Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 1 LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghóa chọn đề tài nghiên cứu
Thứ trưởng Bộ tài chính Lê Thò Băng Tâm đã khẳng đònh trong cuộc đối thoại giữa
Bộ tài chính với các nhà đầu tư nước ngoài tại Hà Nội ngày 20/7/1999: “ Đầu tư trực tiếp
nước ngoài tạo ra gần 9% GDP, đóng góp gần 8% nguồn thu từ thuế và lệ phí của ngân
sách Nhà nước, chiếm gần ¼ kim ngạch xuất khẩu của cả nước và 30% tổng giá trò sản
lượng công nghiệp, tạo việc làm cho trên 280.000 lao động. Các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài đã khẳng đònh vò trí ngày càng quan trọng trong sự nghiệp Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa của Việt Nam”. Tuy nhiên, trong mấy năm trở lại đây, do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan, tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
đang giảm xuống một cách nghiêm trọng.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước, là đòa phương
luôn dẫn đầu trong cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 15 năm qua,
chiếm gần 1/3 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Nhưng tốc độ đầu tư trực tiếp
nước ngoài của thành phố đang chậm lại. Chính vì vậy, trước mắt và về lâu dài, việc đề
xuất ra những giải pháp nhằm tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đòa bàn thành
phố Hồ Chí Minh cũng chính là tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho cả nước và tạo
nên một lực đẩy cho nền kinh tế phát triển.
Do đó, luận án “Một số giải pháp tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh” được hình thành xuất phát từ những lý do nêu trên.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố.
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đòa bàn
thành phố.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đòa
bàn thành phố Hồ Chí Minh.
kinh tế đối ngoại này.
- Đưa ra những đề xuất và kiến nghò mang tính khả thi nhằm nâng cao khả năng thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố trong thời gian tới.
6. Nội dung nghiên cứu đề tài
Đề tài được chia thành 3 chương có liên quan chặt chẽ với nhau.
Chương 1 : VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI, sẽ làm rõ
những vai trò mà đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại cho cả chủ đầu tư và nước tiếp nhận
đầu tư, đồng thời khái quát một số nét về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Chương 2 : TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH, chương này nêu lên thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và phân
tích hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại cho nền kinh tế thành phố.
Chương 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, chương này đưa ra
những giải pháp và kiến nghò để giải quyết những tồn tại nhằm tăng khả năng thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài trên đòa bàn thành phố. Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 3
CHƯƠNG 1
VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Khái niệm
Đặc điểm của hình thức đầu tư này là:
- Các bên Việt Nam và bên nước ngoài cùng nhau hợp tác kinh doanh, trên cơ sở
văn bản hợp đồng đã ký giữa các bên về: việc phân đònh trách nhiệm, quyền lợi,
nghóa vụ.
- Không thành lập một pháp nhân mới, tức là không cho ra đời Công ty, xí nghiệp mới.
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 4
- Vấn đề vốn kinh doanh có thể được đề cập hoặc không nhất thiết được đề cập
tới trong văn bản hợp đồng hợp tác kinh doanh.
1.1.3.2 Doanh nghiệp liên doanh
Là doanh nghiệp được thành lập giữa một bên là Việt Nam và bên kia là các bên
nước ngoài tham gia đầu tư liên doanh (có thể hai bên hoặc nhiều bên tham gia liên doanh).
Đặc điểm của hình thức liên doanh:
- Cho ra đời một xí nghiệp hoặc công ty mới, với tư cách pháp nhân Việt Nam và
được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Các doanh nghiệp liên doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính.
- Vốn pháp đònh do các bên đóng góp tối thiểu bằng 30% tổng số vốn đầu tư.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp liên doanh không được giảm vốn pháp
đònh.Việc tăng vốn do các bên liên doanh thoả thuận. Vốn pháp đònh có thể góp
trọn một lần khi thành lập liên doanh hoặc từng phần trong một thời gian hợp lý
do các bên thoả thuận.
- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của liên doanh là Hội đồng quản trò, có thẩm quyền
quyết đònh các vấn đề quan trọng.Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc
chòu trách nhiệm quản lý và điều hành công việc hàng ngày của liên doanh. Nếu
Tổng giám đốc là người nước ngoài thì Phó Tổng giám đốc thứ nhất phải là công
dân Việt Nam và sinh sống tại Việt Nam.
- Một đơn vò liên doanh có thể tham gia vốn để thành lập một liên doanh khác với
nước ngoài. Trong liên doanh mới này, phải có sự tham gia ít nhất của hai thành
viên thuộc liên doanh cũ, trong Hội đồng quản trò, và một trong hai thành viên
đó phải là người có quốc tòch Việt Nam.
- Đơn vò tổ chức khai thác khu chế xuất là một doanh nghiệp bỏ vốn kinh doanh hạ
tầng cơ sở và các dòch vụ phục vụ cho các nhà máy xí nghiệp hoạt động trong khu
chế xuất.
- Khu chế xuất được qui hoạch tách khỏi phần nội đòa bởi một tường rào bao bọc.
