Luận văn: Nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội doc - Pdf 15


Luận văn
Nâng cao hiệu quả xúc tiến
đầu tư nhằm tăng cường thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
địa bàn Hà Nội MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Tổng quan về đầu tư nước ngoài và công tác 3
xúc tiến đầu tư. 3
1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài. 3
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài. 3
1.1.2 Các nhân tố chủ yếu tác động đến thu hút dòng vốn FDI 5
1.1.3 Xu thế vận động của dòng vốn FDI 5
1.1.4 Sự cần thiết thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói chung và
Hà Nội nói riêng 6
1.2 Công tác xúc tiến đầu tư. 6
1.2.1 Khái niệm xúc tiến đầu tư. 6
1.2.2 Nội dung hoạt động xúc tiến đầu tư. 7
1.2.3 Hình thức xúc tiến đầu tư. 10
1.2.4 Vai trò của xúc tiến đầu tư 10
1.2.5 Các nhân tố tác động tới hoạt động xúc tiến đầu tư 12
1.3 Một số kinh nghiệm tuyên truyền, vận động xúc tiến đầu tư của các nước.
15

1.4.3 Về tổ chức xúc tiến đầu tư tại nước ngoài. 53
1.4.4 Công tác nghiên cứu thị trường, đối tác đầu tư 54
1.4.5 Về danh mục dự án kêu gọi đầu tư 54
1.4.6 Cơ chế phối hợp trong công tác xúc tiến đầu tư 55
1.4.7 Bố trí nguồn lực cho công tác đầu tư 56
1.4.8 Cải thiện cơ chế, kỹ thuật xúc tiến đầu tư 57
1.5 Giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài tại Hà Nội 57
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

UBND: Ủy ban nhân dân
ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
XTĐT: Xúc tiến đầu tư


sử dụng có hiệu quả nguồn nội lực sẵn có Hà Nội phải có kế hoạch, chiến lược thu
hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm góp phần phát triển thủ đô mà trên
hết là nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến đầu tư.
Với thực tế khách quan đó em đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Nâng cao hiệu quả
xúc tiến đầu tư nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa
bàn Hà Nội” làm chuyên đề thực tập.

Bố cục bài viết chia làm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài và công tác xúc tiến
đầu tư.
Chương 2: Thực trạng công tác xúc tiến đầu tư tại Hà Nội trong những
năm qua
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến
đầu tư. Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp các thông tin, tài liệu báo cáo
chính thức đã công bố của các tổ chức: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Kế hoạch và
Đầu tư thành phố Hà Nội…về đề tài nghiên cứu.
vay thương mại từ các ngân hàng nước ngoài hoặc thị trường tài chính quốc tế.
Trong các hình thức trên đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng và chiếm
tỷ trọng lớn đặc biệt là trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay nó lại càng trở nên
quan trọng hơn bao giờ hết.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hinh thức vốn
sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu
tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành tổ chức sản xuất nhằm tận dụng
ưu thế về vốn, trình độ công nghệ và năng lực quản lý để tối đa hóa lợi ích của
mình.
Bản chất của FDI càng thể hiện rõ hơn qua việc xem xét nó dưới góc độ nhà
đầu tư, đối với nước tiếp nhận đầu tư và với tư cách là một dòng vốn quốc tế. Vai
trò của FDI có thể rất khác nhau đối với sự phát triển của các nước khác nhau, đối
với từng giai đoạn phát triển khác nhau của một nước. Do vậy mỗi quốc gia tiếp
nhận FDI thường có chiến lược, sách lược, trọng tâm và lộ trình riêng cho việc thu
hút dòng vốn này.
Đặc điểm của FDI:
- Mặt tích cực:
+ FDI không để lại gánh nặng nợ cho chính phủ tiếp nhận đầu tư như ODA
hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, phát hành trái
phiếu ra nước ngoài.
+ Nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn ra khỏi nước sở tại như đầu tư gián tiếp + FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật,
phương thức quản lý tiên tiến cho phép tạo ra những sản phẩm mới mở ra cơ hội
tiếp cận thị trường mới của nước tiếp nhận đầu tư.
+ Thông qua tiếp nhận FDI nước tiếp nhận có điều kiện gắn kết nền kinh tế
trong nước với nền kinh tế khu vực và trên thế giới.
Với những mặt tích cực như vậy các nước trên thế giới đặc biệt là các quốc gia
đang phát triển rất coi trọng hình thức đầu tư này và có nhiều chính sách nhằm kêu

Trên hết và xuyên suốt tất cả các thời kỳ, các quốc gia dù phát triển hay đang
phát triển dù là bên nhận đầu tư hay bên chủ đầu tư thì động lực mạnh mẽ và bao
quát nhất tạo ra và chi phối những dòng FDI chính là lợi nhuận, với khát vọng tìm
kiếm các thị trường đầu tư, thị trường tiêu thụ tránh sự nằm im phi kinh tế của các
luồng vốn nhàn rỗi, tránh những rủi ro kinh tế khi đầu tư tập trung vào một thị
trường (theo phương châm “không để tất cả trứng vào một giỏ”). Nếu không xét đến
khả năng và nhu cầu về vốn đầu tư của cả bên nước chủ đầu tư lẫn bên nước nhận
đầu tư quốc tế và với giả định bối cảnh chung của thế giời ở điều kiện bình thường
cả về tự nhiên và nhân tạo thì có thể nhận thấy dòng vốn đầu tư quốc tế nói chung
vốn FDI nói riêng chỉ thực sự mở rộng và ưa tìm đến những nơi có môi trường đầu
tư đảm bảo cho đồng vốn sinh sôi nảy nở. Thực tiễn cho thấy tiêu chuẩn của môi
trường đầu tư hấp dẫn, có sức cạnh tranh để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
trước hết bao gồm 6 nhân tố: sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội; sự hoàn
chỉnh, hiệu quả của hệ thống pháp luật đầu tư; sự linh hoạt của hệ thống chính sách
đầu tư nước ngoài; sự phát triển của cơ sở hạ tầng; trình độ của đội ngũ lao động,
của khoa học – công nghệ và các doanh nghiệp trong nước; và năng lực của nền
hành chính quốc gia và hiệu quả của dự án FDI đã triển khai.
1.1.3 Xu thế vận động của dòng vốn FDI
FDI phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thương mại thế giới. Toàn
cầu hóa kinh tế thế giới ngày càng thúc đẩy sự phát triển các luồng vốn FDI nhằm
tối đa hóa lợi nhuận của vốn đầu tư thông qua di chuyển sản xuất, kinh doanh đến
địa điểm có lợi về chi phí và tiêu thụ. Sự vận động của FDI biểu hiện trên một số xu
thế sau: Một là, cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng
vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển nhanh và trở thành một hình thái quan trọng
trong hoạt động đầu tư của các quốc gia trên thế giới. Hai là, sự phân bổ dòng vốn
FDI không đều phần lớn vẫn tập trung ở các nước công nghiệp phát triển, dòng vốn
chảy vào các nước đang phát triển thời gian qua có tăng nhưng vẫn chiếm tỷ trọng
nhỏ. Ba là, dòng vốn FDI đang chịu sự chi phối và kiểm soát chủ yếu của các công
ty xuyên quốc gia của những nước phát triển. Bốn là, tính cạnh tranh giữa các nước
tiếp nhận FDI ngày càng gay gắt. Năm là, các nước đều tham gia vào hai quá trình

và thủ đô Hà Nội nói riêng.
