Luận văn
THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1:
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.Tổng quan lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1
1.1.1.Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1
1.1.2.Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 2
1.2.Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.2.1.Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước tiếp nhận đầu tư 5
1.2.2.Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước xuất khẩu vốn đầu tư 10
1.3.Một số bài học kinh nghiệm về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 12
1.3.1.Kinh nghiệm của Tp Hồ Chí Minh 12
1.3.2.Kinh nghiệm của Bình Dương 14
1.4.Các bài học rút ra từ những kinh nghiệm trên 16
Chương 2 :
THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.Ví trí ,vai trò của Tp Đà Nẵng đối với khu vực miền Trung -Tây Nguyên .19
Luận văn thạc só kinh tế
Chương1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI
1.1.Tổng quan lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tiêu thức phân biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài với hoạt động đầu tư nội đòa
thường tập trung vào các đặc trưng cơ bản sau :
-Về vốn góp : Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng một lượng vốn tối thiểu theo
quy đònh của mỗi nước nhận đầu tư để họ có quyền trực tiếp tham gia điều phối,
quản lí quá trình sản xuất kinh doanh .Ở Việt Nam, Luật đầu tư nước ngoài
cũng đã đưa ra điều kiện “ Phần vốn góp của bên nước ngoài hoặc các bên
nước ngoài vào vốn pháp đònh của doanh nghiệp liên doanh không bò hạn chế
về mức cao nhất theo sự thoả thuận của các bên, nhưng không dưới 30 % vốn
pháp đònh, trừ những trường hợp do Chính phủ quy đònh .
-Về quyền điều hành : Quản lí doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc
vào mức vốn góp .Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100 % vốn thì quyền điều
hành hoàn toàn phụ thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê
người quản lí .
-Về phân chia lợi nhuận : Dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ đều được
phân chia theo tỉ lệ vốn góp trong vốn pháp đònh sau khi đã trừ đi các khoản
đóng góp .Do đó có thể đònh nghóa khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như
sau : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu
tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn để đầu tư vào lónh vực sản xuất hoặc
dòch vụ ; đồng thời trực tiếp tham gia quản lí, điều hành, tổ chức sản xuất, tận
dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lí … nhằm mục đích
thu lợi nhuận .”
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
- 2 –
- 3 –
Luận văn thạc só kinh tế
liên doanh .Hội đồng quản trò quyết đònh theo nguyên tắc nhất trí đối với các
vấn đề quan trọng như : duyệt quyết toán thu chi tài chính hàng năm và quyết
toán công trình, sửa đổi, bổ sung điều lệ doanh nghiệp, vay vốn đầu tư, bổ
nhiệm, miễn nhiệm tổng giám đốc, phó tổng giám đốc thứ nhất và kế toán
trưởng …lợi nhuận hay rủi ro của doanh nghiệp liên doanh này được phân chia
theo tỉ lệ góp vốn của mỗi bên .Tổng giám đốc và Phó Tổng Giám đốc có
trách nhiệm điều hành và điều công việc hàng ngày của liên doanh .Nếu
Tổng Giám đốc là người nước ngoài thì Phó Tổng Giám đốc thứ nhất phải là
người Việt Nam và sinh sống tại Việt Nam .
• Một đơn vò liên doanh có thể tham gia vốn để thành lập một liên doanh khác
với nước ngoài, trong liên doanh mới này phải có ít nhất hai thành viên thuộc
liên doanh cũ trong Hội đồng quản trò và một trong hai thành viên đó phải là
người có quốc tòch Việt Nam .
• Thời gian hoạt động của liên doanh thông thường từ 30 năm đến 50 năm, trong
trường hợp đặc biệt không quá 70 năm .
• Doanh nghiệp liên doanh phải giải thể khi hết thời hạn hoạt động trừ khi việc
kéo dài thời gian hoạt động đã được cơ quan quản lí nhà nước về hợp tác và
đầu tư chuẩn y .Đồng thời doanh nghiệp liên doanh cũng có thể kết thúc hợp
đồng sớm hơn trong một số trường hợp đặc biệt như : gặp bất khả kháng, một
hoặc các bên liên doanh không thực hiện nghóa vụ quy đònh như trong hợp
đồng .
