việc làmgiầu trớc; một mặt phải cung
cấp cho nội địa những công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tăng
nhanh tiến trình 4 hiện đại hóa của đất nớc. Nói theo cách của Ông Đặng là các
đặc khu kinh tế phải hoàn thành nhiệm vụ 4 cửa sổ là: cửa sổ kỹ thuật, cửa sổ
quản lý, cửa sổ tri thức và cửa sổ chính sách đối ngoại.
Việc xây dựng các đặc khu kinh tế ở một chừng mực nào đó có dựa theo
mẫu của khu chế xuất ở các nớc phát triển, song nó không phải là bản sao của
đến đặc khu kinh tế ngày càng nhiều.
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
19
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
Thế nhng bên cạnh những thành tựu to lớn mà các đặc khu kinh tế đạt đợc,
những biểu hiện tiêu cực và kém hiệu quả của các đặc khu kinh tế vẫn tồn tại.
Đó là: cơ cấu kinh tế mất cân đối nặng nề, mặc dù đã đợc coi là khu vực kinh
doanh tổng hợp, nhng do quá chú trọng đến phát triển công nghiệp,các đặc khu
kinh tế đã tạo ra nguy cơ thiên lệch cơ cấu ngành kinh tế, tỷ lệ vốn FDI trong
ngành dịch vụ giảm dần kể từ năm 1990 nhng vẫn chiếm phần lớn vốn đầu t,
tạo nên sự xa hoa lãng phí không cần thiết (Tại Thẩm Quyến, tuy có nhiều cơ sở
công nghiệp hiện đại nhng vẫn còn tồn tại tới 200 khách sạn 4-4 sao, nhiều
quán rợu, nhiều điểm ăn chơi, gần 100 vũ trờng ); tính thiếu hiệu quả trong
đầu t thể hiện ở chỗ các xí nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 71% hạng mục đầu t; cơ
sở hạ tầng còn thiếu, chi phí xây dựng kết cấu hạ tầng còn quá cao. Các nhà
kinh tế Trung Quốc đánh giá, bình quân việc triển khai cơ sở hạ tầng trong một
đặc khu kinh tế đòi hỏi đầu t khoảng 2 tỷ NTD/ km2, chi phí lớn nh vậy nhng sự
kém năng lực của cơ sở hạ tầng vẫn còn rất nhiều ; có sự cạnh tranh giữa khu
vực trong đặc khu kinh tế với khu vực còn lại trong nớc do những u đãi miễn
giảm thuế ở trong đặc khu kinh tế mà ngoài đặc khu kinh tế không có
Mặc dù có những nhợc diểm và kém hiệu quả nh trên, nhng những thành
công lớn của các đặc khu kinh tế Trung Quốc cho thấy sự chuyển hớng và lựa
chọn những chính sách, mô hình đúng đắn của chính phủ Trung Quốc kể từ khi
mở cửa. Hiện nay, các đặc khu kinh tế Trung Quốc không ngừng chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế, chú trọng thu hút vốn đầu t từ các nớc phát triển nhằm
hiện đại hoá cơ cấu công nghiệp trong các đặc khu.
3. Xây dựng 14 thành phố mở cửa ven biển:
Sau những thành công bớc đầu của đặc khu kinh tế , nhà lãnh đạo Đặng
Tiểu Bình đã nêu lên t tởng chỉ đạo chiến lớc quan trọng: xây dựng đặc khu
cao tốc, 9.078 km đờng xe chuyên dụng cấp 1 và 2; tất cả các huyện đều đã xây
dựng đờng bộ. Đã cải tạo sử dụng 110 ngàn km vận tải đờng sông. Đã xây dựng
đợc hơn 20 cảng lớn, 1.763 cảng nhỏ trong đó 350 cảng có thể nhận đợc tàu
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
21
Thực hiện chính sách
mở cửa không thu lại
mà bung ra
Đặng Tiểu Bình
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
trọng tải 1 vạn tấn, đã mở ra gần 100 tuyến đờng biển để giao lu với 1.100 bến
cảng của hơn 160 nớc và khu vực. Hàng không dân dụng Trung Quốc cũng đã
mở ra 688 tuyến bay, trong đó có 84 tuyến bay quốc tế, với đờng bay dàI 1.046
triệu km, trong đó đờng bay quốc tế dài 352 ngàn km, thông đến hơn 40 thành
phố trên thế giới; đã sử dụng nhiều máy bay cỡ lớn nh Boeing 767, 757, 747,
737, MD 82 Về b u điện viễn thông, Trung Quốc đã xây dựng 60.400 trạm bu
điện, với tuyến bu điện dài 5,244 triệu km, đã đặt 61,62 triệu máy điện thoại ở
thành phố và nông thôn. Riêng trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8 vừa qua, đầu t tải