1.2 Công tác xúc tiến đầu tư.
1.2.1 Khái niệm xúc tiến đầu tư.
Luật đầu tư 2005 không nêu khái niệm “xúc tiến đầu tư”. Do vậy những người
làm xúc tiến đầu tư thường ngầm hiểu khái niệm xúc tiến đầu tư cũng gần giống
như định nghĩa của Luật Thương mại 2005 về “xúc tiến thương mại”- “là hoạt động
thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ…”. Vậy thì xúc tiến đầu tư là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội đầu tư. Rõ ràng đứng ở một khía cạnh nào
đó định nghĩa này cũng phản ánh bản chất của hoạt động xúc tiến đầu tư.
Công tác xúc tiến đầu tư là hoạt động rất đa dạng và ngày càng trở nên quan
trọng đối với mỗi quốc gia trong hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Công tác xúc tiến đầu tư không chỉ gói gọn là việc mở rộng thị trường trong nước
cho các nhà đầu tư nước ngoài. Xúc tiến đầu tư là một hoạt động kinh tế - xã hội
nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thu hút các nhà đầu tư
trong và ngoài nước đến đất nước mình, địa phương trình để đầu tư.
Như vậy xúc tiến đầu tư là các hoạt động nhằm giới thiệu, quảng cáo cơ hội
đầu tư và hỗ trợ đầu tư của nước chủ nhà. Thực chất của hoạt động này là
Marketing trong thu hút đầu tư mà kết quả thể hiện trực tiếp là nguồn vốn đầu tư.
Các hoạt động này do các cơ quan chức chính phủ, các nhà khoa học, các tổ chức,
các doanh nghiệp…thực hiện dưới nhiều hình thức như các chuyến viếng thăm
ngoại giao cấp Chính phủ, tổ chức các hội thảo khoa học, diễn đàn đầu tư, tham
quan, khảo sát…và qua các phương tiện thông tin đại chúng phù hợp.
Theo nghĩa hẹp công tác xúc tiến đầu tư là những biện pháp thu hút đầu tư
thông qua một số biện pháp tiếp thị tổng hợp của các chiến lược về sản phẩm, xúc
tiến và giá. Một môi trường đầu tư tốt song ít được thế giới biết đến hoặc biết đến
không đầy đủ, sai lệch thì cũng kém thu hút các nhà đầu tư. Xúc tiến đầu tư là hoạt
động được áp dụng khá phổ biến và mang lại hiệu quả cao tại các nước phát triển và
một số nước NICs. Nhiều nước đã có tổ chức xúc tiến thương mại và xúc tiến đầu

hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FDI. Các yếu tố về ngôn ngữ,
tôn giáo, phong tục tập quán, thị hiếu thẩm mỹ, hệ thống giáo dục đạo đức cũng có
tác động không nhỏ tới việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư. Sự bất đồng về ngôn ngữ và
văn hóa trong một số trường hợp đã mang lại những hậu quả không lường trong
kinh doanh. Tâm lý của các nhà đầu tư là không muốn đầu tư vào một quốc gia hay
một địa phương có quá nhiều phong tục tập quán khác nhau, nhiều lễ hội, nhiều
điều kiêng kỵ bởi điều này sẽ khiến cho họ khó hòa nhập và không thuận lợi trong
việc kinh doanh của họ.