• Các doanh nghiệp liên doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài
chính.Theo pháp luật Việt Nam phần góp vốn pháp đònh của bên nước ngoài
không bò hạn chế về mức cao nhất như một số nước khác nhưng không được
ít hơn 30% vốn pháp đònh .
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
- 4 –
Luận văn thạc só kinh tế
Hợp đồng BOT thường được thực hiện bằng 100% vốn nước ngoài, cũng có thể
được thực hiện bằng vốn nước ngoài và phần góp vốn của chính phủ hoặc các tổ
chức, cá nhân của nước chủ nhà .Trong hình thức đầu tư này, các nhà đầu tư nước
ngoài có toàn quyền tổ chức xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian
đủ thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lí, sau đó có nghóa vụ chuyển giao cho
nùc chủ nhà mà không được bồi hoàn bất kì khoản tiền nào .Các dự án BOT
được ưu tiên sử dụng đất đai, đường sá và các công trình phụ trợ công cộng sử
dụng cho công trình BOT và được miễn thuê đất đối với các diện tích đất sử dụng
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh(BTO) : là phương thức đầu tư
dựa trên văn bản kí kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà
và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng
.Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nước
chủ nhà .Nước chủ nhà có thể sẽ dành cho nhà đầu tư toàn quyền kinh doanh
công trình đó trong một thời hạn nhất đònh để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
hợp lí .
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT):
Là một phương thức đầu tư nước ngoài trên cơ sở văn bản kí kết giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng
công trình kết cấu hạ tầng .Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển
giao công trình đó cho nước chủ nhà .Chính phủ nước chủ nhà tạo điều kiện cho
nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
hợp lí .
1.2.Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.2.1.Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước tiếp nhận đầu tư
FDI là nguồn lực đầu tư từ bên ngoài có ý nghóa trong việc phát triển kinh tế
không những đối với các nước công nghiệp đã phát triển mà cả các nước đang
phát triển .Hầu hết các nước đang phát triển rất cần một lượng vốn rất lớn để
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
- 7 –
Luận văn thạc só kinh tế
Với kinh nghiệm kinh doanh lâu năm và có mạng lưới hoạt động rộng khắp thế
giới, các doanh nghiệp ĐTNN có đóng góp quan trọng trong hoạt động xuất nhập
khẩu của các nước tiếp nhận vốn .Tỉ lệ xuất khẩu của các dự án FDI so với tổng
số kim ngạch xuất khẩu ở Singapore là 72 %, Trung Quốc là 31 % , Việt Nam là
31.4% Tuy nhiên các dự án FDI cũng tác động đến nhập khẩu của các nước
này trong trường hợp do quy mô nhập khẩu để xây dựng cơ bản, trang bò máy
móc rất lớn dẫn đến tiêu cực trong cán cân thương mại và dễ gây ra sự thâm hụt
thương mại thường xuyên .Vì vậy cần khuyến khích các dự án đầu tư FDI mua
nguyên liệu, phụ tùng trong nước và tăng cường mở rộng các dòch vụ thu ngoại tệ
tại chỗ để cải thiện cán cân thanh toán .
Hoạt động xuất khẩu của khu vực ĐTNN đã góp phần mở rộng thò trường
trong nước, thúc đẩy sự phát triển các ngành dòch vụ, đặc biệt là dòch vụ khách
sạn, du lòch, các dòch vụ thu ngoại tệ, dòch vụ kinh doanh, tạo cầu nối cho các
doanh nghiệp trong nước tham gia xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với thò trường
quốc tế.
-Với chính sách thu hút vốn FDI theo các ngành nghề đònh hướng hợp lí, nguồn
vốn FDI sẽ góp phần tích cực chuyển dòch cơ cấu kinh tế của các nước tiếp nhận
vốn theo hướng công nghiệp hoá , hiện đại hoá (CNH-HĐH).
