Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam – Thực trạng và giải pháp - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Để có thể tạo ra được những tài sản vật chất cụ thể cho nền kinh tế
quốc gia, nhất thiết phải cần tới việc sử dụng vốn đầu tư thông qua hoạt động
đầu tư. Vốn đó có thể xuất phát từ nội lực nền kinh tế trong nước, cũng có
thể thu hút từ nước ngoài và đi vào phục vụ nền kinh tế chủ yếu thông qua
các dự án đầu tư.
Một dự án đầu tư có thể được xác định theo nhiều cách. Các dự án có
thể do các Bộ, Ngành hữu quan đề xuất, chúng có thể bắt nguồn từ quá trình
xây dựng các kế hoạch kinh tế quốc gia, hoặc cũng có thể được đề xướng bởi
các động lực chính trị. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và
nước ngoài khi đầu tư cũng đòi hỏi chính phủ phải trợ giúp hoặc phê chuẩn
trước khi thực hiện.
Trong bất kể một dự án đầu tư nào, bao giờ cũng có sự mâu thuẫn
tiềm ẩn về lợi ích giữa những người đề xuất dự án hay chương trình và
toàn xã hội. Sự mâu thuẫn này không phải là một chuyện gì mới lạ: lợi
ích của các dự án thường được tập trung cho một bộ phận tương đối hạn
hẹp (thường là các chủ đầu tư) trong khi những chi phí về môi trường,
chi phí cơ hội cho nguồn lực thì lại phân bổ cho toàn bộ xã hội. Do vậy
mà không một cá nhân nào thấy mình phải chịu gánh nặng chi phí mà các
dự án đem lại. Kết quả có thể đoán trước được là những người được
hưởng lợi từ dự án có xu hướng tận dụng triệt để các ưu đãi về nguồn lực
và cố gắng giảm tối thiểu các chi phí bằng cách chuyển các gánh nặng
chi phí. Trong khi đó nhóm người có khả năng bị thiệt hại (là những
người phải gánh chịu chi phí ) lại quá phân tán và những mất mát của
từng cá nhân trong số họ lại quá nhỏ, bởi vậy họ không thể trở thành một
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
b. Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá và bổ sung các vấn đề lý luận liên quan đến công tác
thẩm định kinh tế dự án đầu tư nước ngoài.
- Phân tích thực trạng và đánh giá những kết quả đạt được của công tác
thẩm định dự án đầu tư FDI.
- Dựa trên những đánh giá, phân tích thực trạng để làm cơ sở đề ra các
giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước với công tác
Thẩm định dự án đầu tư nước ngoài. Tức là đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu công
tác thẩm định tính kinh tế đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Phạm vi về không gian nghiên cứu của đề tài là các dự án đầu tư nước
ngoài đầu tư tại Việt Nam, với phạm vi thời gian từ năm 1988 ( năm bắt đầu
thực hiện luật đầu tư nước ngoài) đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sừ dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp
phân tích định tính (gồm các chỉ tiêu định tính, thể hiện các chủng loại hiệu
quả đạt được: hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội, hiệu quả
quốc gia và cộng đồng); phương pháp phân tích định lượng (gồm các chỉ tiêu
định lượng, thể hiện quan hệ giữa chi phí và kết quả đạt được của dự án) và
phương pháp phân tích dòng tiền, phân tích chi phí – lợi ích.
5. Kết cấu đề tài
Từ vai trò của các dự án đầu tư, từ đó là vai trò của công tác thẩm
định, giám sát đầu tư đối với nền kinh tế Việt Nam, cùng với yêu cầu cấp
thiết đặt ra cho hoàn thiện hệ thống thẩm định trong tình hình hiện nay, tôi
chọn đề tài “Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
3