- Hàng hoá nhập khẩu phục vụ cho sản xuất kinh doanh của khu chế xuất hoặc hàng
hoá của khu chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài được miễn thuất xuất nhập khẩu.
- Hàng hoá ra vào khu chế xuất, kể cả lưu thông với nội đòa phải chòu sự kiểm soát
của Hải quan.
- Trong khu chế xuất không có hoạt động sản xuất nông nghiệp và không có dân cư
sinh sống.
1.1.3.6 Hình thức phát triển khu công nghiệp
Là khu do Chính phủ Việt Nam quyết đònh thành lập, có ranh giới đòa lý xác đònh,
chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dòch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có
dân cư sinh sống.
Đặc điểm của khu công nghiệp:
- Đây là khu vực được qui hoạch riêng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào
hoạt động để sản xuất, chế biến hàng công nghiệp.
- Hàng hoá của khu công nghiệp không những phục vụ cho xuất khẩu mà còn phục vụ
cho những nhu cầu của nội đòa.
- Hàng hoá nhập khẩu vào khu công nghiệp và từ đây xuất khẩu ra nước ngoài phải
nộp thuế xuất nhập khẩu theo luật hiện hành( trừ khu chế xuất và xí nghiệp chế xuất
hoạt động trong khu công nghiệp).
1.2 VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến hai bên : bên xuất khẩu vốn đầu
tư và bên nhập khẩu vốn đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đều có những vai trò to lớn
đối với cả hai bên. Dưới đây sẽ phân tích các vai trò này:
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 6
1.2.1 Đối với nước xuất khẩu vốn
nghiên cứu cơ bản. Những khoản chi phí nói trên cuối cùng sẽ được phân bổ vào chi
phí sản xuất và kết quả là doanh lợi có xu hướng giảm.
- Bên cạnh đó, xuất phát từ những quan ngại về sự xuống cấp của chất lượng môi
trường, mà nguyên nhân chủ yếu do bởi những hoạt động kinh tế của con người, dư
luận và các phong trào đấu tranh xã hội đã buộc chính phủ đẩy mạnh các biện pháp
cưỡng chế các doanh nghiệp quan tâm thích đáng đến sự an toàn của môi trường
sinh thái. Các biện pháp này bao gồm: tăng thuế tài nguyên và xử phạt hành chính
về các vi phạm tiêu chuẩn an toàn, yêu cầu lắp đặt các thiết bò xử lý chất thải công
nghiệp và thay thế chất liệu sử dụng có mức độ độc hại ít hơn. Tình hình nói trên
đã buộc các doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản đầu tư bổ sung và cấu thành một
bộ phận chi phí mà họ phải gánh chòu.
- Ngoài ra, với sức sản xuất và tiêu thụ ngày càng mở rộng, trữ lượng các nguồn tài
nguyên dùng cho sản xuất sẽ cạn kiệt dần, sự khan hiếm tài nguyên tất yếu dẫn
đến chi phí sử dụng mỗi yếu tố đầu vào đắt đỏ hơn so với trước.
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 7
* Đối với nhóm đầu tư thuộc V
Tiền lương là bộ phận chi phí quan trọng đang có xu hướng tăng không ngừng tại
các nước phát triển. Càng ngày các chủ doanh nghiệp phải trả nhiều tiền hơn cho việc
tuyển dụng và đào tạo lao động. Ở Anh quốc, trong lónh vực chế tạo; chỉ số tiền công theo
tuần từ năm 1971 đến năm 1981 tăng gần 5 lần và chỉ số bán lẻ cũng tăng gần 5 lần
(1)
.
Ngay tại các nước mới được Công nghiệp hóa như Hàn Quốc, Singapore hoặc tại
các nước Châu Á đã từng là nơi vốn có tiền lương thấp, cũng đã bộc lộ xu hướng giảm dần
lợi thế giá nhân công rẻ.
Tình trạng tiền lương có xu hướng tăng không ngừng tại các nước kinh tế phát
triển bắt nguồn từ những lý do sau đây:
- Sự mở rộng mau lẹ của các lónh vực sản xuất kinh doanh, nguyên nhân và kết quả
của tăng trưởng kinh tế, đã dẫn đến mức cầu lao động tăng nhanh, đặc biệt là cầu
(2)
.
(1)
Nguồn: Christopher, St., JYates: “Economics” Cassell Publishers Ltd, London 1989.
(2)
Mai Đức Lộc - Tạp chí Kinh tế Thế giới, số 5-10/1994.
