Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam - Thực trạng và giải pháp - Pdf 12

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI .................................................................................... 4
1.1.1. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ......................................................... 5
.........................................................................................................................................
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu
BOT Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao
BTO Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh
BT Hợp đồng xây dựng – chuyển giao
BQL Ban quản lý
DN Doanh nghiệp
-1-
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GPĐT Giấy phép đầu tư
GCNĐT Giấy chứng nhận đầu tư
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
KCN Khu công nghiệp
KCX Khu chế xuất
KKT Khu kinh tế
KCNC Khu công nghệ cao
KTTT Kinh tế thị trường
QLNN Quản lý Nhà nước

sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong khoảng 20 năm qua, đầu tư
nước ngoài đã trở thành một kênh quan trọng, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng
kinh tế, thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa, mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước,
tạo thêm thế và lực cho Việt Nam chủ động hội nhập sâu rộng với kinh tế khu vực và
trên thế giới.
Cũng trong 20 năm qua, công tác Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư
nước ngoài đã có nhiều thay đổi theo hướng tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn, bình
đẳng và an toàn thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh những
-3-
thành tựu đã đạt được, công tác QLNN vẫn còn tồn tại nhiều bất cập ảnh hưởng trực tiếp
đến kết quả và hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài.
Xuất phát từ những điều trên, tôi lựa chọn đề tài: "Quản lý Nhà nước đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp".
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ VÀ HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ NÓI CHUNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NÓI RIÊNG
Từ cuối thế kỷ XIX và sang cả thế kỷ XX nhiều trường phái kinh tế đã xuất
hiện trên thế giới, đặc biệt là sự xuất hiện trường phái của Samuelson. Ông chủ trương
phát triển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàn tay” - là cơ chế kết hợp cả hai yếu tố thị
trường và Nhà nước. Samuelson đã đưa ra một hình ảnh khá thuyết phục, “điều hành
một nền kinh tế không có đồng thời cả Chính phủ lẫn thị trường thì cũng như định vỗ
tay bằng một bàn tay”.
Từ học thuyết “hai bàn tay” của Samuelson đã khẳng định vai trò quan trọng của
Nhà nước trong nền KTTT để hạn chế những khuyết tật của nó. Việt Nam cũng không
nằm ngoài quy luật đó. Nhà nước Việt Nam là tổ chức quyền lực chính trị của nhân dân
-4-
Việt Nam, đại diện cho nhân dân Việt Nam thực hiện quản lý thống nhất mọi mặt hoạt
động của đời sống xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, đối

phòng, mà lĩnh vực lớn nhất là QLNN trong lĩnh vực kinh tế.
1.1.2. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA QLNN VỀ KINH TẾ
1.1.2.1. Xây dựng pháp luật kinh tế
Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng pháp luật kinh tế trong hệ
thống các hoạt động QLNN nhằm thể hiện Đảng cầm quyền có đường lối chính trị - kinh
tế rõ ràng, các điều kiện tối thiểu của hoạt động kinh tế - xã hội của mọi thành phần kinh
tế đã được thể chế hoá qua hệ thống pháp luật là một trong những điều kiện tiên quyết
làm cơ sở cho mọi công dân cũng như các nhà đầu tư nước ngoài có lòng tin để làm kinh
tế trên lãnh thổ Việt Nam và một phần cho các nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước
ngoài. Việc xây dựng pháp luật về kinh tế ở nước ta mặc dù đã được đặc biệt quan tâm
“tăng tốc” song là quá chậm trước yêu cầu chuyển sang KTTT có sự QLNN theo định
hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Đây là điều Nhà nước ta đã thấy và đang tìm mọi
biện pháp để đẩy nhanh việc xây dựng pháp luật kinh tế.
1.1.2.2. QLNN về kinh tế thông qua tổ chức bộ máy QLNN
Cơ cấu tổ chức của Chính phủ theo nguyên tắc Bộ đa ngành, đa lĩnh vực thực
hiện chức năng quản lý vĩ mô bằng pháp luật, chính sách và hướng dẫn kiểm tra thực
hiện; theo hướng gọn nhẹ, chức năng rõ ràng, khoa học, hoạt động có hiệu lực hiệu quả;
giảm các cơ quan trực thuộc Chính phủ và tổ chức trực thuộc Thủ tướng Chính phủ.
1.1.2.3. QLNN về kinh tế thông qua việc xây dựng phương hướng, mục tiêu, chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Việc QLNN về kinh tế ở nước ta thông qua việc xây dựng các kế hoạch kinh tế -
xã hội 5 năm và hàng năm, các quy hoạch, chương trình, v.v… Chức năng QLNN ở đây
không dừng ở các văn bản mà còn là kiểm tra, đôn đốc thực hiện và thực hiện báo cáo
quá trình thực hiện Chương trình. Xây dựng hệ thống các chính sách và dự án đầu tư
nhằm cụ thể hoá chương trình mục tiêu chiến lược.
1.1.2.4. QLNN đối với hệ thống các doanh nghiệp
-6-
Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về kinh tế nhằm bảo đảm sự bình đẳng
và quyền tự chủ của các DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Bên cạnh đó, hỗ
trợ các DN thuộc các thành phần kinh tế khác về tư pháp, về thông tin, các cơ quan