Các nước đang phát triển cũng như chậm phát triển, hầu hết xuất phát điểm của
nền kinh tế rất thấp .Trong cơ cấu của nền kinh tế, tỉ trọng của khu vực nông
nghiệp chiếm tỉ trọng lớn còn khu vực công nghiệp, dòch vụ chiếm tỉ trọng khiêm
tốn hơn .Đầu tư trực tiếp nước ngoài với trình độ khoa học công nghệ và kỹ thuật
cao, công nghiệp phát triển đã góp phần cải thiện cơ cấu nền kinh tế dần dần
tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp và dòch vụ, giảm tỉ trọng khu vực nông nghiệp.
-FDI góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế mà nguồn vốn trong nước
của các quốc gia đang phát triển không đủ khả năng cung ứng .
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
- 9 –
Luận văn thạc só kinh tế
Thật vậy, hiện nay các công ty, tập đoàn 74 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có
trên 80 công ty xuyên quốc gia(TNCs) trong danh sách 500 TNCs hàng đầu thế
giới với công nghệ mới và hiện đại , đã đầu tư vào các ngành công nghiệp quan
trọng tại Việt Nam như dầu khí, viễn thông, ôtô, xe máy, công nghiệp điện tử,
công nghệ thông tin, hoá chất, nước giải khát, ngân hàng, bảo hiểm. Các công
nghệ này đã tạo ra một bước ngoặc quan trọng trong sự phát triển một số ngành
kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Tuy nhiên có thể xảy ra tình trạng là lợi dụng trình độ công nghệ thấp và
quản lí yếu kém của các nước tiếp nhận vốn đầu tư, một số nhà đầu tư nước ngoài
thông qua con đường FDI để tiêu thụ những máy móc, thiết bò lạc hậu, thậm chí
đã bò cấm sử dụng tại nước sở tại .Và thực tế ở nhiều nước trên thế giới, trong đó
có Việt Nam chúng ta khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối tác nước ngoài
đã tranh thủ góp vốn bằng các thiết bò và vật tư lạc hậu, đã qua sử dụng hoặc
nhiều khi đã hết thời hạn thanh lí .Vì vậy các nước tiếp nhận vốn đầu tư cần có
những quy đònh và kiểm soát chặt chẽ để tránh xảy ra các trường hợp đáng tiết
như trên .Nếu không dễ trở thành bãi thải công nghệ và gây thiệt hại to lớn cho
nền kinh tế của quốc gia .
-Thông qua tiếp nhận FDI, các nước tiếp nhận vốn đầu tư có điều kiện thuận lợi
để gắn kết nền kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối, trao đổi
quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các nước này.
Chủ thể chủ yếu của hoạt động FDI trên thế giới hiện nay là các công ty, tập
đoàn xuyên quốc gia với mạng lưới chân rết toàn cầu . Thông qua tiếp nhận
nguồn vốn FDI từ các công ty và tập đoàn này, các nước tiếp nhận vốn đầu tư có
điều kiện thuận lợi để tiếp cận và thâm nhập thò trường quốc tế, mở rộng thò
trường xuất khẩu, làm quen với tập quán thương mại quốc tế, thích nghi nhanh
chóng trên thò trường thế giới. Đó là vai trò làm cầu nối và thúc đẩy quá trình hội
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
- 11 –
Luận văn thạc só kinh tế
kinh doanh tại nước của mình các công ty và các doanh nghiệp này phải tốn một
khoảng chi phí không nhỏ cho vấn đề môi trường .Thế nhưng khi đầu tư vào các
nước đang phát triển, do luật pháp chưa hoàn thiện cũng như không chú ý lắm về
vấn đề môi trường thì họ có thể lách được khoảng chi phí không nhỏ này .
Ngoài ra, do sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển sản xuất,
mức sống và thu nhập … giữa các nước nên đã tạo ra sự chênh lệch về điều kiện
và giá cả các yếu tố đầu vào của sản xuất . Vì vậy, đầu tư ra nước ngoài cho phép
lợi dụng các chênh lệch này để giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận .Trước hết
đó là chi phí về lao động, ví dụ tiền lương của người lao động Nhật gấp hơn 10
lần lương bình quân của lao động một số nước trong khối ASEAN . Chính vì vậy
trong thời gian qua các nước tư bản phát triển và các nước công nghiệp mới đã
chuyển những ngành sử dụng nhiều lao động sang các nước đang phát triển để
giảm chi phí sản xuất .
Việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở các nước sở tại cũng giúp các
chủ đầu tư giảm chi phí vận chuyển hàng hoá, tiết kiệm chi phí quảng cáo, tiếp
thò ….Và do muốn thu được lợi nhuận cao, các nhà đầu tư không ngần ngại bỏ
mặc nạn thất nghiệp ở các nùc phát triển để đầu tư ở những nước có chi phí rẻ
hơn để đạt được lợi nhuận cao hơn .
Bên cạnh đó mục tiêu của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tìm
kiếm nguồn nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, kinh
doanh của các chủ đầu tư .Ví dụ như thăm dò khai thác dầu khí, khoáng sản, tài
nguyên biển, rừng, sản phẩm cây công nghiệp .Bởi vì nguồn tài nguyên của các
nước đang phát triển có nhiều nhưng không có đủ phương tiện kỹ thuật cũng như
tài chính để khai thác, chế biến do thiếu vốn và công nghệ quản lí .
-FDI giúp các chủ đầu tư nước ngoài đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng những
công nghệ mới và nâng cao năng lực cạnh tranh .
cảnh dành riêng cho nhà đầu tư nước ngoài tại sân bay Tân Sơn Nhất . Để đi qua
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
- 13 –
Luận văn thạc só kinh tế
được cửa ưu tiên này, nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần xuất trình thẻ chứng nhận
nhà đầu tư nước ngoài do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ;
-Thành phố đã thành lập Tổ công tác liên ngành có quyền trực tiếp liên hệ, làm
việc với các Sở, Ban ngành chức năng và chính quyền đòa phương các cấp, hiệp
hội doanh nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức khác để yêu cầu phốihợp xử
lý những vướng mắc, kiến nghò của các doanh nghiệp ;
-Hàng năm chính quyền Tp.Hồ Chí Minh tổ chức gặp gỡ các nhà tư vấn nước
ngoài đang hoạt động tại Việt Nam . Họ là những công ty luật, công ty tư vấn đầu
tư, kiểm toán, ngân hàng, công nghệ thông tin …Đây là những ngành tạo kênh
giao tiếp thường xuyên với khách hàng nước ngoài và từ những công ty này
thông tin liên quan đến chính sách hoặc chủ trương của Chính phủ luôn được cập
nhật, cung cấp cho các nhà đầu tư muốn làm ăn tại Việt Nam .
-Khi đầu tư vào Tp Hồ Chí Minh, nhà đầu tư được hưởng những chính sách như họ
được hưởng trong suốt thời gian hoạt động của dự án .Sẽ không có sự thay đổi
trong chính sách đối với họ cho dù quy đònh chung có thay đổi, và sự thay đổi chỉ
xảy ra khi có lợi cho nhà đầu tư và được nhà đầu tư chấp nhận . Điều này thể hiện
tính nhất quán, trước sau như một của các chính sách mà Tp Hồ Chí Minh ban
hành . Ngoài ra chính quyền Tp Hồ Chí Minh bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho
nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động trên đòa bàn thành phố ;
-Trên cơ sở quy hoạch của chính phủ, tình hình kinh tế – xã hội và yêu cầu phát
triển của TP . Tp đã xây dựng chiến lược thu hút vốn ĐTNN trong từng giai đoạn
,và trong mỗi giai đoạn có chiến lược thu hút cụ thể, xúc tiến có trọng điểm từng
thò trường .Chính vì vậy TP Hồ Chí Minh đã thu hút một lượng vốn lớn các thò
trường có nguồn vốn đầu tư lớn với công nghệ và kỹ thuật hiện đại. Các tập đoàn
lớn trên thế giới hầu như đều có mặt tại TP này ;
nước .
