Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển công nghiệp
tỉnh Bắc Ninh
1.1. Sự cần thiết thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển công
nghiệp tỉnh Bắc Ninh
1.1.1 Tổng quan về tỉnh Bắc Ninh
1.1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý:
Tỉnh Bắc Ninh được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997, bao
gồm thành phố Bắc Ninh và 7 huyện thị bao gồm: Gia Bình, Lương tài, Quế Võ,
Yên Phong, Thuận Thành, Tiên Du, Từ Sơn , là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng
châu thổ sông Hồng, cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội, là một trong 8
tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc
Ninh là 822,71 km2, dân số toàn tỉnh là 1028000 người đạt mật độ bình quân là
1251 người / km2. Bắc Ninh là tỉnh có diện tích tự nhiên nhỏ nhất trong 64 tỉnh
thành phố trên cả nước
- Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang
- Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội
- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương
- Phía Tây giáp thủ đô Hà Nội
Với vị trí như thế, xét tầm không gian lãnh thổ vĩ mô, Bắc Ninh có nhiều
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Điều kiện tự nhiên:
Khí hậu: Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông
lạnh. Nhiệt độ trung bình năm là 23,3°C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là
28,9°C ( tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8°C ( tháng 1)
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1400 - 1600mm nhưng
phân bố không đều trong năm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10,
chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm.
Nhìn chung Bắc Ninh có điều kiện khí hậu đồng đều trong toàn tỉnh và
không khác biệt nhiều so với các tỉnh đồng bằng lân cận.
tục và bên vững với tốc độ tăng trưởng luôn cao hơn so với mức trung bình của
cả nước
Bảng 1.1. GDP tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2003-2008
Chỉ tiêu
2003 2004 2005 2006 2007 2008
GDP ( triệu
đồng)
3.671.860 4.179.418 4.766.106 5.493.067 6.360.972 7.393.358
Tốc độ tăng
trưởng (%) 13,61 13,82
14,04
15,25 15,8 16,23
( Nguồn: Tổng hợp niêm giám thống kê Bắc ninh)
GDP của Bắc Ninh liên tục có mức tăng trưởng cao trên hai con số trong
nhiều năm liền với xu thế ngày càng tăng. Năm 2003 tổng sản phẩm quốc dân
toàn tỉnh mới chỉ đạt 3.671.860 triệu đồng với tốc độ tăng trưởng là 13,61% thì
đến năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đã đạt mức 16,23% trung bình
giai đoạn 2003-2008 tốc độ tăng trưởng bình quân toàn tỉnh là 14,79%.
Biểu đồ 1.1. GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2003-
2008
Chỉ tính riêng năm 2008, trong tình hình khó khăn chung của dất nước ,
hoạt động kinh tế của nhiều tỉnh thành có dấu hiệu chững lại và thấp hơn năm
2006 và 2007. Song với Bắc Ninh kinh tế vẫn tiếp tục duy trì nhịp độ tăng
trưởng cao. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) ước tăng 16,23% và là mức tăng
cao nhất từ năm 2001 đến nay. Với việc luôn duy trì tốc độ tăng trương cao, đời
sống nhân dân trong tỉnh đã được cải thiện đáng kể. GDP bình quân đầu người
năm 2008 ước 1.169 USD, tăng 26,4% so với năm 2007 và là năm đầu tiên cao
hơn mức trung bình của cả nước
có những bước phát triển đáng kể
Bảng 1.3. Kim ngạch xuất khẩu tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2003-2008
STT Năm
Chỉ tiêu
2003 2004 2005 2006 2007 2008
1 KN XK
( triệu đồng )
47.519 68.672 92.230 170.732 362.314 560.50
2 Tốc độ tăng 22,17 44,51 34,3 85,11 112,21 54,7
trưởng (%)
(Nguồn : Tổng hợp và xử lý số liệu báo cáo sở công thương)
Hoạt động xuất khẩu đã có bước nhảy vọt trong tốc độ phát triển từ mức
22,17% năm 2003 thì năm 2007 đã đạt mức kỷ lục là 112,21%. Mức cao nhất
từ khi tái lập tỉnh đến nay. Trong năm 2008 mặc dù do ảnh hưởng của suy thoái
kinh tế toàn cầu nhưng kim gạch xuất khẩu của Bắc Ninh vẫn đạt mức tăng
trưởng khá cao 54,7% do hoạt động sản xuất kinh doanh được mở rộng về số
lượng cơ sở, doanh nghiệp, nhất là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Cơ cấu
hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhóm hàng CN -
thủ công mỹ nghệ - nông lâm sản; chất lượng hàng xuất khẩu từng bước được
nâng lên, xuất hiện thêm một số mặt hàng mới; thị trường xuất khẩu được mở
rộng tới 23 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Hoạt động nhập khẩu hàng
hoá nhìn chung ổn định, đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu phục vụ cho sản
xuất và tiêu dùng.