hướng toàn dân thực hiện các nhiệm vụ được giao một cách sáng tạo, hiệu quả cao,…
góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của các chương trình chung của đất nước.
1.1.3. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ
1.1.3.1. Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư
Đầu tư là hoạt động có tính liên ngành. Quản lý đầu tư là công tác phức tạp
nhưng là yêu cầu khách quan, nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư.
Quản lý, theo nghĩa chung là sự tác động có mục đích của chủ thể vào các đối
tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra. Quản lý nhà nước về đầu tư
là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng, mục tiêu của Nhà nước vào quá trình đầu
tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư) và
các yếu tố đầu tư, bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ
thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả và hiệu quả đầu tư cao nhất, trong
điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan và
quy luật đặc thù của đầu tư.
1.1.3.2. Mục tiêu quản lý nhà nước về đầu tư
Quản lý nhà nước về đầu tư là việc quản lý đầu tư trên góc độ vĩ mô nhằm đáp
ứng những mục tiêu sau:
- Thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
trong từng thời kỳ của quốc gia, từng ngành và từng địa phương nhằm thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.
- Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả cao nguồn vốn đầu tư, các nguồn tài lực,
vật lực của ngành, địa phương và toàn xã hội. Quản lý đầu tư nhằm sử dụng hợp lý, tiết
kiệm và khai thác có hiệu quả từng loại nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao
động và các tiềm năng khác. Đồng thời, quản lý đầu tư gắn với việc bảo vệ môi trường
-8-
sinh thái, chống mọi hành vi tham ô, lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và khai thác các
kết quả đầu tư.
- Thực hiện đúng những quy định pháp luật về yêu cầu kinh tế - kỹ thuật trong

Cũng như các hoạt động kinh tế khác, quản lý hoạt động đầu tư bao gồm các
phương pháp như phương pháp kinh tế, giáo dục, hành chính, các phương pháp toán,
thống kê…
 Phương pháp kinh tế
Quản lý hoạt động đầu tư bằng phương pháp kinh tế, nghĩa là, thông qua các
chính sách và đòn bẩy kinh tế để hướng dẫn, kích thích, động viên và điều chỉnh các
hành vi của những đối tượng tham gia hoạt động đầu tư theo một mục tiêu nhất định của
nền kinh tế xã hội. Như vậy, phương pháp kinh tế trong quản lý chủ yếu dựa vào lợi ích
kinh tế của đối tượng tham gia vào quá trình đầu tư, kết hợp hài hòa lợi ích của Nhà
nước, xã hội với lợi ích của tập thể và cá nhân người lao động trong lĩnh vực đầu tư.
 Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lý bằng những văn bản, chỉ thị, những quy định về tổ chức…
Phương pháp giáo dục
Để đạt được mục tiêu và yêu cầu quản lý, phương pháp giáo dục cần được coi
trọng. Nội dung của phương pháp giáo dục trong quản lý bao gồm giáo dục thái độ đối
với lao động, ý thức tổ chức kỷ kuật, tinh thần trách nhiệm, khuyến khích phát huy sáng
kiến, giữ gìn uy tín đối với chủ đầu tư…
Phương pháp toán và thống kê
Để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả, bên cạnh các phương pháp định tính
cần áp dụng cả các biện pháp định lượng, đặc biệt là phương pháp toán kinh tế và thống
kê. Đó là những phương pháp thu thập, tổng hợp, xử lý và phân tích các số liệu thống kê
trong hoạt động đầu tư, dự báo các chỉ tiêu…
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
-10-
QLNN là việc Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình
thông qua ba nội dung: lập pháp, hành pháp, tư pháp trong phạm vi quốc gia và cả những
vấn đề liên quan đến thế giới. Do vậy, hoạt động đầu tư nước ngoài cũng không nằm
ngoài sự quản lý chung đó.
QLNN đối với hoạt động đầu tư nước ngoài trên góc độ lập pháp là việc xây