các lĩnh vực rất khác nhau, với các nội dung và các hoạt động cụ thể cũng rất
khác nhau, nhưng chúng đều được gọi là dự án. Mỗi một dự án đều được xác
định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc, cũng như thoả mãn các yêu cầu cụ thể
của nền kinh tế hoặc của một tổ chức nhất định.
Từ trước tới nay có rất nhiều các nhà khoa học kinh tế cũng như các nhà
quản lý đã đưa ra khái niệm rất khác nhau về dự án. Mỗi một quan niệm
nhấn mạnh về một số các khía cạnh của một dự án cùng các đặc điểm quan
trọng của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Nếu xét về hình thức, dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách
chi tiết và có hệ thống một dự kiến đầu tư trong tương lai.
Nếu xét về góc độ nội dung, dự án được hiểu là một ý đồ tiến hành một
công việc cụ thể nào đó nhằm đạt mục tiêu xác định trong khuôn khổ nguồn
lực nhất định và khoảng thời gian nhất định.
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
Nếu xét ở góc độ kế hoạch, dự án được hiểu là một chi tiết đầu tư về phát
triển, là đơn vị kế hoạch độc lập nhỏ nhất trong hệ thống kế hoạch hoá, làm
cơ sở cho việc ra quyết định về đầu tư phát triển.
Nếu từ giác độ quan sát các hoạt động cần thiết cho một dự án thì dự án
được hiểu là hàng loạt các hoạt động cần thiết nhằm xác định mục tiêu, tiến
hành các nghiên cứu khả thi, dự đoán chi phí, hoàn thiện các thủ tục và thiết
kế cuối cùng, cũng như việc lắp đặt và hoàn thiện các điều kiện làm việc.
Một dự án nhất định sẽ bị giới hạn về thời gian, con người cùng các nguồn
lực khác để hoàn thành mục tiêu đã được xác định.
Như vậy, một dự án có thể được xem xét như là một chuỗi các công việc
và các nhiệm vụ:
Có mục tiêu cụ thể được hoàn thành trong những điều kiện nhất định
Được xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc.

hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực
tiếp của dự án.
Các hoạt động của dự án: là các đầu vào về vật chất, tài chính, sức lao
động cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án.
Nguồn lực cho dự án: là các đầu vào về vật chất, tài chín, sức lao động
cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Nguồn lực là tiền đề tạo nên
các hoạt động của dự án.
Bốn bộ phận trên của dự án có quan hệ logic chặt chẽ với nhau:
Nguồn lực của dự án được sử dụng để tạo ra các hoạt động của dự án. Các
hoạt động tạo nên các kết quả (đầu ra). Các kết quả là điều kiện cần thiết để
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án. Đạt được mục tiêu trực tiếp là tiền đề
để góp phần đạt được mục tiêu phát triển.
2. Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1. Khái niệm dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là
hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác
bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước
ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu
tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chứ trong một nền kinh thế (nhà
đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền
kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng
trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là
người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước
khác. Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của

đòng và giáy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí
quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu,
trái phiếu, giấy ghi nợ…). Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ
kinh tế có nhân tố nước ngoài. Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch
chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân)
trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư.
2.2. Vai trò của các dự án FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng có vai trò to lớn đối với việc
thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu
tư . Cụ thể là:
- Giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất
nghiệp. Theo thống kê của Liên hợp quốc, số người thất nghiệp và bán thất
nghiệp của các nước đang phát triển chiếm khoảng 35- 38% tổng số lao
động.
- Giúp các nước đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo
dài. Nhờ vậy, mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính
khan hiếm được giải quyết, đặc biệt là thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp
hoá - thời kỳ mà thông thường đòi hỏi đầu tư một tỷ lệ vốn lớn hơn các giai
đoạn về sau và càng lớn hơn nhiều lần khả năng tự cung ứng từ bên trong.
FDI là phương thức đầu tư phù hợp với các nước đang phát triển, tránh tình
trạng tích luỹ quá căng thẳng dẫn đến những méo mó về kinh tế không đáng
xảy ra.
- Sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo
nên sự cạnh tranh mạnh mẽ, làm cho không khí hoạt động của các doanh
nghiệp trong nước ''nóng lên'', buộc họ phải hoàn thiện và nâng cao sức cạnh

chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả về mặt xã hội. Các kết luận rút ra từ
quá trình thẩm định sẽ là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước
ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư .
1.2. Tính thiết yếu phải thẩm định dự án đầu tư:
Thẩm định dự án đầu tư là cần thiết, nó bắt nguồn từ vai trò quản lý vĩ
mô của nhà nước đối với các hoạt động đầu tư. Nhà nước với chức năng
quản lý của mình sẽ can thiệp vào quá trình lựa chọn các dự án được đầu tư.
Bởi một dự án đầu tư dù được tiến hành soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu cũng
vẫn mang tính chủ quan của người soạn thảo, để đảm bảo tính khách quan
cần thiết phải thẩm định khía cạnh kinh tế của dự án.
Thẩm định kinh tế dự án là cần thiết, có tính quyết định trong việc trả
lời dự án có được chấp nhận và cấp phép đầu tư hay không. Nó là một bộ
phận của công tác quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tư
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
thực sự có hiệu quả.
1.3. Mục đích của thẩm định dự án
Đánh giá tính khả thi của dự án nhằm đưa ra quyết định cấp phép hay
không đối với một dự án. Hai tiêu chí được đánh giá là:
• Đánh giá tính hợp lý của dự án: được biểu hiện ở từng nội dung và
cách thức tính toán của dự án, tính phù hợp của dự án với các chương trình
phát triển...
• Đánh giá tính hiệu quả của dự án: hiệu quả của dự án được xem xét
trên hai phương diện đó là hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội của
dự án.
1.4. Ý nghĩa của việc thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án có ý nghĩa rất lớn, giúp bảo vệ các dự án lớn tốt khỏi
bị bác bỏ, ngăn chặn những dự án phi hiệu quả, góp phần đảm bảo cho việc

