Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
Lời mở đầu
ầu t trực tiếp nớc ngoài (Foreign Direct Invesment - FDI) là một hình
thức của đầu t quốc tế. Nó ra đời và phát triển là kết quả tất yếu của
quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế và quá trình phân công lao động quốc tế
theo chiều sâu.
Đ
Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) đã đợc xem nh chiếc chìa khóa của sự tăng tr-
ởng kinh tế của mỗi quốc gia. Thông qua đó cho phép các nớc sở tại thu hút đợc
các công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến... nhằm khai thác lợi thế so
sánh của đất nớc mình, thúc đẩy xuất khẩu, tăng năng lực cạnh tranh, điều chỉnh và
dịch chuyển cơ cấu kinh tế phù hợp với biến đổi thị trờng khu vực và thế giới.
Chiến lợc mở cửa để dần đa nền kinh tế nớc ta hội nhập với nền kinh tế khu
vực và thế giới đã đợc Đảng và Nhà nớc ta chủ chơng thực hiện cách đây hơn 10
năm. Một trong nhiều nội dung quan trọng của chiến lợc này là chủ chơng thu hút
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài không chỉ nhằm mục tiêu giải quyết nạn
khan hiếm về vốn cho đầu t phát triển xã hội mà còn nhằm tạo thêm nhiều công ăn
việc làm cho ngời lao động, cung cấp cho nền kinh tế nớc nhà những máy móc,
quy trình công nghệ tiên tiến, sản xuất nhiều mặt hàng có chất lợng và hàm lợng
kỹ thuật cao, góp phần thúc đẩy phát triển nội sinh nền kinh tế đất nớc, tạo nên sức
mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp cộng nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Sau khi Luật đầu t nớc ngoài đợc ban hành cùng với việc áp dụng hàng loạt
các chính sách khuyến khích đầu t của Chính phủ cho một nền kinh tế mở cửa, 38
quốc gia và hàng trăm các tập đoàn, Công ty nớc ngoài đã đầu t và đang tìm kiếm
cơ hội đầu t vào Việt nam, một thị trờng mà các chuyên gia nớc ngoài đánh giá là
còn nhiều tiềm năng để khai thác.
Để xây dựng Việt nam trở thàng một trong những điểm hấp dẫn các nhà đầu
t trong khu vực, cần phải nhận thức rõ thực trạng đầu t nớc ngoài tại Việt nam, từ
đó đa ra những giải pháp hữu hiệu, khoa học nhằm nâng cao hiệu quả của đầu t n-
1
vận động phong phú của thực tiễn mà khái niệm này không ngừng đợc bổ sung,
chỉnh lý cho sát với thực tế hơn.
Cùng với quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá đời sống kinh tế, đến nay đầu t
trực tiếp nớc ngoài không còn là vấn đề mới mẻ trên thế giới. Khái niệm về FDI
đều đợc ghi nhận trong luật đầu t của các nớc. Mặc dù không hoàn toàn giống
nhau bởi có sự khác biệt về việc sử dụng câu từ hay ngữ pháp, song về mặt bản
chất thì khái niệm FDI ở luật của các nớc là nh nhau do chúng đều xuất phát từ
khái niệm đầu t quốc tế.
Tại Hội thảo của Đại hội Hiệp hội Pháp luật quốc tế Henxky 1966, ngời ta
đã cố gắng đa ra một khái niệm chung nhất về đầu t trực tiếp nớc ngoài nhằm phân
biệt với các khoản kinh tế khác nhận đợc từ bên ngoài. Theo đó, Đầu t nớc ngoài
là vận động t bản từ nớc ngời đầu t sang nớc ngời sử dụng đầu t mà không có hạch
toán nhanh chóng. Sau đó, qua thảo luận Hiệp hội đã đa ra một khái niệm dới
dạng tổng quát nh sau: Đầu t nớc ngoài là sự vận động t bản từ nớc ngời đầu t
sang nớc ngời sử dụng đầu t với mục đích thành lập ở đây một xí nghiệp sản xuất
hay dịch vụ nào đó. Với khái niệm này, việc đầu t vào một nớc nhất thiết phải gắn
liền với việc thành lập một xí nghiệp hay một cơ sở sản xuất, dịch vụ tại nớc nhận
đầu t, do đó đã loại trừ một số hình thức đầu t khác không thành lập ra xí nghiệp
hay cơ sở sản xuất (nh cho vay tiền của ngân hàng, tài trợ cho chơng trình hay cho
dự án ). Đây chính là điểm hạn chế của khái niệm này so với yêu cầu hợp tác
kinh tế trong thời đại hiện nay.