Văn hóa xã hội có những bước phát triển đáng kể
Giáo dục đào tạo: giáo dục tiếp tục được phát triển mạng lưới trường lớp cơ sở giáo dục
được củng cố. Năm 2008 toàn tỉnh đã xây mới sủa chữa và nâng cấp 972 phong học kiên cố
nâng tổng số phong học kiên cố cao tầng lên 83,3%. Đội ngũ giáo viên được tăng cường lên
14015 thầy cô, đã đảm bảo tỉ lệ giáo viên trên lớp theo quy định của, quy mô giáo dục các cấp
được giữ vững. Các trường ĐH, CĐ, THCN tiếp tục mở rộng quy mô, loại hình
đào tạo; hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 14 trường (ĐH: 02 trường, CĐ: 05
các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các trục đường chính, các khu đô thị
mới, khu nhà ở, công sở, hệ thống cấp thoát nước, điện chiếu sáng, khu vui chơi
giải trí..
Hạ tầng khu công nghiệp: Đến nay, Bắc Ninh đã quy hoạch được 54
KCN nhỏ và vừa, làng nghề với tổng diện tích là 1.968 ha. Các KCN sau khi
được quy hoạch và đầu tư hạ tầng đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài
nước đến đầu tư góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội của tỉnh. Hiện nay, tỉnh
đang trình Chính phủ cho phép tu sửa bổ sung quy hoạch 9 KCN đô thị mới
khoảng 3.580 ha gồm có KCN Thuận Thành - II, Thuận Thành - III, Quế Võ -
III, Gia Bình, Lương Tài, Tiên Du, Từ Sơn, Yên Phong-I…nâng tổng diện tích
KCN và đô thị tập trung của tỉnh lên 11.000 ha.Tính đến nay Bắc Ninh đã có 4
khu công nghiệp tập trung đã được đầu tư và đi vào sử dụng bao gồm KCN Tiên
Sơn, KCN Quế Võ, KCN Đại Đồng-Hoàn Sơn và KCN Yên Phong, Riêng trong
năm 2008, Bắc Ninh đã hoàn thiện được 14 khu công nghiệp tập trung được
Chính phủ duyệt, có 3 khu khởi công mới. Đặc biệt 2 khu công nghiệp - đô thị
mang tầm cỡ quốc tế là VSIP và IGS đã được khởi công sau nhiều khó khăn về
công tác giải phóng mặt bằng
Hệ thống giao thông vận tải: Bắc Ninh có hệ thống giao thông vận tải
được đầu tư khá đồng bộ và hiện đại
Đường bộ: Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống đường bộ thuận tiện cho vận
chuyển, giao lưu kinh tế trong và ngoài tỉnh. Mạng lưới giao thông đường bộ
toàn tỉnh hiện có 3807 km, mật độ đường 4,74 km/km2 thuộc loại cao so với
bình quân cả nước, trong đó Quốc lộ có 4 tuyến gồm quốc lộ 1A cũ dài 20 km,
quốc lộ 1A mới dài 20 km, quốc lộ 18 dài 26,2km và quốc lộ 38 dài 23 km. Tỉnh
lộ gồm 11 tuyến với tổng chiều dài 224,1 km, đường huyện +đô thị có chiều dài
267,9 km, đường trục xã có chiều dài 759,3 km. Trong những năm qua, hệ
thống giao thông đường bộ trong tỉnh đã được chú trọng đầu tư nâng cấp nên
việc đi lại và vận chuyển hàng hóa khá thuận tiện
Đường sông:Bắc Ninh có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu dài 70 km,
sông Đuống 42 km và sông Thái Bình 17 km. Cả 3 sông này đều có khả năng
đẩy sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội phát triển. Tổng số thuế bao điện
thoại năm 2008 ước đạt 821.593 thuê bao, tăng 337.406 thuê bao so với cùng kỳ
năm 2007, trong đó thuê bao cố định185.046 thuê bao, thuê bao di động
577.374 thuê bao
Hệ thống hạ tầng thông tin mạng đã có bước chuyển biến rõ nét, đã hoàn
thiện trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh, hệ thống cáp quang và các mạng LAN
của các sở ban ngành nối mạng với Tỉnh ủy, Văn phòng chính phủ, qua đó ứng
