Lêi më ®Çu
Toàn cầu hoá hiện đang là xu thế tất yếu, khách quan, tác động mạnh mẽ
tới tất cả các quốc gia, dân tộc, đến đời sống xã hội của cả cộng đồng nhân loại,
cũng như cuộc sống của mỗi người. Toàn cầu hoá không chỉ tạo ra những cơ hội,
mà cả những thách thức to lớn đối với thế giới nói chung và cả Việt Nam nói
riêng. Một trong những vấn đề cần quan tâm hiện nay để có thể phát triển bền
vững là vấn đề nợ nước ngoài và việc sử dụng nguồn vốn vay này.
Vay nợ đã khó nhưng việc sử dụng vốn vay ấy như thế nào cho hợp lý
lại còn khó khăn hơn. Nguồn vốn vay chính là “con dao hai lưỡi”. Nếu chúng
ta không biết sử dụng vốn hiệu quả thì rất có thể nó sẽ trở thành gánh nợ đối
với nền kinh tế sau này. Vì thế việc xây dựng chiến lược quản lý nợ nước
ngoài để định hướng cho việc vay và trả nợ, việc sử dụng vốn vay và tăng
cường công tác quản lý, nâng cao hiệu quả vốn vay là yêu cầu cần thiết với
các nước đi vay trong đó có Việt Nam.
Thực tế, trong những năm qua việc huy động vốn vay nước ngoài đã
có những chuyển biến mạnh mẽ và góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng và
ổn định nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, một nước đang trong quá trình đổi
mới, bước đầu hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, chúng ta còn thiếu rất
nhiều kinh nghiệm trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế. Việc giải ngân và sử
dụng tốt vốn vay cũng còn nhiều hạn chế.
Em đã mạnh dạn nghiên cứu vấn đề “Nợ nước ngoài ở Việt Nam.
Thực trạng và giải pháp”.
Phần nội dung
A. Lý luận về nợ nớc ngoài
1. Định nghĩa
Vốn là một trong những yếu tố quyết định đến sự tăng trởng và phát
triển kinh tế của mỗi nớc. Các nớc muốn phát triển nhanh đều phải dựa vào các
nguồn vốn đầu t cho phát triển, bao gồm vốn trong nớc và vốn ngoài nớc. Vốn
trong nớc đợc huy động từ nội lực của nền kinh tế. Nếu vốn trong nớc không đủ
phải huy động vốn ngoài nớc (Vốn nớc ngoài). Vay nợ nớc ngoài là sự huy
động vốn từ bên ngoài (của các nớc, các tổ chức quốc tế, các t nhân, ngân hàng
ờng vốn quốc tế;
5Tín dụng xuất nhập khẩu, nợ do mua hàng trả chậm;
6Vay nợ của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
3. Các yếu tố ảnh hởng đến vay nợ nớc ngoài
Vấn đề vay và trả nợ nớc ngoài phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau
bên trong của mỗi nền kinh tế và bối cảnh kinh tế - chính trị toàn thế giới. Một
số yếu tố chủ yếu tác động nh: yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị, yếu tố liên quan
đến các bên vay
3.1. Yếu tố kinh tế
Vốn cũng là một loại hàng hoá. Do đó, dòng vốn vay nớc ngoài từ quốc
gia này vào quốc gia khác cũng tuân theo quy luật thị trờng theo nguyên tắc
cung - cầu.
Với các nớc có nền kinh tế phát triển có nguồn vốn dự trữ lớn đã tạo
thành bên cung vốn, có nhu cầu sử dụng đồng vốn nhàn rỗi một cách có hiệu
quả nên đã đa vốn đến các nớc có nhu cầu vốn dới hình thức cho vay trực tiếp
hoặc cho vay thông qua thị trờng vốn quốc tế.
Các nớc nghèo, các nớc đang phát triển dới sức ép phải phát triển kinh
tế xã hội một cách bức bách do đó nhu cầu vốn cho phát triển là rất lớn. Nh-
ng thực tế, các nớc này không có khả năng tự cung cấp vốn nên phải đi vay đã
tạo ra cầu vốn rất to lớn.