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 8
Sự chênh lệch ở mức độ lớn giữa chi phí sản xuất trong nước và chi phí sản xuất
ngồi nước thể hiện ở mỗi khoản mục chi phí chính là nguồn gốc tạo nên những khoản lợi
nhuận khổng lồ cho nhà đầu tư. Cụ thể, khi xúc tiến đầu tư tại nước ngoài, nhất là tại các
nước đang phát triển, các nhà đầu tư tại các nước công nghiệp phát triển đã có thể:
+ Khai thác lợi thế giá nhân công rẻ mạt tại môi trường đầu tư nước ngoài. Theo
thống kê của Liên Hiệp Quốc, tiền lương của các nước đang phát triển chỉ bằng 1/15 - 1/10
tiền lương cùng ngành nghề tại các nước công nghiệp phát triển. Cụ thể, tiền công theo giờ
của công nhân các nước ASEAN làm việc trong chi nhánh các công ty xuyên quốc gia
(TNCs: Transnational companies) Mỹ thuộc ngành công nghiệp chế biến trung bình là
0,872USD, trong khi tiền công trung bình cùng ngành ở Mỹ là 11,3 USD, còn ở Đức là
9,09USD
(3)
. Như vậy chỉ riêng yếu tố C trong cơ cấu (C + V) của ngành này trung bình
giảm 10 lần.
+ Việc xúc tiến đầu tư ra nước ngoài còn cho phép các công ty tiết kiệm những
khoản đầu tư lớn cho vốn vấn đề bảo vệ môi sinh mà theo yêu cầu của luật pháp trong
nước họ phải bỏ ra.
Thông thường, do nhận thức chưa đầy đủ hoặc để hấp dẫn các nhà đầu tư nước
ngoài, các quốc gia đang phát triển thường có quan điểm dễ dãi và nới lỏng các biện pháp
quản lý môi trường. Đây là một cơ hội tốt để các nhà đầu tư ngoại quốc có thể du nhập
những loại công nghệ rẻ tiền đã bò cấm sử dụng trong nước vào các nước tiếp nhận đầu tư.
chế ưu đãi mậu dòch đối với quốc gia họ.
Việc tiết giảm các loại chi phí nói trên có ý nghóa rất lớn đối với sản xuất - kinh
doanh: nó sẽ tạo thêm lợi thế cạnh tranh bằng giá trên thò trường để mở rộng thò phần và
lượng cầu. Hoặc nếu giá bán không đổi, mức giảm chi phí được chuyển thành mức lợi
nhuận tăng lên tương ứng.
1.2.1.3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện cho các nhà đầu tư kiểm soát và ổn
đònh hóa các nguồn nguyên liệu, đặc biệt các loại nguyên liệu có tầm chiến lược
Tại các nước công nghiệp hàng đầu với quá trình phát triển đã mấy trăm năm, cộng
với nhu cầu tiêu dùng nội đòa và xuất khẩu đang tăng lên nhanh chóng, đã làm cho các
nguồn cung cấp nguyên liệu từ trong nước ngày càng trở nên khan hiếm, cạn kiệt dần và
không còn đáp ứng đủ về mặt số lượng cũng như chủng loại cho sức sản xuất đã và đang
phát triển ở quy mô chưa từng thấy. Do đó, những nỗ lực nhằm mở rộng nguồn cung từ bên
ngoài chính là để bù đắp cho sự thiếu hụt này và thường được tiến hành theo 3 cách:
- Nhập khẩu nguyên liệu.
- Đầu tư khai thác nguyên liệu sau đó vận chuyển về chính quốc rồi tiếp tục quá trình
chế biến.
- Tổ chức khai thác và chế biến tại chỗ.
Tuy nhiên, do chi phí vận chuyển ngày càng trở nên đắt đỏ, và môi trường sản xuất
trong nước ngày càng trở nên bất lợi (chi phí nhân công cao, đồng tiền tăng giá ), vì vậy
các nhà đầu tư có khuynh hướng nghiêng về phương cách thứ ba: phát triển nguồn cung và
tổ chức sản xuất - kinh doanh tại chỗ thông qua phát triển mạng lưới chi nhánh, thành lập
các công ty con hay liên doanh với các đối tác đòa phương. Do sự thâm nhập sâu và hiện
diện thường xuyên tại đòa bàn đầu tư, cũng như có những mối quan hệ gắn bó về mặt tổ
chức với nước sở tại, nhà đầu tư nước ngoài có một số lợi ích :
- Duy trì được sự ổn đònh và lâu dài các nguồn cung ứng.
- Khai thác lợi thế tại chỗ (nhân công, vận chuyển )
- Giá thu mua tại chỗ thường rẻ hơn so với giá mua - bán trên thò trường thế giới nhờ
hưởng những ưu đãi của nước chủ nhà.
Theo phương án này, các công ty của Nhật, theo một cuộc điều tra vào năm 1991 đã
đảm bảo 53% tổng số vật tư nguyên liệu cần cho sản xuất của mình tại đòa phương, còn
phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản đã chiếm 43,2% nguồn cung cấp vốn ODA cho
các nước Châu Á, riêng năm 1990 nguồn vốn ODA của Nhật cung cấp cho các nước Châu
Á là 8,9 tỷ USD, chiếm 62,9% tổng số vốn ODA của Nhật Bản ra nước ngoài. Trong khi
đó, tỷ lệ đầu tư trực tiếp của Nhật vào khu vực đã tăng từ 12,2% năm 1990 lên 14,3% năm
1992. Cũng cùng thời gian tương ứng, đầu tư của Nhật vào Mỹ giảm từ 48,2% xuống còn
43,2%. Xuất khẩu cũng đã có sự chuyển dòch đáng kể về mặt đòa bàn, chỉ tính riêng trong
năm 1992, xuất khẩu của Nhật sang Mỹ và Châu Âu tăng trưởng 5% thì ở thò trường Châu
Á tăng đến 11% so với 1991.