chứng nhận đầu tư.
- Chế độ giám sát việc cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư.
• Ba là, công tác hướng dẫn triển khai thực hiện dự án:
- Tổ chức nhân sự tham gia điều hành trong các liên doanh có Bên Việt Nam là
doanh nghiệp Nhà nước.
- Hướng dẫn các công việc triển khai sau khi cấp phép đầu tư
- Hướng dẫn các công việc liên quan đến tổ chức lại doanh nghiệp, trong xử lý
tranh chấp, chấm dứt hoạt động, giải thể, thanh lý doanh nghiệp,...
- Phối hợp trong việc xem xét, đề nghị khen thưởng, xử lý vi phạm.
• Bốn là, chế độ phối hợp công tác quản lý hoạt động FDI:
- Chế độ thông tin, báo cáo;
- Chế độ giao ban giữa các Bộ; giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư với địa phương, với
các Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất; giữa địa phương, Ban quản lý các
Khu công nghiệp với Doanh nghiệp...
- Cơ chế thanh tra, kiểm tra.
1.2.2. PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1.2.2.1. Khái niệm
Pháp luật về ĐTNN là một bộ phận trong hệ thống pháp luật. Việc điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động ĐTNN có sự tham gia của nhiều ngành luật,
trong đó các ngành luật như Luật Kinh tế, Luật Tư pháp quốc tế, Luật Dân sự, Luật Lao
động, Luật Đất đai... đóng vai trò rất quan trọng. Nói cách khác, pháp luật về ĐTNN là
nơi giao thoa của nhiều ngành luật khác nhau như Luật Kinh tế, Luật Tư pháp quốc tế,
Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Đất đai...
Sơ đồ 1.1: Pháp luật về đầu tư nước ngoài
-12-
Pháp luật về ĐTNN được hiểu theo nghĩa rộng, gồm ba bộ phận cấu thành:
- Bộ phận thứ nhất: là đạo luật Đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng dẫn trực
tiếp thi hành.
- Bộ phận thứ hai: là các chế định có liên quan đến ĐTNN được quy định trong
các đạo luật khác.

• Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN với các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
• Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN, nhà ĐTNN, nhà đầu tư trong nước
với người lao động.
• Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN, nhà ĐTNN, nhà đầu tư trong nước
với các cơ quan tài phán trong nước và quốc tế.
Các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động ĐTNN và được pháp luật điều
chỉnh được gọi là các quan hệ pháp luật ĐTNN. Đặc trưng có tính chất bao trùm của các
quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật ĐTNN là yếu tố nước ngoài.
Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác như Luật Dân
sự, Luật Thương mại, Luật Kinh tế... có thể cũng có yếu tố nước ngoài, nhưng không có
tính chất bao trùm như quan hệ ĐTNN.
1.2.3. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Phương pháp điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài là tổng hợp tất cả những
cách thức tác động do Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền đặt ra; được ghi
nhận trong quy phạm pháp luật; được Nhà nước đảm bảo thực hiện trên cơ sở có thể áp
dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Trên cơ sở đó, hoạt động đầu tư nước ngoài có
ba phương pháp điều chỉnh:
1.2.3.1. Phương pháp thỏa thuận hay còn gọi là phương pháp tự nguyện
Đây cũng là phương pháp điều chỉnh của Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Luật Lao
động... Quan hệ ĐTNN là quan hệ tự nguyện được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận về
hình thức đầu tư, nội dung, mục tiêu, thời hạn đầu tư. Trong cơ chế thị trường, không
chủ thể nào trong quan hệ kinh tế nói chung, quan hệ ĐTNN nói riêng có quyền ra lệnh,
bắt buộc chủ thể khác phải làm theo ý mình; các chủ thể đều phải tuân theo các quy luật
kinh tế khách quan. Nhà nước hoặc các chủ thể trong nước có thể đưa ra danh mục kêu
gọi đầu tư, nhưng nhà ĐTNN có quyền quyết định có đầu tư vào nước sở tại hay không.
Để đạt được sự thỏa thuận, các bên phải có sự bàn bạc, trao đổi, có những sự nhân
nhượng cần thiết theo nguyên tắc đảm bảo các bên đều có lợi. Vấn đề quan trọng là biết
-14-
thỏa thuận sao cho phù hợp với lợi ích của mỗi bên. Những yêu cầu mang tính chất áp
đặt của bất cứ bên nào, đều không thể dẫn đến quá trình đầu tư. Nếu ta quá nhân

Nam. Trong trường hợp nhà đầu tư cố tình vi phạm các quy định của pháp luật, xâm
phạm độc lập, chủ quyền của nước tiếp nhận đầu tư, Nhà nước có quyền áp dụng các
biện pháp chế tài cần thiết đối với người vi phạm.
1.2.3.3. Phương pháp khuyến khích
Ngoài hai phương pháp trên, quản lý hoạt động ĐTNN còn sử dụng phương pháp
điều chỉnh thứ ba, đó là phương pháp khuyến khích. Phương pháp này mang tính chất
khuyến khích các cá nhân, tổ chức nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực mà nước tiếp
nhận đầu tư đang cần như: thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất
khẩu và thay thế hàng nhập khẩu; sử dụng kỹ thuật cao, đào tạo công nhân lành nghề;
đầu tư theo chiều sâu để khai thác, tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các
cơ sở kinh tế hiện có; sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu và tài nguyên thiên nhiên sẵn
có ở nước tiếp nhận đầu tư; xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; đầu tư vào những
vùng sâu, vùng xa, kinh tế khó khăn. Để có thể sử dụng phương pháp này, cần có những
quy định mang tính chất ưu đãi về thuế, về sử dụng đất và các biện pháp khuyến khích,
bảo đảm đầu tư khác.
Ba phương pháp điều chỉnh trong công tác quản lý hoạt động ĐTNN có mối quan
hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau và được sử dụng trong sự kết hợp với nhau. Sẽ là
sai lầm nếu như tuyệt đối hóa bất cứ phương pháp nào, kể cả việc tuyệt đối hóa phương
pháp mệnh lệnh là phương pháp mang tính chất đặc trưng của QLNN.
-16-
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM - GIAI ĐOẠN 1987 - 2007
2.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1987 – 2007
Sau 20 năm kể từ ngày đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã thay đổi một cách tích
cực. Từ một nền kinh tế nông nghiệp, tập thể hóa, nghèo và cô lập, Việt Nam đã chuyển
mình trở thành một quốc gia đang phát triển mạnh mẽ. Không hề giảm thiểu vai trò của
nguồn vốn đầu tư trong nước, song phải khẳng định nhịp độ chuyển đổi nền kinh tế
nhanh như vậy có sự đóng góp không nhỏ của luồng vốn FDI.

