Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phần I
Cơ sở lý luận của đầu tư trực tiếp nước ngoài
I. Một số khái niệm chung:
1. Đầu tư quốc tế:
2 Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
3. Doanh nghiệp liên doanh.
4. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
II Một số lý thuyết của các nhà kinh tế hiện đại về FDI
1. Quan điểm của P. Samuelson và R. Nurkse
2. Lý thuyết lợi thế so sánh của P.Vernon ( Hoa kỳ ).
iii Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1. Đối với nước đi đầu tư:
2. Đối với nước nhận đầu tư.
iv Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
1. Đặc điểm của thị trường bản địa
2. Luật đầu tư.
3. Đặc điểm của thị trường nhân lực
4. Chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước tiếp nhận vốn đầu
tư:
5. Khả năng hồi hương vốn đầu tư.
6. Bảo vệ quyền sở hữu.
7. Chính sách thương mại.
8. Điều chỉnh hoạt động của các công ty nước ngoài.
11. Chính sách kinh tế vĩ mô.
12. Cơ sở hạ tầng phát triển.
v .Kinh nghiệm quốc tế.
1. Trung Quốc.
2. Malaysia.
3. Thái Lan.
10. Đẩy mạnh hoạt động của thị trường và có chính sách tỉ giá thích hợp.
11. Tăng cường hoạt động xúc tiến vận động đầu tư nước ngoài.
12.tạo lập và duy trì triển vọng tăng trưởng nhanh, lâu bền.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Sự nghiệp đổi mới ở Việt nam thời gian qua đã thu được những kết quả bước
đầu quan trọng. Chúng ta không những đã vượt qua được sự khủng hoảng triền
miên trong thập niên 80 mà còn đạt được những thành tựu to lớn trong phát triể
kinh tế xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 5 năm liền (1993 ÷ 1997 ) đạt
mức 8 ÷ 9.5%, lạm phát bị đẩy lùi, đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải
thiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Có được thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này là
nhờ phần đóng góp lớn của đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ). Tuy nhiên vài
năm trở lại đây do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra ở
một số nước trong khu vực và trên thế giới, công với mức độ cạnh tranh ngày
càng trở nên gay gắt trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoaì của các nước
như: Trung quốc, Indonesia, Thai lan, Malayxia.... Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt nam có phần giảm thiểu cả về số lượng và chất lượng ảnh hưởng không nhỏ
đến việc phát triển kinh tế xã hội. Trước tình hình đó, vấn đề đặt ra là chúng ta
phải có sự nhìn nhận và đánh giá đúng đắn về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong
thời gian qua để thấy được những yếu tố tác động; lợi thế và bất lợi của đất nước
trên cơ sở đó đề ra hệ thống những giải pháp cụ thể kịp thời nhằm thúc đẩy thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam trong những năm tới góp phần thực
hiện mục tiêu chiến lược mà đảng mà nhà nước đã đề ra: Công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước, phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt nam trở thành một nước công
nghiệp phát triển.
Để nhận thức rõ hơn vấn đề đặt ra ở trên, em chọn đề tài
″
Huy động vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam: Thực trạng và giải pháp cho những
năm đầu thế kỷ 21
pháp nhân.
1.3 Doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên
nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng
hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh
được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân
theo pháp luật nước nhận đầu tư.
1.4 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài ( tổ chức hoặc cá
nhân người nước ngoài ) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt nam, tự
quản lý và tự trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân Việt nam.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2 Một số lý thuyết của các nhà kinh tế hiện đại về FDI
1. Quan điểm của P. Samuelson và R. Nurkse
Vào giữa thế kỷ XX, việc xuất khẩu tư bản nhất là FDI phát triển nhanh
chóng. Các nhà kinh tế học cho rằng, để phát triển kinh tế các nước đang phát
triển phải có biện pháp thu hút được FDI. Điển hình là hai nhà kinh tế học
P.Samuelson và R. Nurkse. Trong lý thuyết “ cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých”
từ bên ngoài Samuelson cho rằng đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn,
mức thu nhập thấp chỉ đủ sống ở mức tối thiểu, do đó khả năng tích luỹ vốn bị
hạn chế. “Những nước dẫn đầu trong cuộc chạy đua tăng trưởng phải đầu tư ít
nhất 20% sản lượng vào việc tạo vốn. Trái lại, những nước nông nghiệp nghèo
nhất thường chỉ có thể tiết kiệm được 5% thu nhập quốc dân. Hơn nữa, phần
nhiều trong khoản tiết kiệm nhỏ bé này phải dùng để cung cấp nhà cửa và những
công cụ giản đơn cho số dân đang tăng lên.Phần còn lại hầu như rất ít cho phát
triển”.