3
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
Khái niệm về đầu t nớc ngoài đợc các nớc hiểu và vận dụng khác nhau. Tại
các nớc t bản phát triển, đầu t nớc ngoài là việc giao vật có giá trị kinh tế của nớc
này sang nớc khác nhằm thu đuợc lợi nhuận, bao gồm cả quyền cầm cố và quyền
thu hoa lợi, quyền tham gia các hội cổ phần,quyền đối với nhãn hiệu thơng phẩm
và tên xí nghiệp. Nh vậy, quan niệm về đầu t nớc ngoài ở đây rất rộng rãi, chỉ là
quá trình chuyển tiền vốn từ nớc này sang nớc khác với mục đích thu lợi nhuận,
theo nguyên tắc lợi nhuận thu đợc phải cao hơn lợi nhuận thu đợc trong nớc và cao
hoặc các Hiệp định quốc tế về bảo hộ và thúc đẩy đầu t. Chính sự định nghĩa này
đã tạo ra cơ sở pháp lý cho các nhà đầu t nớc ngoài trong hoạt động của mình. Tuy
nhiên, sự phức tạp của quan hệ đầu t và do vấn đề ngữ pháp hoặc cách sử dụng từ
mà thuật ngữ đầu t nớc ngoài trong các văn kiện pháp luật của mỗi nớc có khác
nhau.
Ví dụ : Luật về đầu t nớc ngoài của Liên bang Nga ngày 4/7/1991 quy định :
Đầu t nớc ngoài là tất cả những hình thức giá trị tài sản hay giá trị tinh thần của
nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào các đối tợng của hoạt động kinh doanh và các hoạt
động khác với mục đích thu lợi nhuận. Định nghĩa tơng đối đầy đủ, vạch rõ bản
chất của vấn đề đầu t là lợi nhuận, tuy nhiên nếu đầu t nớc ngoài đợc xem xét chỉ
là tài sản đợc sử dụng với mục đích đem lại lợi nhuận thì khái niệm này bị giới
hạn. Trong Luật của Ucraina về đầu t nớc ngoài ngày 13/3/1992, thuật ngữ đầu t
nớc ngoài đợc đề cập đến với phạm vi rộng hơn : Đầu t nớc ngoài là tất cả các
hình thức giá trị do nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào các đối tợng của hoạt động kinh
doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận hoặc các hiệu quả xã
hội. Chính hình thức hiệu quả xã hội đã mở rộng phạm vi hoạt động của luật
đầu t đối với các kiểu, các hình thức khác của luật đầu t nớc ngoài.
Nh vậy dù nhìn dới góc độ nào thì FDI cũng đều là hoạt động kinh doanh dựa
trên cơ sở di chuyển t bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân và thể nhân
thực hiện, theo những hình thức nhất định, trong đó chủ đầu t FDI tham gia trực
tiếp vào quá trình đầu t.
2. Khái niệm về FDI theo luật đầu t n ớc ngoài tại Việt Nam
5
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam đợc ban hành lần đầu vào ngày
26/12/1987, sửa đổi vào năm 1990,1992; sau đó đợc thay bằng "Luật Đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam " ban hành ngày 12/11/1996, đã đợc các nhà đầu t thế giới và
khu vực đánh giá là một luật hấp dẫn, thông thoáng trong khu vực. Ngày 9/6/2000
Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam lại đợc sửa đổi, bổ sung lần thứ 4 "để mở rộng
hợp tác kinh tế với nớc ngoài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
động của mình. Do vậy Nhà nớc chủ trơng mở cửa cho nớc ngoài đầu t vào Việt
Nam. Hiện nay vẫn còn nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau về đầu t nớc
ngoài ở nớc ta trong gần 15 năm qua, nhng có một thực tế không thể phủ nhận đó
là ảnh hởng tích cực của đầu t nớc ngoài đối với nền kinh tế nớc ta ngày càng rõ
nét.