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 là một trong những đạo luật kinh
tế đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã
đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN tại Việt
Nam trong suốt hơn 20 năm qua.
Hơn 20 năm mở cửa thu hút FDI là hơn 20 năm Nhà nước thực hiện nhiệm vụ
quản lý của mình đối với hoạt động của nguồn vốn này. Cùng với nỗ lực tạo ra một môi
-18-
trường hấp dẫn thu hút ĐTNN là việc hoàn thiện dần dần hoạt động quản lý sao cho hiệu
quả, linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm tính chặt chẽ, nghiêm minh.
Công tác QLNN đối với hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ĐTNN nói
riêng là việc phối hợp quản lý giữa nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau song vẫn đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ.
Thực trạng công tác quản lý hoạt động ĐTNN này sẽ được nghiên cứu dưới một
số khía cạnh chủ yếu như sau:
2.2.1. PHÂN CẤP VÀ PHỐI HỢP HOẠT ĐỘNG TRONG CÔNG TÁC QLNN ĐỐI
VỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Với quyết tâm cải thiện hơn môi trường đầu tư, củng cố niềm tin của các nhà đầu
tư nước ngoài, tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế, Chính phủ
Việt Nam đã đề ra các biện pháp tích cực nhằm không ngừng nâng cao năng lực QLNN
về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một trong những biện pháp quan trọng đó là nâng cao
hiệu quả cơ chế phân cấp quản lý và phối kết hợp giữa các cơ quan QLNN ở Trung ương
và địa phương, giữa cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN để củng cố và đổi mới công tác thông tin trong quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài nhằm giúp cho các cơ quan quản lý nắm chính xác và đầy đủ thông tin về
đầu tư trực tiếp nước ngoài để có biện pháp hỗ trợ kịp thời cho doanh nghiệp FDI, cho
các dự án; đồng thời tạo điều kiện để các doanh nghiệp FDI, các Nhà đầu tư kịp thời
nắm bắt các chủ trương, chính sách của Nhà nước, tiến hành hoạt động đầu tư phù hợp
quy định của luật pháp từ hình thành, triển khai và thực hiện dự án đầu tư.
Theo đó, Chính phủ thống nhất QLNN đối với hoạt động ĐTNN thông qua Bộ
Kế hoạch và Đầu tư và phân cấp triệt để cho UBND cấp tỉnh và BQL với quyền hạn,

Thủ tướng Chính phủ không nằm trong quy hoạch; có ý kiến với cơ quan cấp Giấy
chứng nhận đầu tư về sự cần thiết của dự án đầu tư thuộc thẩm quyền chấp thuận của
Thủ tướng Chính phủ mà thuộc lĩnh vực chưa có quy hoạch để trình Thủ tướng Chính
phủ chấp thuận.
Thẩm tra các dự án đầu tư quan trọng quốc gia và dự án đầu tư khác theo quyết
định của Thủ tướng Chính phủ.
-20-
Thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến đầu tư; xây dựng chương trình,
kế hoạch và tổ chức thực hiện chương trình quốc gia về vận động xúc tiến đầu tư; phối
hợp với các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc tổ chức hoạt động xúc tiến
đầu tư; đặt đại diện tổ chức xúc tiến đầu tư tại nước ngoài; thực hiện quản lý quỹ xúc
tiến đầu tư quốc gia.
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành đàm phán và trình Chính phủ ký kết hoặc
tham gia các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động đầu tư; thực hiện hợp tác quốc tế
về hoạt động đầu tư.
Tổ chức hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tăng cường năng lực quản lý
đầu tư cho hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư các cấp.
Phối hợp với Tổng cục Thống kê tổ chức hoạt động thống kê về đầu tư theo quy
định của pháp luật về thống kê; tổ chức, xây dựng hệ thống thông tin quốc gia phục vụ
hoạt động đầu tư.
Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá
trình hình thành, triển khai và thực hiện dự án đầu tư.
Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư.
Kiểm tra, giám sát, thanh tra hoạt động đầu tư theo thẩm quyền; xây dựng
chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát liên ngành đối với hoạt động đầu tư; kiểm tra
việc cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư của cơ quan cấp Giấy chứng nhận
đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định 108/2006/NĐ-CP; kiểm tra, giám sát
việc tuân thủ các quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong quá trình đầu
tư.
Định kỳ 6 tháng, hàng năm, tổng hợp tình hình hoạt động đầu tư và báo cáo Thủ

