TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI
MĨ LA TINH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Quang
Minh
Sinh viên thực hiện : Cù Thị Hồng Quyên
Lớp : A4 - K38B - KTNT
HÀ NỘI - 2003
phát triển 30
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
2.3. Có sự thay đổi lớn trong tương quan trật tự giữa các chủ đầu
tư quốc tế 31
2.4. Có sự thay đổi lớn trong lĩnh vực đầu tư 32
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG THU HÚT FDI Ở MĨ LA TINH 34
I. CÁC CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP NHẰM THU HÚT FDI 34
1. Sử dụng nguyên tắc “đãi ngộ quốc gia” đối với các nhà đầu tư
nước ngoài 35
2. Đơn giản hoá các thủ tục 36
3. Xoá bỏ những hạn chế đối với việc chuyển vốn và lợi nhuận
của nhà ĐTNN 36
4. Mở rộng lĩnh vực thu hút vốn 37
5. Xây dựng những ưu đãi đặc biệt cho vốn đầu tư nước ngoài 38
6. Thực hiện tự do hoá thương mại 39
7. Tích cực tham gia các hiệp định đầu tư quốc tế 41
II. THỰC TRẠNG THU HÚT FDI TẠI MỸ LA TINH 42
1. Giai đoạn 1960-1970 (giai đoạn tăng trưởng) 42
2. Giai đoạn đầu 1980 đến nửa cuối những năm 1980 (giai đoạn
suy giảm) 44
3. Giai đoạn nửa cuối những năm 1980 - nửa đầu những năm 1990
(giai đoạn phục hồi) 44
4. Giai đoạn từ nửa sau những năm 1990 đến nay (giai đoạn tăng
nhanh) 46
III. KẾT QUẢ ĐẦU TƯ 51
1. Khối lượng đầu tư 51
2. Lĩnh vực đầu tư 52
3. Cơ cấu chủ đầu tư 53
4. Hình thức đầu tư 55
IV. TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ CÁC NƯỚC MĨ LA TINH 57
1. Đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị-xã hội 83
2. Đẩy nhanh quá trình tự do hoá thương mại 84
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
3. Đa phương hoá, đa dạng hoá đối tác và hình thức đầu tư 85
4. Mở rộng đồng thời có ưu tiên lựa chọn những lĩnh vực thu hút
FDI 87
5. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính 88
6. Tạo dựng sân chơi bình đẳng hơn cho nhà đầu tư nước ngoài 89
7. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
-1-LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hoạt động được đánh giá
là đòn bẩy để thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước và hội nhập với nền kinh tế
thế giới. Nước tiếp nhận đầu tư không những được cung cấp về vốn mà còn cả
về công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Vì vậy, đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã trở thành vấn đề quan trọng đối với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là
các nước đang phát triển.
Mĩ La Tinh là khu vực thu hút được lượng khá lớn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài trong thời gian qua, đứng thứ hai sau khu vực châu Á trong số các
nước đang phát triển. Đặc biệt, một số nước trong khu vực này luôn nằm trong
danh sách “topten” các nước đang phát triển tiếp nhận nhiều vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài nhất như Brazil, Mexico, Chilê [78]. Để đạt được điều này, các nước
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài xin được làm rõ một số nội dung sau:
Một số vấn đề tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là vai trò
của nguồn vốn này đối với các nước đang phát triển và những mặt trái của nó.
Bên cạnh đó còn đưa ra một số những nhân tố chủ yếu tác động đến quá trình
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Những chính sách, biện pháp nhằm tạo môi trường hấp dẫn trong việc thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Mĩ La Tinh cũng như tình hình thực tiễn thu
hút FDI của khu vực này và các kết quả đạt được. Từ đó đánh giá những tác
động tích cực cũng như những tác động tiêu cực của nguồn vốn FDI đối với sự
phát triển kinh tế và xã hội của Mĩ La Tinh.