3.1. Góp phần tăng ngân sách xã hội
Đầu t nớc ngoài bớc đầu đã góp phần đáng kể trong đầu t vốn của toàn xã hội,
trong tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp vào ngân sách, kim
ngạch xuất khẩu và giải quyết việc làm. Nhiều công trình quan trọng đã đi vào hoạt
động, nhiều công nghệ khá hiện đại đang đợc chuyển giao, đã tạo ra năng lực mới
cho nền kinh tế. Cho tới nay các công ty nớc ngoài đã tham gia đầu t vào nhiều
ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam nh dầu khí, xi măng, sắt thép, điện
tử...
3.2. Góp phần nâng cao năng lực các ngành công nghiệp
Cùng với việc nâng cao năng lực sản xuất của các ngành công nghiệp, hoạt
động đầu t trực tiếp nớc ngoài đã góp phần hình thành một số ngành công nghiệp
mới có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nh: Công nghiệp dầu khí,
công nghiệp sản xuất - lắp ráp ô tô, xe máy... Nhiều dự án đầu t nớc ngoài đã tạo
ra các sản phẩm xuất khẩu mới góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu cho Việt
Nam. Trong năm 2000, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
khoảng 3.300 triệu USD so với kim ngạch xuất khẩu là 7 tỷ USD (chiếm 45%).
Về nghĩa vụ tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đóng góp vào
ngân sách Nhà nớc 300 triệu USD (cha kể liên doanh dầu khí Việt Xô Petro).
7
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
3.3. Hội nhập quốc tế
Bằng việc hợp tác với nớc ngoài, Việt Nam đã tiếp nhận đợc một số kỹ thuật,
công nghệ tiên tiến trong một số ngành kinh tế nh thông tin viễn thông, sản xuất -
lắp ráp ô tô, xe máy, hoá chất (dầu nhờn, sơn...). Ngoài ra Việt Nam cũng đã tiếp
nhận đợc một số phơng pháp quản lý tiến bộ và một số kinh nghiệm về tổ chức
1. Sự ra đời của Luật Đầu t n ớc ngoài tại Việt nam
1.1. Điều lệ Đầu t 77
Năm 1977 các nhà lãnh đạo cao nhất của Việt nam cho ban hành Điều lệ Đầu
t nớc ngoài ở nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam kèm theo Nghị định số 115/
CP ngày 19-4-1977 của Chính phủ, gọi tắt là Điều lệ đầu t 77
Tuy là văn bản pháp lý đầu tiên của Việt nam quy định về đầu t nớc ngoài nh-
ng mối quan tâm về Điều lệ đầu t 77 đã biến mất vào năm 1978, khi xảy ra sự kiện
Campuchia và tiếp theo là chiến tranh biên giới phía Bắc. Do sức ép từ các thế lực
thù địch, cánh cửa hợp tác kinh tế với hầu hết các nớc t bản phát triển bị khép lại
cùng với sự cắt đứt những khoản viện trợ phát triển chính thức (ODA). Điều lệ đầu
t 77 trở thành một văn bản pháp lý không có đối tợng điều chỉnh và không còn ý
nghĩa nào khác ngoài việc là một tài liệu lu trữ.