 Giới thiệu chính sách ưu đãi mà bên xúc tiến sẽ áp dụng cho các nhà
đầu tư khi thực hiện công cuộc đầu tư: chính sách ưu đãi về thuế (thuế
thu nhập doanh nghiệp), chính sách ưu đãi về đất đai…
Khi quyết định đầu tư vào một quốc gia, một địa phương các nhà đầu tư rất
quan tâm đến các chính sách cũng như các ưu đãi mà mình sẽ được hưởng khi thực
hiện hoạt động đầu tư. Trong thời gian vừa qua không riêng gì Hà Nội mà các địa
phương của nước ta đã đưa ra những chính sách rất hấp dẫn nhằm thu hút các nhà
đầu tư đầu tư vào địa phương mình. Các chính sách đó như: chính sách thuế, chính
sách lệ phí, chính sách quản lý ngoại hối, chính sách về quản lý hoạt động đầu tư,
chính sách đất đai, các chính sách và quy định khác. Chính sách thuế bao gồm các
nội dung liên quan đến các loại thuế, mức thuế, thời gian miễn thuế, thời gian khấu hao và các điều kiện ưu đãi khác. Chính sách lệ phí quy định về các khoản tiền nộp
như phí dịch vụ cấp phép đầu tư, dịch vụ cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông,
thông tin liên lạc ). Ở Việt Nam có thời gian tồn tại chính sách 2 giá làm cho các
nhà đầu tư rất bình bình. Nó thể hiện sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư 2005 có hiệu lực năm 2006 đã có những tín
hiệu rất đáng mừng trong việc rút ngắn khoảng cách, tạo sân chơi bình đẳng giữa
nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư trong nước và nhà đầu
tư nước ngoài đều có những quyền lợi và nghĩa vụ tương đối giống nhau trong hoạt
động đầu tư, sản xuất kinh doanh. Chính sách quản lý ngoại hối bao gồm các quy

15-20% số dự án được các nhà đầu tư quan tâm phản hồi và từ 2-4% số dự án đã đi
đến kết thúc thành công. Còn từ năm 2007 trở lại đây từ Danh mục dự án kêu gọi
đầu tư cả trong và ngoài nước đã có những phản hồi đối với gần 100% dự án trong
Danh mục và nay các cơ quan Thành phố đang phối hợp với các nhà đầu tư triển
khai đầu tư
 Tổ chức, phối hợp tổ chức hội thảo, hội nghị trong và ngoài nước về
xúc tiến đầu tư cho khu vực
1.2.3 Hình thức xúc tiến đầu tư.
Xúc tiến đầu tư có hình thức xúc tiến trực tiếp và xúc tiến gián tiếp. Xúc tiến
đầu tư trực tiếp là xúc tiến đầu tư bằng cách trao đổi và quảng bá các thông tin một
cách trực tiếp cho các nhà đầu tư thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi, các cuộc hội
thảo, hội chợ…
Xúc tiến đầu tư gián tiếp là hình thức xúc tiến thông qua hoạt động trung gian
như kênh thông tin đại chúng để có thể đem tới các nhà đầu tư các thông tin đầy đủ
và chính xác giúp cho các nhà đầu tư tìm thấy các cơ hội để ra quyết định đầu tư.
Đối với hình thức xúc tiến đầu tư trực tiếp bên xúc tiến có thể cung cấp thông
tin một cách đầy đủ, chính xác đến các nhà đầu tư. Các thỏa thuận, hợp đồng được
xúc tiến thành công sẽ được thực hiện nhanh chóng và mang lại hiệu quả. Các kết
quả và hiệu quả xúc tiến sẽ được thể hiện và nhanh chóng qua đó có thể sửa đổi và
điều chỉnh kịp thời. Bên cạnh đó xúc tiến đầu tư trực tiếp có thể giúp các nhà đầu tư
giải đáp được những thắc mắc giúp tiết kiệm thời gian và chi phí trung gian cho nhà
đầu tư khi ra quyết định đầu tư. Tuy nhiên xúc tiến đầu tư theo hình thức trực tiếp
rất tốn kém và khó thực hiện.
1.2.4 Vai trò của xúc tiến đầu tư
- Góp phần thúc đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Xúc tiến đầu tư có vai trò đặc biệt quan trọng nhất là khi chủ đầu tư còn đang
trong giai đoạn tìm hiểu, thăm dò, lựa chọn địa điểm đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu
tư mang đến cho chủ đầu tư những thông tin liên quan đến ý định đầu tư của họ,
giúp các nhà đầu tư có cái nhìn tổng quát, chính xác và kịp thời về quốc gia, địa
phương mà họ định đầu tư để họ có cơ sở cân nhắc và đi đến quyết định cuối cùng.