Về hỗ trợ nhà đầu tư : Từ trước đến nay, hàng tuần thành phố có các cuộc giao
ban về đầu tư, sắp tới “Tổ xử lý nhanh vướng mắc” với sự tham gia của các ban
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
- 15 –
Luận văn thạc só kinh tế
ngành hoạt động thì những vấn đề phức tạp sẽ giải quyết ngay cho doanh nghiệp,
cho nhà đầu tư . Các nhà đầu tư có dự án dưới 10 triệu USD thuộc quyền cấp
phép của thành phố sẽ có giấy phép sau 5 ngày đăng kí .
1.3.2.Kinh nghiệm của Bình Dương
Bình Dương là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài cả số dự án lẫn số vốn đầu tư . Sở dó có được kết quả này là do
Bình Dương đã làm tốt công tác xúc tiến đầu tư, thực hiện tốt chính sách “trải
chiếu hoa mời đón các nhà đầu tư nước ngoài “ và tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư trước, trong và sau khi cấp giấy phép . Cụ thể là Bình Dương xây
dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt nhất, đáp ứng được những nhu cầu của sản
xuất công nghiệp ; khả năng của tỉnh trong việc giải quyết các thủ tục hành chính
một cách nhanh nhất ; có đội ngũ cán bộ chuyên môn cao ; có nhiều doanh
nghiệp có khả năng tài chính, kinh nghiệm làm ăn sẵn sàng làm đối tác . Hay nói
một cách khác là Bình Dương có một môi trường sản xuất, kinh doanh rất thuận
lợi so với nhiều tỉnh, thành phố khác trong nước mặc dù Bình Dương là tỉnh mới
được chia tách. Bình Dương đã thực hiện các biện pháp sau để thu hút thành công
FDI.
-Đơn giản thủ tục, giảm phiền hà và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư .Bình Dương đã thực hiện các thủ tục thẩm đònh nhanh chóng với quan điểm
cởi mở, thông thoáng, tập trung đầu mối tiếp nhận hồ sơ, giảm phiền hà cho các
doanh nghiệp, tạo được môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư nước
ngoài
-Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp làm thủ tục xuất nhập khẩu,
quan chủ trì cùng các cơ quan có liên quan tự giải quyết với nhau, không để nhà
đầu tư phải đi xin xỏ từng nơi .Việc thu hồi, đền bù, giải toả đất đều do các cấp
chính quyền chòu trách nhiệm . Những dự án lớn, UBND tỉnh chủ trì còn những
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
- 17 –
Luận văn thạc só kinh tế
dự án nhỏ và vừa thì UBND huyện hoặc xã chủ trì .Các nhà đầu tư, các doanh
nghiệp chỉ biết nhận mặt bằng kinh doanh .
1.4 .Các bài học rút ra từ những bài học kinh nghiệm trên
Qua các chính sách và biện pháp của các tỉnh, thành phố trong nước thành công
trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài .Việc rút ra các bài học kinh
nghiệm từ thành công đó giúp cho Tp Đà Nẵng có thể có được những kinh
nghiệm đáng quý giá mà áp dụng linh hoạt và khôn khéo thích hợp với điều kiện
kinh tế xã hội của Tp. Mặc dù chúng ta là một trong những đòa phương thu hút
nhiều nhất về số lượng dự án cũng như số vốn đầu tư trong khu vực miền Trung
và Tây Nguyên, nhưng so với tiềm năng của Tp cũng như so với yêu cầu phát
triển trong thời kì CNH-HĐH thì chúng ta vẫn còn kém so với một số tỉnh, Tp
trong nước .Nhất là các tỉnh, thành phố ở hai đầu đất nước như Tp Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Bình Dương, Hải Phòng…Vì vậy thông qua các kinh nghiệm thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài đã phân tích như trên, có thể rút ra một số bài học kinh
nghiệm cho Tp Đà Nẵng như sau:
-Cần có chiến lược thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong từng giai đoạn
trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế của quốc gia và của đòa phương .Đặc biệt
là xem xét xu hướng vốn đầu tư trong từng giai đoạn để từ đó có sự điều chỉnh
chiến lược thu hút vốn đầu tư và xúc tiến một cách có hiểu quả.Và cũng nên đưa
ra quan điểm cũng như tiêu chí thu hút vốn đầu tư trong mỗi giai đoạn mà vấn đề
này Tp Hồ Chí Minh đã làm rất tốt .