(5)
Ví dụ trên chứng tỏ rằng đầu tư quốc tế, dù là của chính phủ hay là của tư nhân đều
là mỗi bộ phận của một chính sách đối ngoại nhất quán, phục vụ cho các mục tiêu kinh tế -
chính trò quốc tế của nước đầu tư, duy trì sự lệ thuộc toàn diện của nước tiếp nhận đầu tư
vào nước đầu tư; biến các nước nhận đầu tư thành căn cứ quân sự, thò trường tiêu thụ sản
phẩm thặng dư và đòa bàn phục vụ quá trình cải tổ cơ cấu kinh tế trong nước; truyền bá văn
hóa, tư tưởng và tạo ảnh hưởng chính trò. Và để đạt mục tiêu này, đầu tư chính phủ đóng
vai trò dẫn đạo, đònh hướng cho đầu tư tư nhân và ngược lại, xu hướng vận động của đầu tư
tư nhân là nền tảng cho sự hỗ trợ của chính sách đối ngoại về kinh tế của chính phủ nhằm
đạt đến lợi ích kinh tế - chính trò cao nhất cho nước đầu tư.
1.2.1.5 Đầu tư ra nước ngoài giúp đối phó với tình trạng bản tệ tăng giá nhằm duy
trì hiệu quả kinh doanh
Hiện nay nâng giá bản tệ sẽ làm suy giảm lợi ích thu được trong hoạt động xuất
khẩu và lợi thế cạnh tranh của hàng sản xuất trong nước so với hàng nhập khẩu. Trong
trường hợp này, chuyển dòch các yếu tố sản xuất kinh doanh từ trong nước sang các nước có
đồng tiền yếu là phương cách tốt để tiếp tục duy trì hiệu quả xuất khẩu (sang nước thứ ba)
và lợi thế cạnh tranh của hàng hóa tiêu thụ nội đòa (sản xuất ở nước ngoài sau đó tái nhập).
Bằng cách đầu tư trực tiếp ở các nước có giá trò bản tệ thấp, nhà đầu tư nước ngoài
có thể lợi dụng giá cả còn tương đối rẻ của các yếu tố đầu vào: với cùng một số tiền, họ có
thể mua sắm nhiều đơn vò hàng hóa hơn so với trong nước, hay nói cách khác, chi phí sản
xuất sẽ thấp hơn.
Nguồn vốn nội đòa không đủ đáp ứng; trang trải cho nhu cầu đầu tư để tăng trưởng kinh tế
nhanh chóng.
Thật vậy, giả sử một nước kém phát triển nào đó đặt ra mục tiêu tăng trưởng là
9%/năm và hệ số ICOR (Inerememtal capital - Output Ratio: tỷ suất tăng vốn - xuất
lượng) đối với họ là 3, thì theo mối quan hệ giữa các đại lượng trong mô hình tăng trưởng
Harrod - Domar:
G = S/K
G : tốc độ tăng trưởng kinh tế
S : tỷ lệ vốn đầu tư trong GDP
K : hệ số ICOR
Với giả thuyết trên, nếu quốc gia đó chỉ sử dụng nguồn vốn tự tiết kiệm để đầu tư
thì họ phải có mức tích luỹ nội bộ là :
S = K × G
= 3 × 9% = 27% GDP
Trên thực tế, mức tích luỹ 27% GDP đối với các nước kém phát triển là một điều hy
hữu. Việt Nam chúng ta bây giờ cũng đang ở trong tình trạng như một số nước đang phát
triển đầu thập niên 60. Với mức tiết kiệm và đầu tư yếu kém như vậy, cho nên chẳng lấy gì
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 12
làm lạ khi tăng trưởng GDP ở các quốc gia này rất thấp: trung bình 3,7%/năm thời kỳ 1965
- 1973 và 3,3%/năm thời kỳ 1973-1983
(6)
Tăng trưởng kinh tế thấp, thêm vào đó là sự gia tăng dân số nhanh đã làm cho thu
nhập bình quân của mỗi người dân tăng chậm, hoặc không tăng, thậm chí giảm đi, sẽ cản
trở sự gia tăng tiết kiệm và đầu tư cho mục tiêu tăng trương kinh tế cao và nếu các nước
kém phát triển cứ đi theo mô hình khép kín thì sẽ bò nằm trong cái vòng luẩn quẩn của sự
phát triển:
Sơ đồ vòng luẩn quẩn
móc thiết bò cho mục tiêu phát triển kinh tế được thực hiện. (6)
Báo cáo phát triển Thế giới 1985. WB. New York-1986
Thu nhập thấp
Năng suất thấp
Tăng trưởng chậm Tích lũy và đầu tư
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 13
1.2.2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp tiếp nhận công nghệ tiên tiến, kinh
nghiệm quản lý và trình độ kinh doanh
* Vai trò của công nghệ
Trong thời đại ngày nay, với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp, hầu như không
còn ai nghi ngờ vai trò của khoa học kỹ thuật nói chung và công nghệ nói riêng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội.