công nghệ kĩ thuật, môi trường...
• Cơ quan thẩm định tổng hợp, đánh giá ý kiến thẩm tra, trình báo
cáo, kiến nghị cho các cơ quan quản lý, đồng thời đề nghị cơ quan quản lý
cấp hoặc không cấp giấy phép đầu tư cho dự án.
3. Cơ sở phân tích và nội dung thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
3.1. Cơ sở phân tích:
Trong phạm vi giới hạn, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu thẩm định dự án
dưới giác độ nhà quản lý, tức là thẩm định kinh tế đối với dự án đầu tư.
Thẩm định khía cạnh kinh tế nhằm đánh giá dự án từ quan điểm của
toàn bộ nền kinh tế để xác định xem việc thực hiện dự án có cải thiện được
phúc lợi kinh tế quốc gia hay không.
Sự khác biệt chủ yếu giữa phân tích kinh tế và phân tích tài chính là ở
chỗ: Phân tích kinh tế gộp chung lợi ích và chi phí trên tất cả dân cư quốc gia
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
để xác định xem dự án có cải thiện được mức phúc lợi kinh tế quốc gia như
là một tổng thể hay không, trong khi phân tích tài chính xem xét dự án từ
quan điểm phúc lợi của một nhóm nhỏ dân cư. Chính vì điểm khác nhau căn
bản của phân tích kinh tế so với phân tích tài chính nêu trên, nên đối tượng
quan tâm tới phân tích kinh tế thường là: Chính phủ, chính quyền địa phương
nơi đặt dự án, các cơ quan quản lý nhà nước; đôi khi các tổ chức tín dụng và
chủ đầu tư cũng quan tâm tới kết quả phân tích kinh tế của dự án.
Một số nội dung chính, các qui ước, nguyên tắc cần quan tâm trong
phân tích kinh tế là:
• Qui ước về giá kinh tế: Mọi lượng nhập, xuất đều được tính toán
bằng giá kinh tế. Giá kinh tế được xác định trên cơ sở giá tài chính, thông
qua hệ số điều chỉnh để xét đến những biến dạng của thị trường do sự can

làm công tác thẩm định sẽ phải rà soát lại tất cả các khía cạnh mà chủ đầu tư
đã đề cập trong thiết kế dự án. Tuy nhiên, với tư cách là người đề xuất quyết
định có cấp giấy phép đầu tư cho các dự án hay không, cơ quan thẩm định sẽ
phải đánh giá giá trị thực sự mà dự án mang lại cho xã hội, chứ không phải
trên quan điểm chủ đầu tư. Điều này nghĩa là, cơ quan thẩm định sẽ phải
đánh giá giá trị thực sự mà dự án đem lại cho xã hội, xét xem nó có tuân thủ
theo các yêu cầu về kĩ thuật, thể chế, tổ chức như quy định hay không, hoạt
động của dự án có làm nguy hại tới lợi ích xã hội, môi trường hay không và
nếu có thì biện pháp khắc phục là gì, lợi ích mà dự án tạo ra được phân phối
như thế nào giữa các dối tượng thụ hưởng…Do vậy, công tác thẩm định dự
án sẽ bao gồm một số nội dung cơ bản:
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
3.2.1. Thẩm định khía cạnh thể chế, tổ chức, quản lý của dự án
a. Mục tiêu thẩm định:
Thẩm định từ khía cạnh thể chế, tổ chức, quản lý của dự án nhằm rà
soát lại một cách chính thức tính hợp lệ của hồ sơ thiết kế dự án, cũng như
các vấn đề chung nhất về tổ chức và quản lý của dự án. Căn cứ pháp lý của
dự án là điều kiện tiên quyết để xem xét dự án có được chấp nhận hay
không. Dự án sẽ chỉ tiếp tục được xem xét nếu thoả mãn các yêu cầu pháp lý,
các thủ tục quy định cần thiết.
b. Qui trình thẩm tra:
Bước 1: Kiểm tra hồ sơ trình duyệt:
Đây là bước đầu tiên, cần phải kiểm tra xem hồ sơ trình duyệt đã đủ
chưa, các hồ sơ chứng nhận có phù hợp hay không.
Nhìn chung, bộ hồ sơ xin cấp giấy phếp đầu tư bao gồm:
• Đơn xin cấp giấy phép đầu tư
• Hợp đồng liên doanh (nếu có)