-Tập trung và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn phục vụ cho các
doanh nghiệp trong khu vực này .Cân đối trình độ lao động trong xã hội, tránh
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
- 19 –
Luận văn thạc só kinh tế
Kết luận chương 1:
Trong chương 1, đề tài tập trung trình bày các cơ sở lí luận của đầu tư trực tiếp
nước ngoài .
-Nêu lên khái niệm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài và các loại hình của
đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay ;
-Phân tích các tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước tiếp nhận
đầu tư và nước xuất khẩu vốn đầu tư ;
-Nghiên cứu một số bài học kinh nghiệm của một vài tỉnh, thành phố của Việt
Nam thành công trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài .
Những lí luận cơ bản được phân tích trong chương này có ý nghóa rất quan trọng
để chúng ta có cơ sở phân tích chương 2 về thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài của TP Đà Nẵng .Và những lí luận cơ bản này cũng là nền tảng cho
chúng ta đưa ra các giải pháp để cải thiện tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài của Tp Đà Nẵng trong tương lai .
sách và quan tâm của chính phủ đến khu vực này. Chính vì vậy mà Nghò quyết 33
–NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ chính trò về xây dựng và phát triển Tp Đà
Nẵng và Quyết đònh 148/2004/QĐ-TTG ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính
phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế xã - hội vùng kinh tế trọng
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt
- 21 –
Luận văn thạc só kinh tế
điểm miền Trung đến 2020 xác đònh Đà Nẵng là trung tâm của miền Tung với
vai trò .
¾ Là Trung tâm công nghiệp, thương mại, du lòch và dòch vụ .
Đà Nẵng là trung tâm công nghiệp lớn của khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ
(chiếm 31% giá trò sản xuất công nghiệp toàn vùng năm 2003) và gấp 1,88
lần(năm 2003) so với giá trò sản xuất công nghiệp của vùng Tây Nguyên.Đối với
sản xuất công nghiệp cả nước, đóng góp của công nghiệp Đà Nẵng ngày càng
lớn. Năm 1995, Đà Nẵng chiếm 1,4% giá trò sản xuất công nghiệp của cả nước,
năm 2000 chiếm 1,45% và năm 2003 chiếm 1,58%
Bảng 2.1: Sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Đà Nẵng so với
một số đòa phương trong vùng và Tây Nguyên.
Giá trò sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Đà
Nẵng so với:
Năm
Cả nước
(%)
DHMT
(%)
Tây Nguyên
(Lần)
TT.Huế
(Lần)
3.367.806 4.057.232 4.057.232 5.874.594 7.059.528 8.059.720
Tốc độphát
triểnGTSX
CN(%)
115,88 120,47 118,77 121,91 120,17 114,17
Nguồn: Cục thống kê Đà Nẵng tháng 1 năm 2005.
- Hạ tầng công nghệ thông tin phát triển nhất khu vực miền Trung – Tây Nguyên
. TP đã xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm Công nghệ phần mềm với mục
đích xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin vững mạnh, tiến đến phát triển
ngành công nghiệp phần mềm thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn
của thành phố và khu vực miền Trung – Tây Nguyên .Và Trung tâm này là trung
tâm duy nhất ở miền Trung - Tây Nguyên đào tạo lập trình viên quốc tế.
- Đà Nẵng là trung tâm thương mại lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên
.Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dòch vụ năm 2004 đạt 23.376 tỉ đồng.
Kim ngạch xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên qua các năm với tỉ lệ tăng
trưởng bình quân 15,2%. Kim ngạch xuất khẩu năm 2004 : 310,4triệu USD , tăng
19,02% so với năm 2003, năm 2005 ước đạt 400 triệu USD.
Người thực hiện : Phạm Minh Nhựt