Dĩ nhiên Điều lệ đầu t 77, do ra đời trong một điều kiện thiếu một hệ thống
quan điểm rõ ràng về đờng lối tổng thể phát triển kinh tế, nên không tránh khỏi
những mặt hạn chế, kém hấp dẫn đối với các nhà đầu t nớc ngoài. Nhng cho dù đó
là một văn bản pháp lý hoàn chỉnh hơn thì cũng khó có thể đi vào cuộc sống, bởi vì
đối với bất kỳ một quốc gia nào yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định khả năng
thu hút đầu t nớc ngoài là tình hình chính trị đối ngoài và sự ổn định an ninh chính
trị trong nớc. Các nhà đầu t không thể mang tiền của vào một nớc chiến tranh hoặc
đang nằm trong tình trạng nửa chiến tranh lại bị cô lập, cấm vận bởi hầu hết các
nớc t bản phát triển.
Cuối thập kỷ 70 xuất hiện một làn sóng mới khuyến khích đầu t từ các nớc t
bản phát triển vào các nớc xã hội chủ nghĩa trong sự cộng hởng với nhu cầu đổi
mới và tổ chức lại các xí nghiệp quốc doanh xã hội chủ nghĩa bắt đầu bằng việc
CHND Trung Hoa ban hành Luật đầu t nớc ngoài ngày 08-07-1979, CHND Mông
9
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
Cổ và CHND Bungari 1980, Cuba 1982, CHDCND Triều Tiên 1984, Tiệp Khắc
1985, Liên Xô 1987
Tại Việt nam sau những năm tìm tòi và thử nghiệm, Đại hội VI Đảng Cộng
đời sống xã hội nói chung.
2. Các loại hình đầu t trực tiếp n ớc ngoài tại Việt nam.
Có 6 hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh:
Là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (gọi tắt là các bên hợp
doanh) để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hợp đồng kinh doanh ở Việt Nam
trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà
không thành lập pháp nhân mới.
Xí nghiệp liên doanh:
Xí nghiệp liên doanh là xí nghiệp đợc thành lập tại Việt Nam trên cơ sở
hợp đồng kinh doanh giữa bên hoặc các bên Việt Nam với bên hoặc các bên n-
ớc ngoài, hoặc trên cơ sở Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ
nớc ngoài, nhằm hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam.
Xí nghiệp 100% vốn nớc ngoài:
Xí nghiệp 100% vốn nớc ngoài là xí nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của
các tổ chức kinh tế, cá nhân nớc ngoài, do họ thành lập tại Việt Nam, tự quản
lý và chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh.
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (B.O.T.):
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) là văn bản ký kết
giữa chủ đầu t nớc ngoài (cá nhân hoặc tổ chức nớc ngoài) với cơ quan Nhà n-
ớc Việt Nam có thẩm quyền để xây dựng các công trình hạ tầng, tiến hành
khai thác và kinh doanh trong một thời hạn nhất định và khi hết thời hạn thì
chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nớc Việt Nam.
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO):
Đợc thực hiện trên cơ sở hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, là
văn bản đợc ký kết giữa cơ quan nhà nớc có thẩm quyền của Việt nam và nhà đầu
t nớc ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà
11
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
đầu t nớc ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nớc Việt nam, Chính phủ Việt
Cũng giống nh nhiều quốc gia đang phát triển khác, để đạt đợc tốc độ tăng tr-
ởng cao và ổn định, Việt Nam cần phải có một khối lợng vốn rất lớn. Dẫu rằng
vốn trong nớc là chính, có vai trò quyết định song khả năng huy động các nguồn
vốn này rất khó khăn. Bởi vì, nguồn vốn ngân sách còn hạn chế; nguồn vốn đầu t
của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cũng hạn chế do nhiều doanh
nghiệp đang bị thua lỗ, tích luỹ thấp và cũng đang trông đợi vào vốn ngân sách cấp
(doanh nghiệp quốc doanh) hoặc vốn đầu t nớc ngoài; nguồn vốn nhàn rỗi của dân
c rất khó xác định vì tâm lý ngời dân còn thiếu tin tởng vào hệ thống tài chính ngân
hàng, thiên về đầu t tích trữ vàng, đôla, bất động sản. Nh vậy để huy động đợc lợng
vốn cần thiết, Việt Nam cần phải chú trọng thu hút các nguồn vốn nớc ngoài.