Tình hình thu hút FDI của Việt Nam trong thời gian qua bao gồm cả việc
đánh giá hiệu quả và những tác động của nguồn vốn này đối với sự phát triển
kinh tế và xã hội của Việt Nam . Thêm vào đó, xem xét mục tiêu và định hướng
của Việt Nam về thu hút FDI trong thời gian tới. Từ đó đưa ra một số bài học
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
-3-
trong thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam thông qua kinh nghiệm của Mĩ La
Tinh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài viết nghiên cứu một số vấn đề tổng quan về đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Các chính sách, biện pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp của Mĩ La Tinh.
Tình hình thực tiễn trong việc thu hút FDI, kết quả và những tác động của FDI
đối với kinh tế Mĩ La Tinh và Việt Nam.
Tuy nhiên bài viết không thể nghiên cứu sâu toàn bộ khu vực Mĩ La Tinh
mà chỉ đề cập đến thực trạng thu hút FDI của khu vực này một cách tổng quát.
Sau đó là đi sâu nghiên cứu một số nước có thành tích nổi bật như Brazil,
Mexico, Chilê và Achentina Bảng 14: Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 1988-2002 (Triệu USD)
CHỈ TIÊU
1988-
1990
1991-
1995
1996-2000
1996 1997 1998 1999 2000 5 năm
2001 2002
I. Số dự án
Cấp mới 214 1397 365 348 275 311 377 1676 523 649
Lượt tăng vốn 1 262 162 164 162 163 174 825 227 305
Giải thể 6 237 54 85 101 86 113 439 94 93
Hết hạn 2 12 4 6 2 2 2 16 1 2
II. Vốn ĐK mới và tăng vốn Vốn đăng kí 1.582 16.244 8.640 4.649 3.897 1.568 2.014 20.768 2.536 1.379
Tăng vốn 300 2.132 788 1.173 884 629 476 3.951 608 919
Giải thể 26 1.522 1.141 544 2.428 784 1.794 6.691 1.434 690
Hết hạn 300 98,6 146,1 24,4 19,1 1,1 2,5 193 3,8 332
Còn hiệu lực 1.556 26.453 31.706 34.040 35.452 36.146 37.851
39.127
NIEs (New Industrial Economies) : Các nền kinh tế mới
M&A ( Merger& Acquisition) : Sáp nhập và mua lại
GDP (Gross Domestic Product) : Tổng sản phẩm quốc nội
Vốn ĐK : Vốn đăng ký
Vốn ĐT : Vốn đầu tư
KCN & KCX : Khu công nghiệp & Khu chế xuất
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
-5-CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Mọi quá trình sản xuất đều cần phải có hai yếu tố cơ bản là tư liệu sản
xuất và sức lao động. Thiếu hai yếu tố đó thì sẽ không có bất kì một quá trình
sản xuất nào cho dù đó là sản xuất tự cung tự cấp hay sản xuất hàng hoá. Để có
được hai yếu tố cơ bản đó, vấn đề đặt ra là cần có vốn đầu tư và thực hiện hoạt
động đầu tư. Vốn đầu tư dùng để mua sắm, bổ sung trang thiết bị kĩ thuật, trả
lương cho người lao động.Vốn đó dù có sự khác nhau về quy mô hay cơ cấu,
song là cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất, mọi quốc gia đặc biệt là các
quốc gia đang phát triển - những nước mà chưa hoàn thành sự nghiệp công
nghiệp khoá, hiện đại hoá.
Vốn đầu tư có thể được huy động trong nước cũng như có thể được huy
động từ nước ngoài. Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế được đẩy
mạnh như thời đại ngày nay thì nguồn vốn từ nước ngoài ngày càng trở nên phổ
biến và có vai trò không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế, mặc dù đứng về lâu
Một là, Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual business Co-
operation). Đây là hình thức liên kết kinh doanh giữa đối tác trong nước với các
nhà ĐTNN trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho
mỗi bên bằng các văn bản kí kết, trong đó các bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp
nhân riêng mà không tạo nên một pháp nhân mới.