Ở cấp độ vó mô, kiến thức khoa học và các yếu tố kỹ thuật được phổ cập rộng rãi, sẽ
góp phần đáng kể cho sự thay đổi diện mạo của nền kinh tế :
- Trước hết, công nghệ tiên tiến và sử dụng có hiệu quả là nhân tố cơ bản của tăng
năng suất lao động xã hội và thông qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Thứ hai, công nghệ mới cho phép sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh
tế : tiết kiệm lao động sống và lao động vật hóa, tối đa hóa lợi ích trên mỗi đơn vò
tài nguyên, bảo tồn môi trường sinh thái.
- Thứ ba, phạm vi áp dụng công nghệ mới càng rộng, càng có nhiều cơ hội phát triển
ngành nghề để từ đó toàn dụng lực lượng lao động xã hội, góp phần giải quyết tốt
vấn đề luôn là mối bận tâm của nhiều quốc gia đó là tình trạng thất nghiệp.
- Thứ tư, công nghệ là nhân tố cơ bản thúc đẩy chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo
hướng ngày càng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp dựa trên kỹ thuật cao cấp.
- Thứ năm, công nghệ kết tinh trong sản phẩm làm tăng giá trò trao đổi của nó trên
* Ưu điểm của hình thức chuyển giao công nghệ qua kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thông thường sự du nhập công nghệ nước ngoài được thực hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau :
- Nhập khẩu máy móc thiết bò
- Thuê hoạt động hoặc thuê mua tài chính
- Chuyển giao công nghệ qua hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Hai phương thức đầu gặp phải một số khó khăn như: thiếu vốn, đònh giá công nghệ
Vì đây là một thò trường không hoàn hảo. Hơn nữa ai là người có khả năng sử dụng công
nghệ đó? Sử dụng như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất? Chính vì vậy, việc du nhập
công nghệ nước ngoài thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tỏ ra có nhiều ưu điểm
hơn. Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, vì mục tiêu lợi nhuận nên khi xúc tiến đầu tư, các
công ty nước ngoài đã phải chuyển tải toàn vẹn công nghệ, bao gồm: máy móc thiết bò, kỹ
năng quản trò, đào tạo tay nghề cho các công ty con. Nhờ đó nước tiếp nhận đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) có thể tiếp cận công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và trình độ
kinh doanh từ nước ngoài.
Ví dụ như Hàn Quốc, đầu những năm 1960 còn thấp kém về lắp ráp xe hơi, nhưng
nhờ tiếp cận công nghệ của Mỹ, Nhật và một số nước khác mà đến năm 1993, họ đã trở
thành nứơc sản xuất ôtô đứng hàng thứ 7 trên thế giới
(7)
.
1.2.2.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài là động lực phát triển các ngành nghề liên quan
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một ngành nào đó không chỉ có tác dụng làm cho
ngành đó ở nước nhận đầu tư phát triển mà còn có tác dụng kích thích các ngành liên quan
phát triển. Cụ thể là các ngành cung cấp nguyên vật liệu cho ngành đó hoặc những ngành
sử dụng sản phẩm của ngành đó cũng phát triển theo. Đến lượt sự phát triển của các ngành
công nghiệp cấp hai (các ngành có liên quan trực tiếp với các dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài) lại có tác dụng thúc đẩy sự phát triển các ngành liên quan tiếp theo và sẽ tác động
dây chuyền kích thích sự phát triển của cả nền kinh tế.
Ví dụ như ngành công nghiệp chế tạo ô tô phát triển sẽ kéo theo ngành công nghiệp
đáng kể trước khả năng tạo việc làm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó, kết quả là
đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến vấn đề giải quyết việc làm ở nước tiếp
nhận đầu tư.
Chẳng hạn như một công ty máy tính của Mỹ sản xuất ở đóa đã làm tăng công ăn
việc làm ở khu vực Bangkok từ 5000 lên 20000 người trong năm 1998. Hoặc ở Singapore
trong năm 1989, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 70% lao động có việc làm
trong khu vực chế biến
(8)
.
* Chất lượng lao động
Nhờ có đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mà trình độ lao động cũng được nâng cao,
vì các lý do sau :
- Các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có những chương trình đào
tạo nhân viên để làm việc cho công ty của mình.
- Sinh viên, học sinh và người lao động có khuynh hướng học nhiều hơn để có cơ hội
làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp FDI (vì lương cao).
- Kinh nghiệm và những kỹ năng có được qua việc tiếp xúc, làm việc chung với các nhân
viên nước ngoài. Chẳng hạn như các công ty Thái Lan đã trở nên thông thạo về chuyên
môn hơn nhờ quan sát được cách thức hoạt động của các công ty nước ngoài
(9)
.