Tuy nhiên, không phải mọi dự án có khả năng sinh lợi cao đều tạo ra
những ảnh hưởng tốt đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội mà đôi khi
nó cũng tạo ra những trở ngại cho quá trình phát triển. Do đó, trên giác độ
quản lý vĩ mô cơ quan thẩm định phải xem xét, đánh giá việc thực hiện dự án
đầu tư có những tác động gì đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh
tế, xã hội; có nghĩa là phải xem xét những lợi ích kinh tế - xã hội do thực
hiện dự án đem lại. Điều này giữ vai trò quyết định để các cấp có thẩm
quyền chấp nhận cho phép đầu tư.
Lợi ích kinh tế - xã hội của dự án đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích
mà nền kinh tế và xã hội thu được so với các đóng góp mà nền kinh tế và xã
hội phải bỏ ra khi thực hiện dự án.
b. Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội:
Đối với mọi quốc gia, mục tiêu chủ yếu của nền sản xuất xã hội là tối
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
đa hoá phúc lợi xã hội. Mục tiêu này thường thể hiện trong các chủ trương
chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Với các
nước đang phát triển, lợi ích kinh tế - xã hội thường được đề cập đó là :
• Nâng cao mức sống dân cư: thể hiện gián tiếp qua các số liệu cụ
thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích luỹ vốn, mức gia
tăng vốn đầu tư, tốc độ phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế…
• Phân phối lại thu nhập: thể hiện qua sự đóng góp của dự án vào
việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển, nâng cao đời sống của tầng
lớp dân cư nghèo.
• Gia tăng số lao động có việc làm. Đây là một trong những mục
tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước thừa lao
động, thiếu việc làm.
• Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ. Những nước đang phát triển

Đối với đầu ra:
• Để xuất khẩu dùng giá FOB để điều chỉnh. Đây là giá xã hội
thực tế sử dụng trong nước.
• Để tiêu thụ nội địa thay thế nhập khẩu dùng giá CIF để điều
chỉnh. Đây là giá xã hội thực tế sử dụng trong nước.
• Để tiêu thụ nội địa:
Nếu là hàng thiết yếu thì dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh.
Giá này bằng giá thị trường trong nước cộng với trợ giá (nếu có).
Nếu là hàng thông thường thì dùng giá thị trường trong nước điều
chỉnh. Giá này bằng giá thị trường trong nước cộng với thuế gián thu (nếu
có).
Đối với dịch vụ hạ tầng tiêu thụ nội địa (nếu không thể xuất khẩu như
điện, nước, khí đốt, vận tải…) thì dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh
hoặc chi phí sản xuất tuỳ thuộc loại nào cao hơn.
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
Đối với đầu vào:
• Nhập khẩu (vật tư, thiết bị) dùng giá CIF để điều chỉnh. Giá này
bằng giá CIF cộng với cước phí vận tải, phí bảo hiểm… trong nước. Đây là
giá xã hội thực tế thanh toán ở trong nước.
• Sản xuất nội địa:
Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể xuất khẩu dùng giá thị trường
trong nước điều chỉnh hoặc giá FOB điều chỉnh tuỳ thuộc giá nào cao hơn.
Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể nhập khẩu dùng giá thị trường
trong nước điều chỉnh hoặc giá CIF điều chỉnh tuỳ thuộc giá nào thấp hơn.
Các loại đầu vào khác dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh (giá
thị trường cộng với trợ giá).
Dich vụ hạ tầng tạo ra trong nước nếu không thể xuất hoặc nhập khẩu

t
EB
t
ENPV
e

Trong đó: EB
t
là lợi ích kinh tế của dự án năm t
EC
t
là chi phí kinh tế của dự án năm t
n : Thời đoạn phân tích dự án
r
e
– Tỷ lệ triết khấu kinh tế.
Chỉ tiêu này nói lên lãi ròng kinh tế của dự án, phản ánh đóng góp của
dự án vào phúc lợi xã hội nói chung.
Đánh giá chỉ tiêu ENPV:
Nếu dự án có ENPV > 0 thì dự án được chấp nhận
• Nếu có nhiều phương án loại bỏ lẫn nhau, phương án nào có ENPV
lớn hơn thì được đánh giá cao hơn.
• Tỷ số Lợi ích/ Chi phí kinh tế (EBCR):
Tỷ số lợi ích/ Chi phí kinh tế (EBCR – Economic Benefit Cost Rate)
là tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của lợi ích kinh tế thu được với giá trị hiện tại của
chi phí kinh tế bỏ ra theo tỷ lệ chiết khấu kinh tế nhất định.
Chỉ tiêu này được tính như sau:
( )
( )