Hai là, doanh nghiệp liên doanh (Joint-venture enterprise). Đây là một
hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác
nhau, trên cơ sở cùng sở hữu về vốn góp, cùng quản lý, cùng phân phối lợi
nhuận, cùng chia sẻ rủi ro để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt
động dịch vụ hoặc các hoạt động nghiên cứu bao gồm nghiên cứu cơ bản và
nghiên cứu triển khai theo các điều khoản cam kết trong hợp đồng liên doanh ký
kết giữa các bên tham gia phù hợp với các quy định của nước sở tại.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
-7-
Ba là, Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% foreign capital
enterprise). Đây là doanh nghiệp do các nhà ĐTNN đầu tư 100% vốn, do đó
hoàn toàn thuộc sở hữu của các nhà ĐTNN, chịu sự điều hành, quản lý của nhà
ĐTNN nhưng vẫn là pháp nhân nước sở tại, chịu sự kiểm soát của pháp luật
nước sở tại.
Bốn là, đầu tư thông qua tư nhân hoá(Privatization). Đây là hình thức
các nhà ĐTNN mua một lượng cổ phần đủ lớn của các công ty nhà nước được tư
nhân hoá để có quyền tham gia quản lý, điều hành công ty hay doanh nghiệp đó.
Năm là, sáp nhập và mua lại( Mergers and Acquisitions-M&As). Thông
qua việc sáp nhập với các công ty ở nước ngoài hoặc mua đứt các công ty đó,
nhà đầu tư nước ngoài có thể thiết lập sự có mặt của mình ở nước sở tại một
cách nhanh nhất. Đây là hình thức đầu tư phổ biến của các công ty xuyên quốc
gia hiện nay.
Bên cạnh đó còn có vài dạng đặc biệt của hình thức 100% vốn nước
hiệu quả mong muốn. Xu hướng chung của tất cả các nước là tăng dần vốn góp
của bên nước sở tại trong DNLD, từ đó từng bước tăng cường ảnh hưởng của
mình trong doanh nghiệp, tiến tới kiểm soát và quản lý hoàn toàn các hoạt động
sản xuất kinh doanh của DNLD. Tuy nhiên hình thức này ngày càng không được
chủ ĐTNN ưa chuộng vì nhiều phiền phức do bất đồng trong quản lý, đối tác
đầu tư chưa ngang tầm về kinh nghiệm kinh doanh, quy mô kinh tế.
Đối với Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, lúc đầu các nhà ĐTNN còn
e ngại vì họ chưa nắm rõ tình hình và luật pháp nước sở tại, họ muốn chia sẻ rủi
ro với đối tác nước chủ nhà, mặt khác nước chủ nhà cũng không thích hình thức
đầu tư này vì họ muốn được chia sẻ lợi ích, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Tuy
nhiên xu hướng chung, hình thức này ngày càng được mở rộng hơn vì các chủ
ĐTNN muốn tự mình quản lý và hưởng lợi nhuận do thành quả đầu tư đem lại,
còn nước sở tại buộc phải chấp nhận để cạnh tranh thu hút FDI trong bối cảnh
nước nào cũng tìm mọi cách để thu hút thật nhiều FDI.
Hình thức đầu tư thông qua tư nhân hoá chỉ thực hiện ở các nước có quá
trình tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước mà cho phép nhà đầu tư nước
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
-9-
ngoài tham gia.
Hình thức M&As được áp dụng phổ biến khi các công ty xuyên quốc gia
muốn nhanh chóng tìm được chỗ đứng của mình ở nước sở tại. Hình thức này
thường diễn ra trong các ngành như viễn thông, chế tạo ô tô, ngân hàng.