và khu công nghệ cao. Khu công nghiệp là một khu vực địa lý được phân chia và
phát triển một cách hệ thống, theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp các dịch
vụ kỹ thuật cần thiết, cơ sở hạ tầng phù hợp với sự phát triển của một liên ngành
công nghiệp và sản phẩm không nhất thiết là cứ phải xuất khẩu. Khu công nghệ cao
chủ yếu là để phục vụ các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng những công nghê, dây
chuyền sản xuất hiện đại. - Tạo ra dòng chảy vốn một cách hợp lý, huy động tối đa mọi nguồn lực của
đất nước
- Tạo điều kiện đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước
Có thể nói cơ sở hạ tầng (môi trường đầu tư cứng) có vai trò làm nền móng
cho các hoạt động đầu tư. Nước chủ nhà cần phải chuẩn bị cơ sở hạ tầng tốt trước
khi tiếp nhận đầu tư. Đó là các công việc như xây dựng đường xá giao thông, bến
bãi, nhà ga, hệ thống cung cấp điện nước, thông tin, bưu điện. Chi phí đầu tư cho cơ
sở hạ tầng là rất lớn, vì vậy khi đầu tư ra nước ngoài thì các nhà đầu tư luôn quan
tâm đến chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng - điều kiện quyết định hiệu quả đầu tư
của họ. Ở những nước đang phát triển, các nhà đầu tư thường tập trung đầu tư vào
những vùng miền có chất lượng cơ sở hạ tầng tốt, điều này sẽ giúp nhà đầu tư giảm
được chi phí.
- Mở ra cơ hội hội nhập kinh tế thế giới nâng cao vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế.
Xúc tiến đầu tư là hoạt động quảng bá hình ảnh Việt Nam với các nhà đầu tư,
bạn bè trong khu vực và trên thế giới. Rất nhiều cuộc hội thảo, cuộc xúc tiến đầu tư
nước ngoài được tổ chức với sự quan tâm của đông đảo các nhà đầu tư. Điều này
cho thấy Việt Nam là điểm đến đáng chú ý của nhiều nhà đầu tư, điều này cũng tạo
điều kiện cho Việt Nam hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế trong khu vực cũng
như trên thế giới. Hình ảnh của Việt Nam trong lòng bạn bè thế giới va các nhà đầu
tư được nâng lên với Việt Nam là một địa điểm có môi trường đầu tư tốt, khá thuận

tư, chính sách, chế độ đãi ngộ, các yêu cầu thủ tục…của địa phương hay quốc gia
mà các nhà đầu tư muốn đầu tư. Các hoạt động tạo dựng hình ảnh rất phong phú và
đa dạng như in ấn và phát hành các ấn phẩm, sách báo, tạp chí, đĩa, tờ rơi…tổ chức
các buổi hội thảo, tiến hành các hoạt động PR và quảng cáo. Sau bước tạo dựng
hình ảnh là tập trung vận động các nhà đầu tư có tiềm năng và cung cấp các dịch vụ
đầu tư. Ba hoạt động này không thể tách rời và chúng được thực hiện tuần tự hay
đan xen nhau nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư.
+ Tập trung vận động các nhà đầu tư tiềm năng
Khâu này đòi hởi phải sử dụng đến các công cụ như thư từ, điện thoại, các
cuộc gặp gỡ, hội thảo tiến hành marketing trực tiếp đến các nhà đầu tư. Những hoạt
động này có thể được thực hiện nhằm vào các đối tượng trong và ngoài nước.
