LỜI MỞ ĐẦU
Chiến lược mở cửa dần nền kinh tế để đưa nước ta theo kịp với sự
phát triển chung của thế giới là một trong những chính sách được Đảng và
nhà nứơc ta vô cùng coi trọng. Một trong những nội dung quan trọng của
chiến lược này đó là chủ chương thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tiên là để giải quyết nạn
khan hiếm về vốn đầu tư cho sự phát triển xã hội. Một đất nước không thể
nào phát triển được nếu không có vốn đầu tư để phát triển kinh tế. Hơn nữa
đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa, nguồn vốn
trong nứơc còn hạn chế vì vậy chúng ta lại càng cần đến sự giúp đỡ về vốn
của các nhà đầu tư nứơc ngoài. Ngoài việc giải quyết nạn khan hiếm về vốn
thì nó còn nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Trong thời đại hiện nay, nước ta kém các nước khác về máy móc, khoa học
công nghệ một khoảng cách khá xa, có nứơc ta còn kém họ đến hàng trăm
năm. Vì vậy việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ cung cấp cho
nền kinh tế nứơc nhà máy móc, quy trình công nghệ tiên tiến, sản xuất
nhiều mặt hàng có chất lượng kỹ thuật cao, góp phần phát triển nền kinh tế
đất nước, tạo nền tảng để nước ta có thể tiến nhanh quá trình công nghiệp
hoá-hiện đại hoá, và có đủ khả năng, sức mạnh để vươn xa khẳng định
mình trên trường quốc tế.
Thực hiện chủ trương trên, tháng 12 năm 1987 nhà nước ta đã
chính thức ban hành luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Trong
suốt thời gian từ đó đến nay thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã
đáp ứng được một số mục tiêu mà chúng ta đề ra song nó lại đặt ra cho
chúng ta nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Do vậy chúng ta cần thiết phải
đánh giá và nhìn nhận lại thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để từ
đó tìm ra hướng giải quyết có hiệu quả nhất để thúc đẩy việc thu hút đầu tư,
nâng cao chất lượng nguồn đầu tư. Em chọn đề tài “ Thực trạng và một số
1
giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” nhằm để
cho chính bản thân em cũng như mọi người hiểu hơn về thực trạng của
nguồn nhân lực và tạo thêm nhiều việc làm mới cho các nước nhận đầu tư,
nâng cao mức sống cho người lao động. Mặt khác, các dự án của FDI cũng
có những yêu cầu cao về chất lượng nguồn lao động do đó buộc chúng ta
phải nâng cao trình độ lao động để có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của
công việc. Khi người lao động được làm việc trong một môi trường đòi hỏi
sự cố gắng cao cũng sẽ giúp cho người lao động trở lên năng động và sáng
tạo hơn trong công việc.Hơn thế nữa, các dự án FDI cũng thu hút một lực
lượng lao động lớn , góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động.
Ở Việt Nam, kể từ khi luật đầu tư nước ngoài đựơc ban hành và thực
hiện, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được Đảng và nhà nước ta
khẳng định là một bộ phận cấu thành quan trọng của nên kinh tế thị trường
định hướng XHCN, góp phần thúc đẩy sự phát triển các nguồn lực trong
nứơc
Có rất nhiều nhân tố thúc đẩy đầu trực tiếp nước ngoài:
+Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
+ Chu kỳ sản phẩm
+ Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
+ Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
+ Khai thác về chuyên gia và công nghệ
+ Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
3. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam:
3.1: Tình hình thu hút FDI:
Kể từ khi luật đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành(1980) đến
hết ngày 28/2/2006 Việt Nam đã thu hút trên 6090 dự án( còn hiệu lực với
mức vốn đăng ký đạt hơn 52,3 tỷ USD và vốn thực hiện đạt trên 28 tỷ
3
USD). Các doanh nghiệp FDI đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trở thành một thành
phần kinh tế trong hệ thống kinh tế quốc dân.
vì những dự án này sẽ mang lại lợi ích lớn về kinh tế cho đất nước,đẩy
mạnh chuyển giao công nghệ, rút ngắn tiến trình công nghiệp hoá- hiện đại
hoá.
Hiện nay các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang hoạt động rất có
hiệu quả và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước.