Hình thức BOT, BTO, BT được thành lập khi nước chủ nhà có nhu cầu
tiêu dùng sản phẩm nhưng nước chủ nhà lại không có khả năng đáp ứng. Đặc
biệt với những nước có cơ sở hạ tầng yếu kém thì hình thức này được ưa chuộng
vì họ không có đủ vốn để xây dựng các hệ thống hạ tầng cho nền kinh tế.
3. Tác động của FDI đến những nước đang phát triển
FDI là một đặc trưng nổi bật của nền kinh tế thế giới hiện đại, một yếu tố
Thứ hai, FDI thúc đẩy chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm
quản lý kinh doanh của nước ngoài.
Ở các nước đang phát triển, công nghệ thường là công nghệ cổ truyền, lạc
hậu với năng suất thấp. Bên cạnh đó, với trình độ phát triển kinh tế xã hội, giáo
dục, khoa học kĩ thuật không cao, các nước này có ít khả năng phát triển những
công nghệ mới và hiện đại. Mặt khác, với số vốn tích lũy ít ỏi, khả năng tự nhập
khẩu công nghệ của các nước này cũng rất hạn chế. Trong hoàn cảnh đó, FDI
được coi là phương tiện hữu hiệu để các nước này có thể tiếp cận với những
công nghệ cao, hiện đại của nước ngoài.
Hình 1: Luồng FDI vào các nước đang phát triển (1991-2000)
0
50000
100000
150000
200000
250000
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Nguồn : UNCTAD Handbook of Statistics
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
-11-
Thông thường, khi triển khai dự án đầu tư vào một nước, chủ ĐTNN
không chỉ chuyển vào đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy
móc, thiết bị, nguyên vật liệu (còn gọi là công nghệ cứng) và vốn vô hình như
công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cân thị trường (còn
gọi là công nghệ mềm) cũng như đưa chuyên gia nước ngoài vào hoặc đào tạo
các chuyên gia bản xứ về các lĩnh vực đó. Điều này cho phép các nước nhận đầu
Thứ ba, FDI mở ra cơ hội hội nhập kinh tế thế giới.
Hiện nay, các nước đang phát triển đều đã nhận thức ra rằng sự phát triển
kinh tế của mình phải dựa vào thị trường thế giới, phải tham gia tích cực vào
phân công lao động quốc tế và họ luôn tìm cách để thực hiện quá trình đó một
cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.
Hội nhập kinh tế thế giới có nghĩa là định hướng phát triển kinh tế từ thay
thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu. Các nghiên cứu về quá trình phát triển
kinh tế của các nước đang phát triển cho thấy một trong những nhân tố đảm bảo
cho chiến lược hội nhập thành công là thu hút FDI. Điều này về mặt lý thuyết là
do đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn bó chặt chẽ với thương mại, còn về mặt thực
tiễn là do các nước đang thiếu kinh nghiệm và khả năng thâm nhập thị trường
nước ngoài. Hầu hết các nước đang phát triển đạt được tốc độ tăng trưởng xuất
khẩu cao và tạo ra những chuyển biến trong cơ cấu thương mại của mình là nhờ
thu FDI vào các ngành công nghệ tiên tiến và những ngành sản xuất các sản
phẩm được ưa chuộng trên thị trường thế giới.Ví dụ điển hình về mặt này là
trường hợp của Malaysia. Trong hơn hai thập kỷ qua, nước này đã thành công
vang dội trong việc chuyển từ xuất khẩu sản phẩm sơ chế sang hàng có hàm
lượng chế tạo cao. Tỷ lệ sản phẩm chế tạo trong tổng xuất khẩu của Malaysia đã
tăng từ trên 20% vào đầu thập kỷ 70 lên 70% trong những năm của thập kỷ 90.
Thành tích kỳ diệu này của Malaysia là có công rất lớn của FDI. Trong năm
1980, tỷ lệ FDI vào khu vực chế tạo đạt mức rất cao 77% và đã tăng lên tới
84,5% trong năm 1990.