dụng và từng bước phát huy hiệu quả của công nghệ thông tin trong việc phát
triển kinh tế xã hội. Trong giai đoạn 2008-2009, Viễn thông Bắc Ninh lắp đặt
hơn 40 trạm vệ tinh, nâng tổng số trạm hoạt động trên mạng khoảng hơn 100,
với tổng dung lượng hơn 220.000 line. Riêng mạng di động sẽ lắp đặt thêm 76
trạm BTS, nâng tổng số lên 120 trạm. . Như vậy, hệ thống hạ tầng viễn thông cả
dưới đất và trên không đều đầu tư với tốc độ cao, đáp ứng mọi nhu cầu về phát
triển các dịch vụ viễn thông và CNTT.
Hệ thống Ngân hàng – Tĩn dụng : Hoạt động tín dụng, ngân hàng tiếp tục
phát triển; mạng lưới ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng phát triển rộng
khắp các huyện, thành phố; đến nay, toàn tỉnh có 16 chi nhánh cấp 1, 9 chi nhánh
cấp 2 và 72 phòng giao dịch, chi nhánh cấp 3; 24 quỹ tín dụng nhân dân và 1 chi
nhánh quỹ tín dụng TW. Với sự tham gia của nhiều ngân hàng thương mại quốc
doanh và ngân hàng ngoài quốc doanh, bên cạnh đó cũng đã có nhiều chi nhánh
và văn phòng đại diện của các tập đoàn tài chính quốc tế lớn
Hệ thống các trường dạy nghề: Các trường ĐH, CĐ, THCN tiếp tục mở
rộng quy mô, loại hình đào tạo; hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 14 trường (ĐH: 02
trường, CĐ: 05 trường, THCN: 02 trường, Trung cấp kỹ thuật, dạy nghề: 05
trường), ngoài ra, còn có gần 30 cơ sở và trung tâm dạy nghề đang hoạt động ở
cả 8 huyện/thành phố, thị xã. Tổng số học sinh, sinh viên các trường TCCN, CĐ
12.808 em.
1.1.2. Khái quát chung về sự phát triển công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Với xuất phát điểm là một tỉnh thuần nông, công nghiệp kém phát triển.
Do đó ngay sau ngày tái lập tỉnh, nhiệm vụ đạt ra là cần phải đưa kinh tế Bắc
30,9%.mức tăng trưởng cao so với cả nước
Biều đồ 1.4. Tăng trưởng GTSXCN Bắc Ninh giai đoạn 2003-2008
Từ bảng trên ta có thể thấy được công nghiệp Bắc Ninh đã có những bước
phát triển đáng kể trong thời gian vừa qua, giá trị sản xuất công nghiệp năm
2007 tăng 38,7%, mức tăng trưởng cao nhất từ khi mới tái lập tỉnh. Năm 2008
mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp nhưng với sự cố gắng nỗ lực phấn đấu của các
doanh nghiệp giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh vẫn có mức tăng trưởng
31,3% và là mức tăng trưởng cao thứ 2 trong khu vực đồng bằng sông hồng và
đứng thứ 6 trong cả nước
1.1.2.2. Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế
Trong những năm qua công nghiệp Bắc Ninh có sự phát triển vượt bậc là
nhờ chủ trương huy động mọi nguồn lực cho phát triển công nghiệp. Giá trị sản
xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng mạnh và dần có
sự chuyển dịch trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh theo hướng
giảm dần tỷ trọng của khu vực kinh tế nhà nước và tăng dần tỷ trọng của khu
vực ngoài quốc doanh
Bảng 1.5. GTSXCN tỉnh Bắc Ninh theo thành phần kinh tế
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 2008
GTSXCN
4.178,574 5.269,125 6.720,217 8810,35 12.220,5 16.045,5
Nhà nước 1.321,769 1.596,131 1.047,08
1
958,158 1.391,3 1.916,6
Ngoài
nhà nước
1.979,304 2.578,352 4.163,948 5.291,149 6.520 8.487,4
FDI 877,501 1.094,642 1.509,228 2.239,041 4309,2 5.641,5
( Nguồn: Tổng hợp và xử lý niêm giám thống kê Bắc Ninh)
hưởng mạnh như: đồ gỗ mỹ nghệ, sản xuất đồng, cán kéo thép…