* Về thu nhập
Tăng nhu cầu tuyển dụng trực tiếp và gián tiếp, theo quy luật cung cầu lao động thì
tiền lương cũng được tăng theo. Hơn nữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài luôn có xu hướng trả lương cao hơn các doanh nghiệp trong nước nhằm thu hút lao
động giỏi. Đây là một tác động kép, bởi vì thu nhập tăng là tiền đề để nâng cao mức tiết
kiệm nội đòa đáp ứng cho nhu cầu đầu tư trong những năm tiếp theo.
1.2.2.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo tiền đề cho việc thu hút vốn ODA
1.3.1.1 Bối cảnh thế giới
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã ra đời trong bối cảnh quốc tế sau :
- Sự phát triển của giao lưu thương mại quốc tế đã làm xuất hiện nhu cầu đầu tư,
trao đổi tư bản giữa các quốc gia. Hiện nay, mô hình “Kinh tế đóng” đã trở nên lỗi thời và
xu hướng phát triển “kinh tế mở” theo hướng: mở rộng tất cả các cánh cửa ở cả hai chiều
cho xuất nhập khẩu hàng hóa, tư bản, dòch vụ, công nghệ - kỹ thuật, lao động
- Sự phát triển nhanh đến chóng mặt của các phương tiện giao thông, liên lạc, kỹ
thuật điện toán đặc biệt là các lónh vực điện tử - tin học phục vụ cho đời sống và sản xuất
đã đặt những người làm kinh tế vào thế phải cạnh tranh khốc liệt để vươn tới sự hoàn hảo
của kỹ thuật và giảm tối đa chi phí.
- Thể chế chính trò, kinh tế, xã hội của nhiều quốc tế trong những thập kỷ vừa qua
đã có những thay đổi quan trọng phù hợp với nền kinh tế mở, với các thông lệ quốc tế, đảm
bảo được lợi ích của chủ đầu tư nước ngoài.
Các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam không thoát ra khỏi guồng vận
động của thế giới, do vậy không thể đứng yên nhìn mọi việc thay đổi mà phải bắt tay tham
gia vào quá trình đổi mới. Đó là con đường tất yếu để phát triển và đi tới phồn vinh.
1.3.1.2 Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam
Sau 30 năm chiến tranh giành độc lập dân tộc, Việt Nam bước vào một kỷ nguyên
mới: hòa bình, xây dựng và phát triển. Trong những năm đầu sau chiến tranh (1976 - 1986),
mặc dù Việt Nam đã nhận được nguồn viện trợ khá lớn từ các nước Xã Hội Chủ Nghóa đặc
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 17
biệt là từ Liên Xô (khoảng 1 tỷ rúp mỗi năm) nhưng phần lớn các khoản viện trợ này đã bò
sử dụng lãng phí, kém hiệu quả. Trừ một vài công trình như xây dựng cầu Thăng Long,
thuỷ điện Sông Đà, nhà máy xi măng Bỉm Sơn đã phát huy tác động tích cực; đại bộ phận
các công trình thiết bò toàn bộ nhập khẩu bằng tín dụng chỉ sử dụng được khoảng 30-50%
công suất, nhiều thiết bò nhập về bỏ không trong khi đó Nhà nước vẫn phải nhập khẩu
hàng hóa tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu trong nước, cán cân thương mại lại thường xuyên
bò mất cân đối.
Ví dụ: Năm 1985, tổng giá trò xuất khẩu của Việt Nam là 705 triệu USD (bằng 16%
USD, lónh vực xây dựng văn phòng căn hộ vẫn hấp dẫn các nhà đầu tư với 5 dự án và
121,8 triệu USD. Trong số các dự án đầu tư từ đầu năm, chủ yếu phân bổ tại các đòa
phương: Đồng Nai 71 dự án và 451,36 triệu USD, Bình Dương 113 dự án và 275,7 triệu
USD, Tp.Hồ Chí Minh 162 dự án và 250,96 triệu USD, Thái Nguyên 3 dự án và 147,65
triệu USD, Hải Phòng 16 dự án và 84, 65 triệu USD, Hà Nội 52 dự án và 66,62 triệu
USD….Các năm trở lại đây, tuy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang dần hồi
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 18
phục nhưng tốc độ rất chậm cho dù là có khả quan. Số dự án và số vốn đầu tư qua các năm
tăng dần nhưng không có sự nhảy vọt đột biến và vẫn còn ít hơn rất nhiều cả về số dự án
lẫn số vốn đầu tư so với thời điểm trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á
năm 1997. Điều đáng ngại hơn nữa là, theo ông cựu Bộ trưởng Trần Xuân Giá, số khách
nước ngoài vào tìm kiếm cơ hội đầu tư cũng giảm đi đáng kể. có rất nhiều cách nhìn để
giải thích về sự giảm sút đầu tư nước ngoài này. Không loại trừ nguyên nhân là cuộc khủng
hoảng tài chính ở khu vực Châu Á . Nhưng tựu chung lại, dưới cặp mắt đánh giá của những
nhà đầu tư quốc tế, môi trường đầu tư ở nước ta đang ngày một kém hấp dẫn hơn so với
một số nước trong khu vực như Myanmar, Trung Quốc
Bảng 1-1: Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam từ 1988-2004
(Số liệu không kể vốn bổ sung của các dự án đã cấp giấy phép các năm trước đó,
các dự án của VIETSOPETRO)
ĐVT : triệu USD
Năm Vốn đăng ký Số dự án Vốn đầu tư trên 1 dự án
1988 37 321.8 8.7
1989 68 525.5 7.73
1990 108 735 6.8
1991 151 1275 8.44
1992 197 2027 10.3
1993 274 2589 9.45
1994 367 3746 10.21
1995 408 6848 16.78
1.3.3.1 Hiệu quả kinh tế
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp một phần đáng kể trong nền kinh
tế Việt Nam. Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
chiếm từ 27% đến 30%. Tỷ trọng đóng góp của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào GDP ngày một tăng: 6.3% năm 1995, 13.28% năm 2000; 13.75% năm 2001; 13.76%
năm 2002 và năm 2003 là 14.47%. Giá trò của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài trong
ngành công nghiệp Việt Nam luôn chiếm trên 40%.