Bên cạnh đó, thông qua FDI, các nước đang và chậm phát triển được thu
hút vào mạng lưới phân công lao động quốc tế và khu vực. Một thí dụ là ngành
công nghiệp ô tô ở các nước Đông Nam Á. Các hãng sản xuất ô tô nổi tiếng như
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
-13-
Toyota, Honda, Nissan, Mazda đều thực hiện chiến lược thiết lập mạng lưới
Thứ năm, FDI góp phần giả quyết tình trạng thất nghiệp và nâng cao thu
nhập.
Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, mục đích chủ yếu của các công ty
nước ngoài là nhằm thu lợi nhuận cao, tìm kiếm thị trường mới, củng cố chỗ
đứng và duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Do đó các công ty này
đặc biệt chú trọng đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua việc thành lập các doanh nghiệp mới hoặc mở rộng quy mô các
doanh nghiệp hiện có, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra công ăn
việc làm cho một số lượng khá lớn người lao động tại nước tiếp nhận, đặc biệt là
tại những nước đang phát triển - nơi có nguồn lao động dồi dào, nhưng thiếu vốn
để khai thác và sử dụng. Chẳng hạn như một công ty máy tính sản xuất ổ đĩa đã
làm tăng công ăn việc làm ở khu vực Băngkôc (Thái Lan) từ 5.000 lên đến
20.000 người trong năm 1989. Hoặc ở Xingapo, trong năm 1989 các công ty có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 70% lao động có việc làm trong lĩnh vực
chế biến [22]. Gần đây hơn, tại Mêhicô, trong năm 2001, tỷ lệ gia tăng người lao
động vào làm tại các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã cao gấp hai
lần mức gia tăng bình quân của cả nước. Từ năm 1994, các công ty có vốn
ĐTNN đã tạo ra 1/4 lượng công ăn việc làm mới cho nước này và hiện tại các ct
này đang thu hút khoảng 20% số lao động chính thức của nước này [49].
Song song với tạo ra việc làm, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn làm tăng
thu nhập cho người lao động bởi tiền lương trả từ các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài thường cao hơn các doanh nghiệp trong nước, điều này
góp phần nâng cao mặt bằng tiền lương chung tại nước tiếp nhận. Bảng 1 cho
thấy sự khác biệt về tiền lương giữa các công ty có vốn ĐTNN và các công ty
trong nước thường ở mức khá cao, khoảng 20-30% ví dụ như ở Vênêzuêla là
29%, Thái Lan là 20%, Hồng Kông là 27% đặc biệt có trường hợp mức chênh
lệch này lên tới 50% (Mêhicô)[49] và 60% (Inđônêxia).
Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, một bộ phận dân cư có thể có
được mức thu nhập cao và kéo theo đó là mức tiêu dùng cũng như tiết kiệm sẽ
Kết quả
Aitken,
Harrison
và Lipsey
Mêhicô (1990) và
Vênêzuêla (1987)
Lương có
tay nghề
và không
có tay
nghề
Đ
ặc điểm
công ty,
ngành và
khu vực
FOE* trả cao hơn 29% ở
Vênêzuêla và 22% ở
Mêhicô (có tay nghề);
22% ở Vênêzuêla và 3,3%
ở Mêhicô (không có tay
nghề)
Haddad
vad
Harrison
Moroco, các
DNSX, 1985 –
1996
Mức
lương TB
và 8% trong lĩnh vực sản
xuất (1996) ; 28% và 12%
năm 1998
Mazumdar
Camơrun,
Dămbia, ngành
sản xuất, 1993
Thu nhập
Đặc điểm
công nhân
và DN
FOE trả cao hơn 18% ở
Camơrun và 24% ở
Dămbia.
Ramstetter
HồngKông (1983
-1996), Malayxia
(1972 - 1979,
1981 - 1995),
Xingapo (1975 -
1996), Đàiloan
(1974-1995), các
DNSX
Tiền trả
thực tế
cho mỗi
lao động