Trong những năm vừa qua, các nguồn vốn nớc ngoài ở Việt nam chủ yếu
gồm: FDI, ODA, tín dụng thơng mại và các khoản vay nợ nớc ngoài. Trong số đó,
nguồn FDI là quan trọng nhất, tạo ra một khu vực kinh tế có trình độ thiết bị kỹ
thuật công nghệ khá.
Tính đến năm 2002, Việt nam đã có 4500 dự án đợc cấp giấy phép với tổng
mức vốn đăng ký đạt trên 50 tỷ USD trừ các dự án giải thể trớc thời hạn hoặc đã
hết hạn hoạt động, hiện còn 3669 dự án với tổng vốn đầu t trên 39,2 tỷ USD, vốn
pháp định trên 18 tỷ USD. Số vốn đã đa vào thực hiện là gần 21 tỷ USD bao gồm
các hình thức đầu t BOT, hợp đồng hợp tác kinh doanh, 100% vốn nớc ngoài, liên
doanh, cha kể đến có nhiều hạn chế làm giảm vốn đầu t nớc ngoài nh cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực năm 1997-1998 và sự kiện 11/9/2001.
3.2. Tiến trình thực hiện các dự án
Trong số đó gần 2000 dự án đang triển khai hoạt động kinh doanh, 980 dự án
đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản và làm các thủ tục hành chính và gần 700 dự
án cha triển khai do nhiều nguyên nhân, 33 dự án hết hạn với tổng số vốn đầu t 0,3
tỷ USD và 703 dự án giải thể với tổng số vốn khoảng 9 tỷ USD. Khoảng một nửa
tổng số vốn đầu t đợc cấp trong giai đoạn 1996-2000 với 1648 dự án đợc cấp phép
có tổng số vốn đầu t đạt 20,7 tỷ USD và trên 300 dự án tăng vốn 3,9 tỷ USD. Trong
13
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
sút do ảnh hởng của cạnh tranh quốc tế và khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực.
Trong giai đoạn này vốn đầu t nớc ngoài giảm trung bình 24%/năm trong khi đó,
đầu t nớc ngoài vào Việt nam chiếm tỷ trọng 7,2% trong GDP, cao hơn nhiều nớc
trong khu vực nh (Trung Quốc: 4,9%, Thái Lan: 2,4%, Malaysia: 5,2%,
Indonesia: 2,2%, Philippines: 1,5% - số liệu của UNCTAD, Báo Đầu t Thế giới
1999). Tỷ lệ đầu t nớc ngoài đã giảm đáng kể từ mức vốn đầu t đăng ký khoảng
8,6 tỷ USD năm 1996 xuống còn 1,9 tỷ USD năm 2000. Ngoài ra, trong giai đoạn
này còn có một xu hớng khác rất đáng lo ngại đó là số dự án và vốn đầu t giải thể
tăng cao hơn nhiều so với giai đoạn trớc. Tổng số vốn đầu t giải thể giai đoạn
1997-2000 khoảng 5,26 tỷ USD so với 2,69 tỷ USD của 8 năm trớc đó cộng lại.
Nhng sang đến năm 2001-2002, trong bối cảnh dòng đầu t nớc ngoài trên thế
giới liên tục giảm thì ở Việt nam đã có nhiều dự án đầu t nớc ngoài tăng vốn nhất
từ trớc tới nay với 305 dự án, số vốn đăng ký tăng thêm 918,7 triệu USD mở ra một
bớc phát triển mới của Thế kỷ 21.
3.3. Đối tác đầu t
Cũng theo chiều hớng phát triển đó, nhiều nhà đầu t thuộc 60 nớc và vùng
lãnh thổ đã tham gia mạnh vào thị trờng đầu t Việt nam. Trong tốp dẫn đầu đầu t n-
ớc ngoài vào Việt nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông chiếm vị trí
quan trọng, với 2033 dự án và 15.976 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 55,4% về số
dự án và 40,8% về vốn đăng ký của tất cả các dự án đầu t nớc ngoài đang còn hiệu
lực. Bên cạnh đó, đầu t của các nớc Châu Âu vào Việt nam cũng dần phát triển
mạnh nh Pháp, Hà Lan, Anh hơn nữa phải kể đến Hoa Kỳ, một đất nớc có nhiều
rào cản khi đến với thị trờng đầu t Việt nam cũng có 153 dự án với 1.111 triệu
USD vốn đăng ký, đứng ở vị trí thứ 13.