Bảng 1-2 : Giá trò tổng sản phẩm theo giá thực tế của Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 1995 2000 2001 2002 2003
Tổng số 228892 441646 481295 535762 605586
Khu vực FDI 14428 58626 66212 73697 87606
Tỷ trọng(%) 6.3 13.28 13.75 13.76 14.47
Nguồn: Niên giám Thống Kê Việt Nam 2003
Xuất khẩu năm 2000 đạt 6810.3 triệu USD, năm 2001 đạt 6798.3 triệu USD, năm
2002 đạt 7871.8 triệu USD, năm 2003 đạt 6340.0 triệu USD, góp phần quan trọng vào giá
trò xuất khẩu của cả nước. Năm 2003 khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỷ trọng
33.38% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là dầu
thô, hàng nông hải sản chế biến, hàng dệt may, giày dép và hàng điện tử sang một số
nước Châu Á - Nhật Bản, Singapore và Mỹ, Anh, Đức các nhà đầu tư cố gắng vươn ra
thò trường ngoài Châu Á; tăng xuất khẩu sang Châu Âu và Mỹ .
Nhập khẩu : năm 2000 đạt 4352.0 triệu USD, năm 2001 đạt 4985.0 triệu USD, năm
2002 đạt 6703.6 triệu USD, năm 2003 đạt 8814.9 triệu USD (bằng 131.5% so với năm
2002), chênh lệch trong cán cân thương mại ở khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài có chiều
hướng thu hẹp lại. Năm 2003, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài nhập khẩu hàng hóa
bằng 34.94% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy
móc, thiết bò, nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất.
Nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả như Hợp doanh viễn thông quốc tế Tesla
lãi liên tục từ khi hoạt động đến nay .Và hợp doanh đã dùng lợi nhuận để tái đầu tư, liên
doanh nước khoáng Long An, Liên doanh xây dựng và kinh doanh Khu chế xuất Tân
Chỉ tiêu 2000 Tỷ lệ
%
2001 Tỷ lệ
%
2002 Tỷ lệ
%
2003 Tỷ lệ
%
Tổng số 3536998 100 3933226 100 4657803 100 5103847 100
Liên doanh 121590 3.44 125004 3.18 154812 3.32 155667 3.05
100% nước
ngoài
285975 8.09 364283 9.26 536276 11.51 628794 12.32
Nguồn: Niên giám Thống Kê Việt Nam 2003
Bộ Lao động –Thương binh và xã hội
Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 90% thò phần thức ăn gia súc, 90%
nước giải khát, 70% hóa mỹ phẩm Việt Nam
(11)
. Sản phẩm của các liên doanh xí nghiệp
100% vốn nước ngoài đã có vò trí quan trọng trên thò trường Việt Nam. Các nhãn hiệu
Sony, KAO đã làm củng cố niềm tin vào hàng trong nước gọi là “hàng Việt Nam chất
lượng ngoại, giá nội” trong người tiêu dùng, hạn chế phần nào việc “chảy máu” ngoại tệ
của đất nước.
(11)
Thuý Hương - Tạp chí thương mại, số 3+4, 1999
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 21
CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ –XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1.1 Tình hình xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh là một đơn vò hành chính do Trung ương trực tiếp quản lý.
Toàn thành phố được chia thành 23 quận (huyện), 303 phường xã. Trong đó có 18 quận nội
thành và 5 huyện ngoại thành.
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng kinh tế Đông Nam Bộ, có diện tích
2.095,01 km2, trải dài theo hướng Tây Bắc- Đông Nam. Trong đó diện tích của 18 quận nội
thành là 442,13 km2 (21,1%) và 5 huyện ngoại thành là 1.652,88km2 (78,9%).
Thống kê dân số chính thức năm 2003 tại thành phố là 5.630.192 người. Thành phố
là nơi có qui mô dân số lớn nhất so với các tỉnh và thành phố khác trong cả nước. Mật độ
dân số của thành phố cũng cao nhất nước nhưng phân bổ không đều. Năm 2003 bình quân
là 2.687 người/km2, trong đó nội thành là 10.338 người/km2 và ngoại thành là 641
người/km2.