+ Cung cấp các dịch vụ đầu tư
Đa số các nhà đầu tư đều khẳng định rằng thỏa mãn yêu cầu của các nhà đầu
tư chính là phương thức Marketing hữu hiệu nhất. Dịch vụ đầu tư bắt đầu từ thời
điểm nhà đầu tư tiềm năng tới thăm địa điểm xúc tiến đầu tư và tiếp tục trong suốt
thời gian thực hiện dự án. Dịch vụ đầu tư không dừng lại ở thời điểm dự án được
cấp phép. Dịch vụ trước cấp phép:
Các dịch vụ trước cấp phép chủ yếu liên quan tới việc tổ chức các cuộc viếng
thăm tới các địa điểm đầu tư, cung cấp các thông tin cần thiết để lựa chọn địa điểm
và giúp đỡ các nhà đầu tư chuẩn bị thủ tục đăng ký đầu tư. Ấn tượng đầu tiên bao
giờ cũng rất quan trọng nên việc các nhà đầu tư có trở lại lần thứ hai hay không phụ
thuộc rất nhiều vào cuộc viếng thăm lần đầu. Để thực hiện tốt các công việc cho
một chuyến viếng thăm thành công đôi khi cần sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan
xúc tiến đầu tư quốc gia và các cơ quan xúc tiến đầu tư địa phương. Việc đào tạo và
nâng cao kỹ năng Marketing là rất quan trọng để có thể trang bị cho các cán bộ dự
án đầy đủ kỹ năng cần thiết cho việc tổ chức một chương trình thành công.
Dịch vụ cấp phép:

nên thành công của hoạt động xúc tiến đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu tư thành công
sẽ đưa lại kỳ vọng tốt cho thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.3 Một số kinh nghiệm tuyên truyền, vận động xúc tiến đầu tư của các
nước.
Một số kinh nghiệm của Chính phủ Nhật Bản về xúc tiến đầu tư. Chính phủ
Nhật Bản mở các cơ quan đại diện của Chính phủ ở nước ngoài giúp các doanh
nghiệp trong nước tổ chức các triển lãm và tham gia hội chợ ở nước ngoài. Năm
1954 thành lập tổ chức ngoại thương Nhật Bản (JETRO) hoạt động phi lợi nhuận, là
cơ quan chính thức của nhà nước thực thi chính sách thương mại của Nhật Bản đối
với nước ngoài từ đó tới nay. JETRO đã phát triển thành một tổ chức hoàn chỉnh và
hiện đại có trụ sở chính tại Tokyo, 36 văn phòng trên lãnh thổ Nhật Bản và 80 văn
phòng đại diện tại 58 quốc gia trên Thế giới. Nhiệm vụ của JETRO là nghiên cứu,
cung cấp thông tin thị trường, tổ chức các hội trợ và tham gia hội trợ thương mại
quốc tế, cung cấp các dịch vụ tư vấn thương mại và đầu tư cho các doanh nghiệp.
Một số kinh nghiệm của Hàn Quốc về xúc tiến đầu tư. Năm 1962 thành lập tổ
chức xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại Hàn Quốc (KOTRA) với hia chức năng
chính là xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại. Đối với việc vận động xúc tiến đầu
tư của Hàn Quốc thì phương châm là luôn luôn đảm bảo cho các nhà đầu tư nước
ngoài có được lợi nhuận ở mức thỏa đáng, mở rộng phạm vi đầu tư với nhiều ưu
đãi. Thể hiện tại Luật xúc tiến đầu tư mới năm 1998 đã dành cho các nhà đầu tư
nước ngoài quy chế đãi ngộ quốc gia, giảm thiểu thủ tục đầu tư, thay thế chế độ cấp
phép bằng chế độ thông báo và đăng ký đầu tư, thực hiện cơ chế một cửa giảm các
ngành nghề hạn chế đầu tư nước ngoài. Để đảm bảo cho các doanh nghiệp hoạt
động thuận lợi Chính phủ ngày càng chủ động sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô,
nhất là thuế suất và lãi suất. Thực hiện hiện đại hóa chính phủ theo chế độ viên chức
phương Tây đồng thời giành cho các kkhu công nghiệp các cơ chế ưu đãi để thu hút
các nhà đầu tư. Hàn Quốc cũng chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực
hiện tốt dự báo trước nhu cầu sử dụng nguồn lao động chủ động mở rộng đào tạo
lao động có tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu xã hội. Việc tuyên truyền, vận động xúc


với các tỉnh Thái Nguyên, Hưng Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc
và Hòa Bình. Ngoài các con sông lớn chảy qua như sông Hồng và sông Đuống, Hà
Nội còn có các sông nhỏ như: sông Nhuệ, Kim Ngưu…Hà Nội có rất nhiều hồ lớn
nhỏ. Nguồn nước mặt nước ngầm của Hà Nội là khá dồi dào, chất lượng tốt đảm
bảo cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp cũng như nông nghiệp.