Trong vài năm gần đây một số nớc đã bứt lên dẫn đầu về số dự án tăng thêm
nh Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông và Nhật Bản với 426 dự án, 768 triệu USD
vốn đăng ký, chiếm 61,3% tổng số dự án và 55% tổng số vốn đăng ký cấp phép.
Trong khi đó Châu Âu chỉ ở mức 56 dự án, với tổng vốn đăng ký là 82,5 triệu
15
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
đã có những đóng góp tích cực đối với nền kinh tế Việt nam thể hiện qua 5 yếu tố
sau:
2.1. Phát triển ngành nghề
Các doanh nghiệp đầu t nớc ngoài đã tạo ra nhiều ngành nghề mới, sản phẩm
mới góp phần làm tăng năng lực của một số ngành kinh tế. Cụ thể khu vực kinh tế
có vốn đầu t nớc ngoài chiếm tỷ trọng khá cao trong một số ngành nh: 100% sản l-
ợng dầu thô, ôtô, xe máy, máy lạnh, điều hoà nhiệt độ; 50% điện tử gia dụng; 70%
sản lợng thép cán; 30% sản lợng xi măng; 32% giày dép xuất khẩu; 20% sản lợng
thực phẩm và đồ uống; 16% sản lợng may mặc; 14% sản lợng ngành hoá chất của
cả nớc.
Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài cũng đã tạo ra cho nền kinh tế nớc ta
nhiều công nghệ mới, hiện đại mà biểu hiện cụ thể nhất là ở trong các lĩnh vực viễn
thông, dầu khí, hoá chất, điện tử, tin học, ôtô, xe máy làm tiền đề cho sự phát
triển của một số ngành kinh tế mũi nhọn của đất nớc nh công nghệ khai thác dầu
khí ngoài khơi, lắp đặt tổng đài kỹ thuật số, rôbốt, dây chuyền tự động lắp ráp hàng
điện tử, mạch điện tử; công nghệ chế tạo máy biến thế, cáp thông tin, cáp điện
Đây là những yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp trong nớc không ngừng đổi mới
công nghệ, phơng thức quản lý để nâng cao chất lợng và sức cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trờng.
2.2. Góp phần chuyển dịch kinh tế
Đầu t nớc ngoài đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công
nghiệp hoá - hiện đại hoá. Với tỷ trọng khoảng 35% giá trị sản lợng công nghiệp
của cả nớc, khu vực kinh tế này đã góp phần quan trọng trong việc nâng giá trị sản
xuất công nghiệp trong cả nớc từ 11%/năm lên 13%/năm. Từ năm 1996 đến 2000,
tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn đầu
t nớc ngoài đạt 22,5%/năm. Năm 1996, trong lĩnh vực công nghiệp, khu vực kinh
tế có vốn đầu t nớc ngoài đóng góp 26,2% giá trị tổng sản lợng; tỷ trọng này đã
tăng lên 36%. Nếu không có sự tăng trởng nhanh của công nghiệp khu vực kinh tế
17
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
nghiệp (%)
45,6 40,4 13,6 12,8 8,8 21,7 23,2 24,4 20 23
5. Tỷ trọng trong
22,4 26,2 26,2 26,2 25,1 26,2 28,9 32 34,4 36
18
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
công nghiệp (%)
6. Nộp ngân sách 128 195 263 315 317 271 260
7. Lao động trực
tiếp đến cuối năm
(1.000 ngời)
220 250 270 296 327
(Nguồn: Báo cáo tổng kết về Đầu t nớc ngoài của Bộ Kế hoạch - Đầu t)
Năm 2001 và 2002, số lợng các dự án đầu t nớc đã tăng nhiều hơn và đặc biệt
trong năm 2002 là một năm thu hút đợc nhiều dự án tăng vốn nhất từ trớc tới nay.