( )

=
+

=
n
0t
t
IRR)(1
EC
t
EB
t
ENPV
E
( )
( )
NPVENPV
ENPV
21
E1E2
1
E1
rr
r
EIRR


+=

tích độ nhạy và rủi do của dự án nhằm đưa ra các biện pháp quản trị rủi do.
Việc tính toán các chỉ tiêu ENPV, EIRR thì phải căn cứ vào các dòng
lợi ích-chi phí dự tính và các giả định để tính toán được coi là tình huống cơ
sở. Việc tính toán độ nhạy của dự án đựơc thực hiện bằng cách đưa ra các
kịch bản: dự báo các rủi ro có thể xảy ra trong khi thực hiện dự án, thay đổi
một hoặc một số thông số đầu vào tăng hay giảm và tính toán các chỉ tiêu
phản ánh hiệu quả của dự án, hậu quả thông tin không chính xác… Nếu hầu
hết các tình huống đưa ra đều cho kết quả ENPV > 0 thì có thể tiến hành cấp
phép thực hiện dự án. Trường hợp ENPV ≤ 0 thì tạm kết luận mức rủi ro dự
tính cao và cần xem xét lại trước khi ra quyết định và do đó có thể điều chỉnh
lại tỷ lệ chiết khấu kinh tế của dự án cho phù hợp.
Việc thẩm dịnh mức độ tin cậy của dự án giúp cho nhà quản lý có cái
nhìn toàn diện về dự án đầu tư để từ đó bảo đảm tính hiệu quả kinh tế - xã
hội của dự án.
3.2.4. Thẩm định về công nghệ, tác động môi trường
Đây là một công việc khá phức tạp, tốn kém vì phải kiểm tra các phép
tính toán, xem xét toàn bộ các kết quả giải trình kinh tế- kỹ thuật. Phải xem
xét đến công nghệ và phương pháp sản xuất, chuyển giao công nghệ đặc biệt
là công nghệ cao. Công nghệ chuyển giao phải đạt được các yêu cầu sau:
• Công nghệ tạo ra sản phẩm mới và cần thiết hoặc sản xuất hàng
xuất khẩu.
• Nâng cao tính năng kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, nâng cao
năng lực sản xuất.
• Tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, khai thác và sử dụng có hiệu
quả tài nguyên thiên nhiên.
Đồng thời nghiêm cấm việc chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng xấu
đến môi trường sinh thái và an toàn lao động. Với công nghệ từ các nước G7
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Lớp KTPT47A
tiềm tàng của các yếu tố đầu vào, xem xét nguyên liệu đầu vào thuộc loại gì,
lấy ở đâu, giá cả như thế nào, tỷ lệ nhập nguyên liệu ra sao. Nhìn chung,
nguyên liệu trong nước có tỷ lệ cao thì tốt, tuy nhiên cũng tránh khia thác
quá mức các nguồn tài nguyên.
• Chất lượng của các yếu tố đầu vào, các căn cứ đánh giá.
• Hình thức khai thác, cung cấp, khả năng bảo đảm ổn định của
nguyên vật liệu đầu vào.
• Về cơ sở hạ tầng cung cấp: dự án sẽ sử dụng năng lượng gì, có liên
tục không.
• Nguồn nước cung cấp và nguồn nước thải có phù hợp với môi
trường xung quanh không
• Cơ sở hạ tầng khác như thông tin, chất thải, an toàn, phòng cháy
chữa cháy…
• Thẩm tra về địa điểm: bao gồm cả văn bản pháp lý và địa điểm cụ thể
• Tìm hiểu kỹ về chính sách kinh tế- xã hội của Chính phủ, địa
phương về khu vực đó.
• Dự án không được mâu thuẫn với quy hoạch tổng thể.
• Tuân thủ luật xây dựng, các quy định về quy hoạch xây dựng và
kiến trúc của địa phương, các quy định của các cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền về phòng cháy, chữa cháy, quản lý di tích lịch sử, an ninh quốc
phòng…
• Các chất phế thải, nước thải độc hại đều phải qua khâu xử lý và gần
tuyến thải cho phép.
• Về nguồn nhân lực: khi thẩm định cần xem xét về:
• Dân số trong khu vực và trình độ văn hoá
• Số lao động có thể thu hút và sử dụng cho dự án
• Chi phí cho sử dụng lao động.
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status