Mặt khác, theo Samuelson ở các nước đang phát triển, nguồn nhân lực bị hạn
chế bởi tuổi thọ và dân trí thấp; tài nguyên thiên nhiên bị khan hiếm; kỹ thuật lạc
pháp thực tế nhất đối với các nước đang phát triển. Theo ông, mở cửa cho FDI có
ý nghĩa đối với các nước đang phát triển có thể vươn đến những thị trường mới
cũng như khuyến khích việc mở rộng kỹ thuật hiện đại và những phương pháp
quản lý có hiệu quả. FDI giúp các nước đang phát triển tránh được những đòi hỏi
về lãi suất chặt chẽ về điều kiện thanh toán nợ mà những điều này tác động đến
vay nợ quốc tế. Mặc dù FDI là để phục vụ cho việc củng cố hệ thống này, các
nước có thu nhập thấp được chuyên môn hoá sản xuất nguyên liệu và thực phẩm
xuất khẩu, được chuyên môn hoá dựa trên nguyên tắc của lợi thế so sánh trong
thương mại quốc tế, dù rằng FDI trước hết phục vụ cho lợi ích của các nước công
nghiệp xuất khẩu vốn chứ không phải của nước nhận vốn. R.Nurkse đã cho rằng
FDI mang lại lợi ích chung cho cả hai bên dù chẳng bao giờ cân bằng tuyệt đối
nhưng không thể làm khác được vì nó là đòi hỏi tự nhiên, tất yếu của quá trình
vận động thị trường. Đầu tư trực tiếp là kết quả hoàn toàn tự nhiên bởi hoạt động
tự do của các động cơ kiếm lợi nhuận. Lẽ tất yếu là phương hướng của đầu tư tư
nhân chịu tác động lớn của hướng vấn động thị trường.
2. Lý thuyết lợi thế so sánh của P.Vernon ( Hoa kỳ ).
Theo lý thuyết này Vernon đã chứng minh rằng không có nước nào mạnh toàn
diện và cũng không có nước nào yếu toàn diện. Nếu chúng ta biết hợp tác thì sẽ phát
huy được sức mạnh tổng hợp, có lợi cho tất cả các nước.vernon đã đưa ra và phân tích
hàm sản xuất dạng đơn giản sau:
y = f ( K, L ).
P. Vernon cho rằng nên tận dụng lợi thế so sánh sao cho tỷ K/L ngày càng
cao.
Như vậy, đối với việc đầu tư ra nước ngoài để khai thác lợi thế so sánh của
nước nhận đầu tư, các chủ đầu tư sẽ đầu tư cả vào các nước đang phát triển: Công
nghệ, vốn, mặt hàng mang hàm lượng chất xám cao và hàm lượng cồng nghệ
lớn.Còn các nước đang phát triển, để phát huy lợi thế so sánh của mình sẽ tiếp
nhận công nghệ, vốn các loại.
iii Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1. Đối với nước đi đầu tư:
năm qua nhờ nhận được trên 50 tỷ USD đầu tư nước ngoài cùng với chính sách
kinh tế năng động và có hiệu quả đã trở thành các con rồng Châu á.
Cùng với việc cung cấp vốn, thông qua hoạt động FDI các công ty nước
ngoài đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác sang nước nhận
đầu tư do đó các nước này nhận được kỹ thuật tiên tiến ( trong đó có những công
nghệ không thể mua được bằng quan hệ thương mại đơn thuần ), kinh nghiệm
quản lý, năng lực maketing, đội ngũ lao động được đào tạo, rèn luyện về mọi mặt
( trình độ kỹ thuật, phương pháp làm việc, kỷ luật lao động...)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài làm cho các hoạt động đầu tư trong nước phát
triển, tính năng động và khả năng cạnh tranh trong nước ngày càng được tăng
cường, các tiềm năng cho phát triển kinh tế xã hội đất nước có điều kiện để khai
thác và được khai thác. Điều đó có tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng tích cực.
Với việc tiếp nhận FDI, nước chủ nhà không phải lo trả nợ. Thông qua hợp
tác với nước ngoài, nước chủ nhà có điều kiện thâm nhập vào thị trường thế
giới.FDI tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc đánh thuế các công ty
nước ngoài.Từ đó các nước đang phát triển có nhiều khả năng hơn trong việc huy
động nguồn tài chính cho các dự án phát triển
Ngày nay FDI đã trở thành một tất yếu khách quan trong điều kiện quúc tế
hoá nền sản xuất, lưu thông và được tăng cường mạnh mẽ. Có thể nói, hiệ nay
không một quốc gia nào lại không cần đến nguồn vốn DI của nước ngoài và coi
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đó là một nguồn lực cần khai thác để hoà nhập vào cộng đồng quốc tế Tuy nhiên
theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư ,bên cạnh những ưu điểm thì FDI
cũng có những hạn chế nhất định.Đó là:
-Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn về kinh tế và chính trị thì nhà đầu tư nước
ngoài dễ bị mất vốn
-Nếu nước sở tại không có quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học dẫn tới sự đầu tư
tràn lan,kém hiệu quả ,tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức và nạn ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng
iv Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
Hiện nay trên thị trường đầu tư quốc tế đang có sự cạnh tranh gay gắt giữa
các nhà đầu tư có nguồn vốn lớn cũng như giữa các nước tiếp nhận đầu tư với
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhau. Qua nhiều công trình nghiên cứu, các học giả kinh tế đã đưa ra 12 yếu tố có
ý nghĩa quyết định cho việc chọn lựa một vùng hay một nước nào đó để đâù tư,
đó là:
1. Đặc điểm của thị trường bản địa ( quy mô, dung lượng của thị trường, sức
mua của dân bản xứ và khả năng mở rộng quy mô đầu tư ).