Theo giới tính, thành phố có dân số Nam là 2.713.144 người (48.2%) vàNữ là
2.917.048 người (51.8%). Đây là một lực lượng dồi dào cho sự nghiệp phát triển kinh tế
của thành phố. Ngoài ra, hàng năm thành phố còn được bổ sung một lực lượng lao động
lớn từ các tỉnh đổ về. Năm 2003 có 79.187 người đến thành phố sinh sống.
Mức sống dân cư tăng đều qua các năm nhưng có sự chênh lệch rõ rệt giữa đời sống
ở thành thò và nông thôn. Năm 2003, chi tiêu bình quân một ngøi một tháng ở thành thò là
833.795 đồng/người/tháng thì khu vực nông thôn chỉ có 399.752 đồng/người/tháng. Tỷ lệ
hộ gia đình có các tiện nghi sinh hoạt cũng chênh lệch giữa thành thò và nông thôn.
2.1.2 Tình hình kinh tế
2.1.2.1 Tổng sản phẩm trên đòa bàn thành phố(GDP)
Tổng sản phẩm trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh luôn đứng đầu trong cả
nước.Tính theo giá thực tế, năm 1990 là 6.770 tỷ đồng thì năm 2003 đã tăng lên đến
111.344 tỷ đồng. Mức đóng góp của thành phố Hồ Chí Minh trong GDP của cả nước cũng
tăng từ 16.14% năm 1990 lên 18.39% trong năm 2003.
2003 là công nghiệp chế biến (41.2%), thương nghiệp (12.9%), vận tải và bưu điện (8.8%),
khách sạn nhà hàng (5.3%), xây dựng (5.1%)…
Hình 2-2: Cơ cấu kinh tế của thành phố năm 2003
40.90%
37.60%
21.50%
Nhà nước Ngoài quốc doanh
KV có vốn ĐTN
N
47.95%
1.60%
50.45%
Nông,Lâm nghiệp và Thủy sản
Công nghiệp và Xây dựng
Dòch vụ
Nguồn: Niên giám Thống kê Tp.Hồ Chí Minh năm 2003
Trong cơ cấu kinh tế thành phố, tỷ trọng của khu vực nông- lâm -ngư nghiệp ngày
càng giảm, phù hợp với qui hoạch phát triển thành phố thành một trung tâm công nghiệp
hoá của khu vực phía Nam và cả nước. Các ngành công nghiệp và dòch vụ ngày càng vươn
lên, khẳng đònh vò trí chủ chốt của mình trong cơ cấu phát triển kinh tế của thành phố. Trong
10 tháng đầu năm 2004 tốc độ tăng trưởng công nghiệp trên đòa bàn thành phố là 15.1%.
2.1.2.2 Tình hình xuất nhập khẩu
Nhìn chung, xuất nhập khẩu trong những năm qua đều tăng nhanh. Tốc độ tăng của
khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn cao hơn khu vực kinh tế trong nước. Tương
quan xuất nhập khẩu của thành phố luôn là xuất siêu trong 4 năm trở lại đây. Theo Sở
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 24
Thương mại, riêng kim ngạch xuất khẩu của thành phố 10 tháng đầu năm 2004 đạt 8.071,6
triệu USD, tăng 34,1% do với cùng kỳ năm ngoái.
trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất, nâng cao
năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, đây là trung tâm đào tạo nhân lực
cho các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Là nơi luôn đi đầu trong việc thực hiện các chính sách đổi mới của Chính phủ. Cụ
thể là đi đầu trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài…
Chương 1: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 25
2.2 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
2.2.1 Tình hình chung
Đến 31/12/2003, thành phố Hồ Chí Minh có tổng cộng 1755 dự án được cấp giấy
phép với tổng số vốn đầu tư là 14.163 triệu USD. Trong đó, có 340 dự án hết hạn giấy
phép hoặc bò rút giấp phép giải thể trước thời hạn với số vốn đầu tư là 2.527,05 triệu USD,
1415 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư là 11.635.95 triệu USD.
Bảng 2-1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Tp.Hồ Chí Minh từ 1988 đến 2003
Năm Số dự án Vốn đầu tư
(triệu USD)
Tốc độ tăng dự án
(%)
Tốc độ tăng vốn
(%)
1988
1989
1990
1991
16
26
46
72
69
vốn đầu tư chỉ bằng một nửa so với năm trước. Thành phố Hồ Chí Minh không còn là đòa
phương nổi bật nhất trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây là một dấu hiệu
đáng lo ngại của đầu tư thành phố.
Có rất niều nguyên nhân làm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm xuống: do sự
xuống dốc của nền kinh tế toàn cầu theo sau sự tan vỡ của bong bóng công nghệ cao tại
Mỹ cùng với khủng hoảng kéo dài tại Nhật đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nước châu
Á. Sau các cuộc khủng hoảng, các nước châu Á đã áp dụng các biện pháp khuyến khích và
thực hiện các chương trình xúc tiến đầu tư mạnh mẽ hơn để thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài, do vậy đã làm giảm đi mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.