Chỉ trong năm 2005 đã đạt được tổng doanh thu khoảng 18 tỷ USD( không
kể dầu khí), ngang năm 2004. Hơn nữa cả vốn và lao động đều được bổ
sung đáng kể. Năm 2005, khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài đã thực hiện
6,338 tỷ USD vốn đầu tư, tăng trên 50% so với năm 2004.
Nhờ hiệu quả trong sản xuất kinh doanh được phát triển cao hơn mà
trong năm 2005 chủ đầu tư của 607 dự án trong khu vực đầu tư nước ngoài
đã đề nghị và được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt cho tăng thêm
vốn đầu tư để mở rộng quy mô hoạt động với tổng vốn đầu tư tăng thêm
2,070 tỷ USD, tăng 3,5% so với năm trước. Điều đó cho thấy nhiều nhà đầu
tư nứơc ngoài muốn làm ăn lâu dài ở Việt Nam.
Theo báo cáo của bộ kế hoạch và đầu tư, trong tháng 5/2007, cả nước
đã thu hút thêm hơn 2,412 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký mới, bao gồm cả
vốn bổ sung dự án cũ. Trong đó riêng phần mới cấp giấy phép có 281 dự
án, tổng vốn đăng ký trên 2 tỷ USD, tăng 8,5% về số dự án, 19,5% về vốn
so với cùng kỳ năm trứơc. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 74,3%
số dự án và 66,1% tổng vốn đăng ký cấp mới. Lĩnh vực dịch vụ chiếm
21,1% và 33,4%, phần còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, thuỷ hải sản.
Trong số các dự án mới cấp phép, không chỉ có một số dự án có quy mô
đầu tư lớn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ cao như tập đoàn
Intel 605 triệu USD, công ty Tây Hồ Tây 314 triệu USD, Winvest
Investment 300 triệu USD…FDI trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp
5
của cả nước ( so với năm 1994) tăng từ 28,9% lên gần 30,3%. Đồng thời tỷ
trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nứơc tăng từ 32,76% lên
35,77%. Mặt khác tổng số lao động trực tiếp trong khu vực FDI tăng từ
6
các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Riêng năm 2005(20/12/2005) trong
tổng số 798 dự án được cấp giấy phép (ngoại trừ một dự án dầu khí ngoài
khơi) thì được thực hiện ở trên 40 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Dẫn đầu Hồ Chí Minh với 243 dự án; Bình Dương 140 dự án; Đồng Nai có
87 dự án; Tây Ninh với 26 dự án. Tại khu vực phía Bắc có Hà Nội, Vĩnh
Phúc, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên trong đó Hà Nội có 103 dự án;
Vĩnh Phúc: 24 dự án; Hải Phòng: 21 dự án. Các tỉnh khó khăn cũng thu hút
được các dự án đầu tư như Lào Cai 5 dự án; Cao Bằng 3 dự án; Đắc Nông
2 dự án; ;Yên Bái 2 dự án.
Với môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, các doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài đã hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển,
thể hiện ở các chỉ tiêu vốn thực hiện, doanh thu, xuất khẩu, nộp chính sách
nhà nước tăng.
Chất lượng các dự án và các dự án phát triển vốn năm 2005 có chuyển
biến tích cực, thu hút được một số dự án có quy mô lớn, sử dụng công nghệ
tiên tiến như xây dựng hệ thống điện thoại di động CDMA, dự án đầu tư
phát triển như nghiên cứu phát triển và sản xuất mô tơ chính xác cao của
tập đoàn NIDEC. Ngày càng có nhiều dự án của tập đoàn đa quốc gia quay
trở lại mở rộng sản xuất tại Việt Nam. Đến nay 95 công ty đa quốc gia đầu
tư vào hơn 230 dự án FDI tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký ( kể cả phát
triển vốn) là 10,6 tỷ USD. Hầu hết các công ty nói trên đều đầu tư vào dự
án có quy mô lớn ( trên 45 triệu USD/ 1 dự án). Hoa Kỳ là nước có nguồn
vốn đầu tư thực hiện ở Việt Nam nhiều nhất. Năm 2000 là 196 triệu USD;
năm 2001 là 258 triệu USD; năm 2002 là 169 triệu USD; năm 2003 là 449
triệu USD; năm 2004 là 531 triệu USD.
Với mong muốn hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần làm
chuyển dịch cơ cấu giữa các vùng kinh tế nên chính phủ ta đã có những
chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào những vùng
có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Tuy vậy
8