Vốn thực hiện tăng 2% (đạt khoảng 2,345 tỷ USD); doanh thu tăng 23% (đạt
khoảng 9 tỷ USD); xuất khẩu tăng 23% (đạt 6,5 tỷ USD); nhập khẩu tăng 30% (6,5
tỷ USD); nộp ngân sách tăng 23% (đạt 459 triệu USD); số lao động tăng 8% (tính
luỹ kế đến cuối kỳ đạt 472 nghìn lao động).
3. Môi tr ờng đầu t của các dự án FDI
3.1. Nguyên nhân khách quan:
3.1.1. Tỷ trọng vốn:
Bên cạnh những mặt tích cực của đầu t nớc ngoài, nó cũng đặt ra một số vấn
đề cần quan tâm nh mối quan hệ giữa tỷ trọng vốn đầu t nớc ngoài với vốn đầu t
trong nớc trong tổng vốn đầu t xã hội, thâm hụt cán cân thanh toán, một vấn đề đã
đợc đánh giá rất khác nhau trên các tài liệu nghiên cứu thế giới.
3.1.2. Chuyển giao công nghệ
Ngoài ra việc chuyển giao công nghệ qua đầu t nớc ngoài cũng đặt ra nhiều
vấn đề cho nớc chủ nhà, trong đó nổi bật là công nghệ cũ (bãi thải công nghệ),
công nghệ không phù hợp với điều kiện của các nớc đang phát triển, gây ô nhiễm
- Hình thức tổ chức doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài cha đa dạng, luật mới
chỉ cho phép các doanh nghiệp đợc tổ chức dới hình thức Công ty trách nhiệm
hữu hạn.
- Những biện pháp bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu t trong tr-
ờng hợp có sự thay đổi chính sách, pháp luật cha cụ thể, cha thể hiện sự nhất
quán và ổn định của pháp luật, do vậy gây tâm lý thiếu tin tởng cho các nhà đầu
t.
20
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
- Các quyền tự do lựa chọn đối tác và cơ hội đầu t của nhà đầu t còn nhiều hạn
chế.
- Sau khi ban hành Luật, những biện pháp u đãi đầu t về tài chính, ngân hàng,
ngoại hối ch a đợc cụ thể hoá đầy đủ hoặc cha có quy định rõ ràng làm yên
tâm các nhà đầu t, đặc biệt là những biện pháp u đãi đối với những địa bàn và
lĩnh vực khuyến khích đầu t.
- Thủ tục đầu t đã đợc cải tiến đơn giản và thuận tiên hơn nhng ở một số khâu nh
thủ tục liên quan đến đất đai, hải quan, xuất nhập khẩu còn chậm, phức tạp, gây
phiền hà cho các nhà đầu t.
- Những biện pháp quản lý, kiểm tra còn thiếu cụ thể và chặt chẽ để vừa đảm bảo
tính hiệu lực của Nhà nớc, vừa tránh phiền hà cho hoạt động của các dự án đầu
t nớc ngoài.
- Sự hiểu biết pháp luật chính sách về đầu t nớc ngoài của cán bộ các cấp các
ngành còn nhiều hạn chế dẫn đến việc vận dụng tuỳ tiện, thiếu nhất quán trong
không ít trờng hợp làm giảm tính hấp dẫn và hiệu lực của hệ thống pháp luật về
đầu t.
21
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
Chơng II
Thực trạng thu hút đầu t trực tiếp
nớc ngoài vào Việt nam thời gian qua
Việt nam có lợi thế về một tình hình chính trị ổn định, môi trờng đầu t tốt,
hơn thế nữa Việt nam có một vị trí thuận lợi tại Đông Nam á và tiềm năng lớn về
tài nguyên thiên nhiên.