Tuy nhiên, cung và cầu vốn hình thành cũng không hoàn toàn đơn thuần
từ nớc giàu vào nớc nghèo, từ nớc phát triển vào nớc đang phát triển, mà nó có
thể đan xen, cả nớc giàu và nớc nghèo đều có thể có nhu cầu vay vốn hoặc cung
cấp vốn. Điều này phụ thuộc vào lợi thế so sánh của mỗi nớc thể hiện ở các mặt:
lãi suất ở trong nớc và ở ngoài nớc, khả năng biến động của tỷ giá hối đoái,
chính sách tài khoá, nợ nớc ngoài và khả năng thanh toán
3.2. Yếu tố chính trị
Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng để cho luồng vốn vay nơớc ngoài có
thể chảy vào mỗi nớc nhiều hay ít. Môi trờng chính trị lành mạnh và môi trờng
kinh tế vĩ mô ổn định, hệ thống luật pháp rõ ràng sẽ làm giảm các rủi ro cho các
3.4. Các yếu tố khác
Ngo i các yếu tố trên, các yếu tố ảnh h ởng đến vay nợ nớc ngoài còn
bao gồm: các yếu tố liên quan đến thị trờng vay, môi trờng, nhân đạo và xã
hội
Thực tế, một số nhà tài trợ và chủ nợ thờng có chính sách cung cấp
nguồn vốn vay, đặc biệt nguồn vốn vay ODA gắn với các điều kiện phát triển
bền vững về xã hội, môi trờng nhất là các tổ chức Liên hợp quốc, một số nhà tài
trợ song phơng Bắc Âu nh Thuỵ Điển, Phần Lan, Hà Lan, Đan Mạch
B. Nguyên nhân Việt Nam nợ nớc ngoài
1. Tình hình kinh tế Việt Nam và một số khó khăn
Chúng ta đều biết rằng, Việt Nam đi lên xây dựng đất nớc từ điểm xuất
phát thấp. Hai cuộc kháng chiến trờng kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
đã để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nền kinh tế nớc ta. Với đặc điểm là một n-
ớc nông nghiệp lạc hậu lại chịu cảnh chiến tranh tàn phá, có thể nói chúng ta đã
xây dựng đất nớc từ con số không. Nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo nhng
nông nghiệp lại què quặt, lạc hậu, không đảm bảo đủ lơng thực trong nớc chứ
thể nói là để xuất khẩu.
Những năm đầu sau giải phóng, nớc ta đã có sự giúp đỡ của Liên Xô và
các nớc xã hội chủ nghĩa. Vốn trong giai đoạn này chủ yếu là nhằm mục đích
khôi phục lại nền kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất ban đầu.
2. Nhu cầu vốn đầu t toàn xã hội
Tốc độ tăng trởng của nền kinh tế là mục tiêu hàng đầu của việc huy
động vốn nớc ngoài nói chung và vốn vay nớc ngoài nói riêng, đồng thời cũng
là căn cứ quan trọng nhất để xác định phơng hớng và quy mô vay nợ nớc ngoài
trong từng giai đoạn phát triển.
Sau nhng năm 90, khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, nhà đầu t của chúng
ta cũng mở rộng hơn với quy mô vốn lớn hơn. Đồng thời, nớc ta đã bớc vào thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Do đó, nhu cầu vốn đầu t phát triển
ngày càng lớn. Nhng với nguồn vốn trong nớc có hạn, chúng ta phải huy động l-
ợng vốn không nhỏ từ nớc ngoài. Vay nợ nớc ngoài đã huy động đợc khối lợng
quản lý nguồn vốn vay cùng những tác động của những thay đổi lớn về tỷ giá
hối đoái qua các thời kỳ đã làm cho việc hoàn trả các khoản vay này không đợc
thực hiện đúng lộ trình của các khoản vay, từ đó làm gia tăng số nợ quá hạn,
nhất là khoản vay bằng các khoản ngoại tệ tự do chuyển đổi. Trong tổng số
2.704 tỷ USD nợ nớc ngoài bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi thì có tới 2.238 tỷ
USD là nợ quá hạn. Do không thanh toán đợc những khoản nợ này và do sự sụp
đổ của Liên Xô và các nớc Đông Âu, Việt Nam gần nh bị cô lập với thị trờng tài
chính quốc tế.
Ngoài ra, trong suốt thập niên 90, Việt Nam cũng đã chủ động tham gia
đàm phán, giải quyết nợ quá hạn của các nớc Đông Âu và Liên Xô cũ.
1.2. Thời kỳ từ 1990 đến nay
Sau khi Liên Xô và các nớc Đông Âu sụp đổ, do những khó khăn của
nền kinh tế và sự chuyển đổi chế độ chính trị và kinh tế - xã hội, các nớc này đã
ngừng tài trợ vốn vay cho nớc ta, đồng thời yêu cầu thanh toán các khoản nợ từ
trớc.
Với mong muốn hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, kể từ năm
1993, Việt Nam đã tích cực tham gia vào các vòng đàm phán giải quyết nợ quá
hạn. Đến tháng 10 năm 1993, cộng đồng tài trợ quốc tế đã chính thức nối lại
quan hệ hỗ trợ phát triển cho Việt Nam. Từ đó đến nay các hoạt động hỗ trợ tài
trợ vốn vay cho nớc ta đã phát triển nhanh chóng cả về quy mô, phạm vi các nớc
tài trợ và chất lợng tài trợ cũng ngày càng đợc nâng cao
1.2.1. Về quy mô nợ
Quy mô nợ thờng đợc tính trên hai chỉ tiêu. thứ nhất là tổng nợ nớc
ngoài. thứ hai, là tổng thanh toán nợ. Chúng ta có thể xem xét thực trạng nợ của
Việt Nam qua bảng số liệu sau:
Bảng 1. Biến động nợ nớc ngoài Việt Nam giai đoạn 1990 2000
Chỉ tiêu
Năm 1990 Năm 2000 2000/1990 (lần)
GDP 6.472 31.344 + 4.84
Tổng kim ngạch xuất khẩu 1.815 14.448 +7.96