Các điều kiện về vị trí địa lý, các yếu tố tự nhiên có liên quan đến việc lực
chọn lĩnh vực để đầu tư cũng như khả năng sinh lời của dự án. Hà Nội có vị trí
thuận lợi, khí hậu tương đối thuận lợi không ảnh hưởng nhiều tới tuổi thọ của các
máy móc đến từ các nước khác.
Hệ thống điện ổn định, gần nhà máy điện Hòa Bình và nhà máy nhiệt điện Phả
Lại, mạng lưới điện rộng khắp được nâng cấp và bảo dưỡng thường xuyên đảm bảo
cunga cấp điện liên tục và ổn định phục vụ sinh hoạt của nhân dân cũng như phục
vụ sản xuất. Bên cạnh hệ thống điện thì hệ thống thông tin liên lạ cũng được trang
bị hiện đại và được hòa mạng với hệ thống viến thông toàn cầu phục vụ nhu cầu
giải trí và liên lạc cũng như công việc của thành phố.
Hà Nội có hệ thống giao thông khá phát triển, các loại hình giao thông như
đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không đồng bộ đã tạo nên mạng
lưới giao thông rộng khắp ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nối liền các tỉnh các
địa phương trong cả nước và trên thế giới. Nếu chất lượng dịch vụ cơ sở hạ tầng
kém ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành các hoạt động sản xuất và kinh doanh cũng
như đời sống của các nhà đầu tư nước ngoài. Điều đó dẫn đến chi phí sản xuất tăng
và chất lượng sản phẩm không cao. Hiện nay giao thông Hà Nội đang trong từng
bước hoàn thiện tạo được nhiều ấn tượng cho các nhà đầu tư quốc tế, do vậy nó ảnh
hưởng tới việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hà Nội còn là nơi tập trung các cơ quan đầu mối quan trọng của quốc gia như
các cơ quan của Chính phủ, đại diện các Sở ban ngành, các cơ quan ngoại giao, các
văn phòng đại diện của các tổ chức quốc tế. Do vậy Hà Nội rất có lợi thế rất lớn
trong hợp tác quốc tế và phát triển kinh tế đối ngoại.
làng nghề truyền thống với những sản phẩm hết sức độc đáo và có giá trị đem lại
hiệu quả kinh tế cao.
Như vậy có thể nói Hà Nội là một địa chỉ khá hấp dẫn cho các nhà đầu tư khi
quyết định đầu tư vào Việt Nam với nhiều điều kiện thuận lơi cả về đầu vào lẫn đầu
ra. Tuy nhiên hòa theo xu thế chúng của cả nước quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa thủ đô đòi hỏi cần có một khối lượng vốn khổng lồ mà nếu chỉ dựa vào các
nguồn vốn trong nước thì không đủ. Hà Nội cần tập trung và khai thác có hiệu quả
các nguồn vốn bên ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế trong đó FDI
đóng một vai trò khá quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn. Thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài sẽ tạo động lực để phát triển kinh tế thủ đô, giúp Hà Nội trở thành trung
tâm kinh tế ngày càng có uy tín không chỉ trong nước mà còn trong khu vực và trên
thế giới, là địa chỉ mà các nhà đầu tư muốn hướng tới khi quyết định đầu tư ra nước
ngoài. Có như vậy Hà Nội mới nhanh chóng đat được mục tiêu kinh tế xã hội đã đề
ra. Muốn làm được điều đó công tác xúc tiến đầu tư phải đi trước một bước góp
phần vòa việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh về thủ đô Hà Nội với bạn bè và các nhà
đầu tư trên khắp thế giới. Một cái nhìn toàn diện, khách quan và kịp thời về môi
trường đầu tư, hành lang pháp lý về những thuận lợi mà các nhà đầu tư nhận được
khi quyết định đầu tư vào Hà Nội.