Việt nam là một thị trường khá rộng lớn với quy mô dân số gần 80 triệu
người, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, đây là một lợi thế song trên 80% dân số
sống ở khu vực nông thôn, thu nhập thấp, sức mua chưa cao. Đây là nhân tố cản
trở khả năng thu hút FDI.
2. Luật đầu tư.
Yếu tố này có thể là thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động của các công ty nước
ngoài trên thị trường bản địa. Luật này thường bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất
bản xứ. Nhiều nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo các điều kiện
giống như các nhà đầu tư bản xứ .
Sau nhiều lần sửa đổi ,bổ sung luật đầu tư nước ngoài ở việt nam đã khá
thông thoáng và cởi mở song còn tồn tại nhiều yêú tố cần được xem xét hoàn
thiện hơn nhằm thúc đẩy thu hút FDI tại Việt Nam
3. Đặc điểm của thị trường nhân lực.
Nhân công rẻ là mối quan tâm hàng đầu ở đây đặc biệt là đối với những nhà
đầu tư nước ngoài muốn bỏ vốn vào các lĩnh vực cần nhiều lao động,có khối
lượng sản xuất lớn như: Dệt may,lắp ráp điện tử ,xe máy...Trình độ học vấn và
nghề nghiệp của những công nhân đầu đàn (có tiềm năng và triển vọng ) có ý
nghĩa quan trọng.
Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công rẻ so với các nước
trong khu vực,song còn tồn tại nhiều bất cập :
thủ tục xuất nhập khẩu.
8. Điều chỉnh hoạt động của các công ty nước ngoài.
Luật lệ cứng rắn cũng làm tăng chi phí của các công ty nước ngoài. Các
nhà đầu tư rất thích có sự tự do hơn trong hoạt động và do vậy họ rất mong muốn
có luật mềm rẻo , linh hoạt ,các nhà đầu tư có thể ứng phó đạt hiệu quả trước
những diễn biến của thị trường
Vấn đề can thiệp qúa sâu vào hoạt động của các công ty nước ngoài cũng
là một lực cản trong việc thu hút FDI .Ví dụ một số nước cấm sa thải công nhân
là không phù hợp với lợi ích của công ty nuớc ngoài. Chính sách lãi suất của ngân
hàng và chính sách ưu đãi đối với một số khu vực(khu chế xuất ,khu công
nghiệp...) cũng có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư ở một số nước
9. Chính sách thuế và những ưu đãi.
Chính sách thuế và những ưu đãi thường được áp dụng để thu hút các nhà
đầu tư nước ngoài. Giảm thuế nhập khẩu công nghệ, nguyên vật liệu, thuế xuất;
tăng thuế nhập thành phẩm; Miễn giảm thuế thu nhập đối với các vùng có điều
kiện khó khăn, ngành khuyến khích đầu tư.
10. ổn định chính trị xã hội ở nưốc nhận đầu tư và trong khu vực.
Đây là yếu tố không thể xem thường mỗi khi bỏ vốn đầu tư vì rủi ro chính
trị có thể gây thiệt hại lớn cho nhà đầu tư nước ngoài.Ví dụ về các nước đang
phát triển Mỹ la tinh cho thấy, mặc dù nguồn lực tư nhiên của các nước này khá
rồi rào nhưng do luôn có những bất ổn định trong đời sống chính trị- hội nên
dòng FDI đổ vào các nước này không ổn định. Ngay cả các nước thuộc khu vực
năng động Đông Nam á như Philipin, cho dù nguồn tài nguyên và nguồn nhân lực
không nghèo, nhưng do xã hội không ổn định,thường xuyên có những xung đột,
mâu thuẫn về ý tưởng giai cấp trong xã hội đã dẫn đến kết quả là nguồn FDI
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trung bình hàng năm không cao như với một số nước đang phát triển khác trong
khu vực
11. Chính sách kinh tế vĩ mô.
Chính sách kinh tế vĩ mô ổn định sẽ góp phần thuận lợi cho hoạt động của cả
1. Trung Quốc.
Về chính sách chung, Trung Quốc huy động vốn FDI thông qua các hình
thức như hợp đồng sản xuất, liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài vào các
khu vực đặc biệt.