1.1.2. Thị trờng lao động
Việt Nam là nớc có lực lợng lao động rất dồi dào về số lợng, đa dạng cũng
nh giá nhân công thấp, có trình độ học vấn trung bình tơng đối cao, có nhiều
khả năng tiếp thu các kiến thức tiên tiến. Trong điều kiện trình độ có nền sản
xuất (kể cả các cơ sở sản xuất trong nớc cũng nh các cơ sở có vốn FDI) nh hiện
nay thì về mặt cơ bản ngời lao động Việt Nam đáp ứng đợc yêu cầu và có mặt
bằng tiền lơng tơng đối thấp. Cộng thêm đó, Việt Nam ít có đình công, bãi công
tự do, đồng thời là một thị trờng tiêu thụ 75 triệu dân và là nớc nằm trong khu
vực phát triển nóng. Chính điều này đang trở thành một trong những yếu tố hấp
dẫn các nhà FDI.
1.1.3. Tham gia vào các quá trình hội nhập
Quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt nam tiếp tục phát triển, việc triển khai
Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ sẽ tạo thêm tính hấp dẫn trong thu hút đầu t nớc
ngoài và khuyến khích các doanh nghiệp đầu t nớc ngoài mở rộng sản xuất để h-
ớng xuất khẩu vào thị trờng Mỹ.
Xu hớng toàn cầu hoá tiếp tục mở rộng, cuộc cách mạng công nghệ ngày
càng phát triển mạnh mẽ cùng với việc đẩy nhanh vòng đàm phán gia nhập WTO
sẽ tạo ra những cơ hội mới để Việt nam tham gia có hiệu quả vào phân công lao
23
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hoa - A3-CN8
động Quốc tế và tận dụng sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế - đầu t của các nớc công
nghiệp phát triển.
Hơn nữa việc tham gia vào quá trình hội nhập đầu t Quốc tế, gia nhập AFTA,
ký các hiệp định khung và bảo hộ đầu t với với các nớc nhằm tăng cờng khả năng
mở cửa thu hút đầu t nớc ngoài. Tham gia các diễn đàn doanh nghiệp và tổ chức
nhiều đoàn vận động đầu t tại các nớc Châu Âu, Mỹ, Nhật
I.2. Khó khăn:
2. Sự cần thiết phải tăng c ờng thu hút đầu t n ớc ngoài hiện nay
Từ một nớc nghèo nàn lạc hậu bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, Việt nam
với quá trình phát triển và thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất n-
ớc, sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện các chính sách
thu hút đầu t nớc ngoài. Cụ thể nh sau:
Do các dự án đầu t còn chậm vì số dự án cha bắt đầu xây dựng cơ bản
còn chiếm tỷ lệ lớn do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân do
thủ tục cấp đất, đền bù giải phóng mặt bằng còn chậm, chi phí đền bù cao, có
dự án mất 2-3 năm mới hoàn thành thủ tục. Do ảnh hởng của cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ khu vực năm 1997 - 1998 cùng với sự kiện 11/9/2001,
nên việc triển khai các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài bị chững lại, các dự án
xin dừng hoặc giãn tiến độ triển khai tăng lên.
Tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký chỉ đạt mức trung bình là 52%,
trong khu vực, vì bình quân một dự án cần từ 4 đến 5 năm mới thực hiện đủ
vốn đăng ký, đối với những dự án có quy mô lớn thì thời gian này còn kéo dài
hơn, mà phần nhiều các dự án đợc cấp giấy phép từ năm 1995 trở lại đây. Mặt
khác, chính sách về kinh doanh bất động sản của Việt Nam cha rõ ràng cùng
với ảnh hởng của khủng hoảng trong khu vực đã làm cho các chủ đầu t không
triển khai nhanh các dự án đã đợc cấp giấy phép.
Phần góp vốn pháp định của Việt Nam còn thấp, mới đạt 1.726 triệu
USD, chiếm 14% vốn thực hiện và 23,7% vốn pháp định thực tế. Trong đó, đối
tác Việt Nam chủ yếu góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất (chiếm khoảng
25