1.2 Thực trạng công tác xúc tiến đầu tư tại thủ đô Hà Nội trong những
năm qua
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của công tác xúc tiến đầu tư
Trong những năm qua công tác XTĐT ngoài do Bộ, ngành và địa phương thực
hiện đã có tác động tích cực trong việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Công tác xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ
tập trung ở Bộ Kế hoạch và đầu tư mà được phân cấp về các địa phương phối hợp
cùng thực hiện và Hà Nội là một trong những địa phương thực hiện công tác này rất tốt
đem lại hiệu quả tích cực trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Góp phần quan
trọng vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cầu với hội nhập kinh tế quốc tế.

sự thông thoáng để hấp dẫn các nhà đầu tư, tính cạnh tranh kém so với một số nước
trong khu vực nhất là Trung Quốc.
Trước đây công tác xúc tiến đầu tư trên địa bàn thành phố không được quy về
một mối, hoạt động xúc tiến đầu tư còn thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu mục tiêu dài
hạn, còn dàn trải, chưa tập trung vào một số ngành, lĩnh vực và đối tác tiềm năng.
Các phòng ban hoạt động độc lập, riêng rẽ không liên kết với nhau nên hiệu quả vận
động thu hút các nguồn vốn nước ngoài vào Hà Nội chưa thực sự đem lại hiệu quả
như mong muốn.
Trước tình hình đó, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc thống
nhất hoạt động xúc tiến đầu tư của thành phố đặc biệt là đẩy mạnh công tác thu hút
các nguồn vốn đầu tư quốc tế trong phát triển kinh tế, đồng thời đưa công tác xúc
tiến đầu tư trở thành một trong những công tác trọng tâm và mang tính chuyên nghiệp, ngày 22/11/2007 UBND thành phố Hà Nội đã ký Quyết định số 4676/QĐ-
UBND thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư thành
phố Hà Nội. Sau khi trung tâm được thành lập, trong bối cảnh tình hình kinh tế thế
giới có nhiều biến động các quốc gia đang cạnh tranh gay gắt nhằm thu hút nhiều
hơn vốn đầu tư, ngày 28/03/2008 UBND thành phố Hà Nội ký chương trình 34/Ctr-
UBND về xúc tiến đầu tư của thành phố Hà Nội giai đoạn 2008-210 định hướng
đến năm 2015. Như vậy công tác xúc tiến đầu tư của thành phố đã tập trung về một
mối có chương trình xúc tiến mang tính dài hạn và chuyên nghiệp hơn.
Tuy nhiên năm 2008 là năm Hà Nội có sự thay đổi lớn tác động sâu rộng đến
quản lý và phát triển của Thủ đô ngày 29/05/2008 Quốc hội ban hành Nghị quyết số
15/2008/NQ-QH11 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội bao
gồm toàn bộ diện tích của Hà Tây và một số tỉnh có liên quan. Theo đó từ ngày
1/08/2008 Thủ đô Hà Nội đã mở rộng diện tích tự nhiên khoảng 3.400km2 với dân
số khoảng 6,3 triệu người. Trên cơ sở sự thay đổi đó, Hà Nội đã và đang tích cực nỗ
lực hơn nữa nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường hoạt động xúc tiến đầu
tư kêu gọi mọi nguồn vốn đầu tư phát triển từ mọi thành phần kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status