Chính sách cơ bản để thu hút FDI của Trung Quốc là chính sách thuế. Trung
Quốc ban hành nhiều loại thuế riêng cho các hình thức đầu tư: hợp tác, liên
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
doanh, 100% vốn nước ngoài và cho 14 thành phố ven biển. Liên doanh đóng
thuế lợi tức 30% và 10% thêm cho địa phương.
Tại 14 thành phố ven biển, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được
giảm thuế lợi tức 15% so với các khu vực khác. Các liên doanh đầu tư 10 năm trở
lên được miễn thuế lợi tức 2 năm kể từ khi có lãi và giảm 50% thuế cho 3 năm
tiếp theo. Nếu liên doanh đầu tư vào vùng khó khăn sẽ được giảm tiếp 15% -30%
trong vòng 10năm. Nếu liên doanh có sản phẩm xuất khẩu trên 70% được giảm
50% thuế hàng năm. Nếu doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến được giảm
tiếp 50% trong ba năm so với các doanh nghiệp cùng loại nhưng không có công
nghệ cao. Nếu đầu tư vào 14 thành phố ven biển trên 10 năm thì miễn thuế 2
năm, giảm thuế 3 năm tiếp theo.
Về thuế xuất nhập khẩu, Trung Quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với
các mặt hàng như: Máy móc, thiết bị, bộ phận rời, vật liệu được đưa vào góp vốn
liên doanh hoặc các máy móc, thiết bị, vật liệu cho các bên nước ngoài đưa vào
khai thác dầu khí; đưa vào phát triển năng lượng, đường sắt, đường bộ; đưa vào
các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển, các vật liệu, bộ phận rời nhập để sản
xuất hàng xuất khẩu. Trung Quốc cũng miễn thuế xuất khẩu cho các mặt hàng
xuất khẩu được sản xuất ở các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển.
Về thủ tục hành chính, Trung Quốc phân cấp mạnh cho các địa phương về
thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư. Sau khi có giấy phép đầu tư, các thủ tục
liên quan được triển khai mau lẹ. Các vấn đề giải phóng mặt bằng, điện, nước,
giao thông, môi trường được giải quyết dứt điểm. Thực hiện chính sách “một
cửa” để tạo điều kiện thu hút FDI thuận lợi...
tác khác. Tuỳ từng dự án mà có thể được miễn giảm thuế lợi tức 3 - 8 năm kể từ
khi có lãi.
Về thuế nhập khẩu, các doanh nghiệp được miễn giảm 50% thuế nhập khẩu
đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu vào mà Thái Lan chưa sản xuất được. Được
miễn thuế nhập khẩu đối với các nguyên liêu, linh kiện đưa vào để sản xuất và
lắp ráp hàng xuất khẩu. Các doanh nghiệp được xét giảm đến 90% thuế nhập
khẩu đối với nguyên liệu nhập khẩu vào nếu các thứ này ở Thái Lan chưa sản
xuất được.
Về chính sách xuất khẩu, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được
miễn thuế nhập khẩu vật tư, phụ tùng, các chi tiết tạm nhập tái xuất, được miễn
hoặc giảm thuế lợi tức 5%. Các doanh nghiệp trong khu chế xuất được miễn thuế
nhập khẩu đối với vật tư. Gần đây, Thái Lan đã thoả thuận miễn thuế nhập khẩu
đối với thiết bị máy móc cho các dự án đặc biệt và hướng vào xuất khẩu trong tất
cả các vùng và các dự án trong vùng số ba, nếu không sản xuất tại địa phương.
Về quản lý ngoại hối, nhà đầu tư được chuyển ra nước ngoài các thu nhập,
lợi nhuận nhưng có thể hạn chế trong trường hợp để cân đối thu- chi. Trong
trường hợp hạn chế này thì cũng được chuyển ít nhất là 15%/năm so với tổng vốn
đem vào Thái Lan.
Việc sở hữu đất đai được qui định riêng cho từng loại công ty. Mỗi công ty
được sở hữu đất đai cho luật qui định. Công nhân lành nghề, kỹ thuật viên và gia
đình họ được phép vào Thái Lan làm việc. Uỷ ban đầu tư chịu trách nhiệm xem
xét. Thái Lan cũng đã nhiều lần cải tiến thủ tục cấp giấy phép; thủ tục triển khai
dự án theo hướng khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phần hai
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ năm 1989
đến nay
Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá, khu vực nền kinh tế đang diễn ra khắp trên
toàn thế giới. Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo phát triển chung đó.
Ngày nay có nhiều các công ty, tổ chức quốc tế đầu tư vào Việt Nam và hiện nay