sản cố định tăng lên rõ rệt, tổng cộng đạt chừng 734,9 tỷ USD, tăng gấp 3,1 lần
so với kế hoạch 5 năm lần thứ 7. Trong 5 năm tăng thêm hơn 5.800 km đờng
bộ mới, 3.400 km đờng sắt hai chiều, xây dựng 92.000 km đờng bộ mới, 1.700
km đờng cao tốc. Tổng cộng năng suất điện lực 200 kw Điều kiện cung ứng
năng lợng, giao thông, bu điện ở Trung Quốc không ngừng đ ợc cải thiện đã
tạo ra thuận lợi cho các nhà đầu t. Sau khi gia nhập WTO, xây dựng và phát
triển cơ sở hạ tầng để cải thiện hơn nữa môi trờng đầu t tiếp tục là mối quan tâm
lớn của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Với việc đa vào hoạt động hai tuyến đ-
ờng cao tốc mới ở Bắc Kinh và Sơn Tây, tổng chiều dài đờng cao tốc ở Trung
Quốc trong năm qua đã vợt con số 20.000 km, Trung Quốc đã vợt Canada và
Đức trở thành quốc gia đứng thứ hai thế giới (sau Mỹ) trong lĩnh vực này. Bên
sử dụng than,... Trung Quốc coi việc bảo vệ môi trờng và phát triển bền vững là
chính sách quốc gia lâu dài cùng với việc phát triển cơ sở hạ tầng cứng.
4.2. Tạo dựng môi trờng luật pháp choFDI:
Trung Quốc đã ban hành hơn 500 văn bản gốc gồm các bộ luật và pháp quy
liên quan đến quan hệ kinh tế đối ngoại và đầu t trực tiếp, tơng đối phù hợp với
đòi hỏi của những quan hệ mở trong nền kinh tế thị trờng. Chúng đợc xây dựng
trên những nguyên tắc cơ bản là:
-Bình đẳng cùng có lợi nghĩa là phải có lợi cho việc xây dựng hiện đại hoá
của Trung Quốc, đồng thời các nhà đầu t cũng thấy đợc lợi ích của mình. Nhà
nớc Trung Quốc bảo vệ vốn đầu t, các lợi nhuận thu đợc và các quyền lợi hợp
pháp khác của các nhà đầu t.
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
23
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
đói với Việt Nam
-Tôn trọng tập quán quốc tế: các nhà đầu t có quyền tự chủ tơng đối lớn
trong sản xuất kinh doanh. Họ có thể áp dụng các phơng thức quản lý phổ biến
trên thế giới, không bị bó buộc bởi thể chế quản lý hiện hành của Trung Quốc.
Trên các nguyên tắc đó, Bộ luật đầu t hợp tác giữa Trung Quốc với nớc
ngoài ra đời vào ngày 1/7/1979 đã đặt nền móng cho các nhà đầu t vào Trung
Quốc. Đây là Bộ luật quan trọng nhất liên quan đến lĩnh vực này
Những nội dung chủ yếu của Bộ luật bao gồm:
+Các doanh nghiệp liên doanh Trung Quốc với nớc ngoài là pháp nhân
Trung Quốc chịu sự quản lý và bảo vệ của pháp luật Trung Quốc. Các doanh
nghiệp này đợc phép kinh doanh vào các nganh khai thác năng lợng, công
nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp hoá chất, luyện kim chế tạo cơ khí, đIên
tử, máy tính, thiết bị thông tin, công nghịêp nhẹ, công nghịêp thực phẩm, nông
nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, du lịch, dịch vụ
+Phơng thức góp vốn có thể bằng hàng hoá, các công trình kiến trúc, nhà x-
ởng, thiết bị máy móc hoặc vật liệu khác, bản quyền công nghệ kỹ thuật, đất
+Thời hạn hợp doanh: đợc quy định khác nhau với các ngành khác nhau, các
tình huống khác nhau. Có doanh nghiệp cần phải quy định, có doanh nghiệp
không cần. Tại những doanh nghịêp có quy định thời hạn hợp doanh, nếu các
bên hợp doanh đồng ý kéo dài thời hạn, cần phải nộp đơn xin cơ quan có thẩm
quyền trớc 6 tháng tính tới khi hết hạn hợp doanh.
Bộ luật đầu t của Trung Quốc đã đáp ứng đợc nhu cầu mở cửa đối ngoại của
Trung Quốc. Tuy nhiên Bộ luật này cũng còn có những hạn chế nhất định. Nó
còn có những điểm cha rõ nh sự đảm bảo mức thu nhập tối thiểu đợc cam kết,
sự điều chỉnh về quyền lợi và trách nhiệm của nhân viên ngời Trung Quốc và
Nguyễn Thanh Hải- A2 CH9
25