Ban Quản lý KCN, KCX, KCNC, KTT
Tham gia ý kiến với các Bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng các văn bản
quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch liên quan đến hoạt động đầu tư, phát triển
khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
Thực hiện việc đăng ký đầu tư; thẩm tra và cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng
nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền.
-22-
Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện mục tiêu đầu tư quy định tại Giấy
chứng nhận đầu tư, tiến độ góp vốn và triển khai dự án đầu tư; phối hợp kiểm tra, thanh
tra việc chấp hành pháp luật về lao động, tiền lương; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
người lao động và người sử dụng lao động, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội,
bảo vệ môi trường sinh thái đối với các dự án trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao và khu kinh tế.
Giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư trong khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, các Bộ,
ngành liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền.
Đánh giá hiệu quả đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế.
Định kỳ hàng quý, 6 tháng và hàng năm, gửi báo cáo về hoạt động đầu tư trong
khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế cho Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2.2.1.5. Đánh giá công tác phân cấp và phối hợp hoạt động trong công tác QLNN
đối với ĐTNN
Chủ trương phân cấp quản lý hoạt động ĐTNN đã được thực tế kiểm nghiệm là
đúng đắn, thực sự góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương phát
huy sự linh hoạt, tính sáng tạo của mỗi địa phương trong thu hút ĐTNN, tạo điều kiện
cho thành phần kinh tế này đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa
bàn. Theo đó, đã chú trọng nâng cao trách nhiệm, tăng cường kiện toàn tổ chức bộ máy
với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ, về ngoại ngữ, tin
học... để đảm đương trách nhiệm QLNN đối với khu vực ĐTNN trên địa bàn. Đồng
thời, là cơ sở cho việc tiếp tục triển khai cải cách thủ tục hành chính và trực tiếp góp

lang pháp lý cho các hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Quá trình hình thành và
phát triển của Luật đầu tư nước ngoài gắn liền với sự chuyển biến về nhận thức và quan
điểm của Việt Nam về vai trò của đầu tư nước ngoài nói chung và FDI nói riêng. Bên
cạnh đó, những thay đổi trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam còn
xuất phát từ những cam kết quốc tế của Việt Nam về đầu tư nước ngoài.
-24-
2.2.2.1. Chuyển biến về nhận thức và quan điểm của Việt Nam về vai trò của đầu
tư trực tiếp nước ngoài
Cho đến nay, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vai trò của đầu tư
nước ngoài nói chung, FDI nói riêng đã có nhiều thay đổi. Nếu như trước năm 2000, các
doanh nghiệp FDI chưa được coi như một chủ thể độc lập trong nền kinh tế thì từ Đại
hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) trở lại đây, khu vực FDI đã được khẳng định là một
trong 6 thành phần cùng tồn tại trong nền kinh tế. Dưới đây nêu các mốc quan trọng
đánh dấu sự thay đổi về quan niệm và nhận thức của Đảng và Nhà nước về vai trò của
FDI đối với nền kinh tế.
• Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) và Đại hội VIII (1996) tuy không tách riêng khu
vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thành một “thành phần kinh tế” trong nền
kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam, song đã ghi nhận sự hợp tác liên doanh
giữa kinh tế nhà nước và tư bản nước ngoài, khẳng định khu vực đầu tư nước
ngoài “có vai trò to lớn trong động viên về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức
quản lý...” – văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Với quan điểm như
vậy, chính sách đối với khu vực có vốn FDI trong thời kỳ này chủ yếu hướng vào
việc khuyến khích các nhà đầu tư liên doanh với các DNNN của Việt Nam, hoạt
động trong nhiều lĩnh vực kinh tế, trừ những lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt
đối với nền kinh tế quốc dân và an ninh quốc phòng.
• Năm 2001, lần đầu tiên khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được công
nhận là một thành phần kinh tế với vai trò “ hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều
việc làm…” và đề ra nhiệm vụ “phải tạo chuyển biến cơ bản trong thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài” – Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status