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài :Thưc hiện chủ trương của
tỉnh, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển công nghiệp. Đến nay
khu vực này đã có đóng góp nhiều cho phát triển công nghiệp tỉnh. Năm 2003
khu vực này chỉ chiếm 21% tổng giá trị sản xuất công nghiệp nhưng đến năm
2008 khu vực này đã chiếm tới 35,17% . trong năm 2008 mặc dù các khu vực
khác có sự suy giảm về tốc độ tăng trưởng thì khu vực kinh tế có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao (40,7%) góp phần vào tăng
mạnh GTSXCN chung của toàn tỉnh, có được sự tăng trưởng cao này là nhờ sự
chủ động tốt hơn các khu vực khác về nguồn vốn, lại nắm bắt thị trường thế giới
tốt hơn nên đã điều tiết hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu hợp lý.
1.1.2.3. Giá trị sản xuất phân theo phân ngành công nghiệp , và địa phương
Giá trị sản xuất phân theo ngành kinh tế của Bắc Ninh có sự chuyển biến
rõ rệt với sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến về tỷ trọng và giảm tỷ
trọng của ngành công nghiệp khai thác và sản xuất phân phối điện nước. Công
nghiệp tỉnh Bắc Ninh đã có những thương hiệu mạnh, những sản phẩm công
nghiệp có giá trị và sức cạnh tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước như
sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ, sản xuất gạch ốp lát, sản phẩm may mặc,
giấy, máy in…
Theo địa phương : Công nghiệp Bắc Ninh có sự phân bố không đồng đều,
công nghiệp chủ yếu tập trung tại Thành phố Bắc Ninh, Thị xã Từ Sơn, huyện
Tiên Du, Yên Phong, những huyện có vị trí thuận lợi với hạ tầngcơ sở tương đối
đồng bộ hơn, Trong khi đó tại các huyện còn lại giá trị sản xuất công nghiệp còn
thấp, và chủ yếu là sản xuất thủ công, làng nghề, với các cơ sở sản xuất nhỏ bé,
tình trạng ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất này khá phổ biến
1.1.2.4. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu:
Nhằm khai thác lợi thế cạnh tranh của tỉnh trong phát triển kinh tế xã hội.
Bắc Ninh sớm xác định các ngành hàng có lợi thế trong cạnh tranh để khuyến
khích thu hút đầu tư, bao gồm các ngành hàng sau: công nghiệp chế biến nông
sản; may mặc; sản xuất giấy và đồ gỗ mỹ nghệ; vật liệu xây dựng; cơ khí; thiết
FDI góp phần rất quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa. Các dự án FDI đầu tư vào tỉnh chủ yếu
là các dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ, giảm
dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP của toàn tỉnh. giá trị sản xuất công
nghiệp của khu vực có vốn nước ngoài thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá
trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh, năm 1997 giá trị sản xuất công nghiệp
của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mới chỉ đạt 338 triệu đồng thì
đến năm 2008 giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã đạt được 5.641,5 tỷ đồng chiếm 35 % trong tổng giá trị sản xuất
công nghiệp toàn tỉnh. Bên cạnh đó các doanh nghiệp FDI còn góp phần cải
thiện cán cân xuất nhập khầu của tỉnh, tăng số lượng sản phẩm xuất khẩu. Tổng
kim gạch xuất khẩu Năm 2008 của toàn tỉnh đạt 560,5 triệu USD, trong đó khu
vực FDI đạt 372,20 triệu USD chiếm tới 66,4 % kim gạch xuất khẩu của toàn
tỉnh
1.1.3.3. FDI góp phần phát triển những ngành công nghiệp mới, và chuyển
giao công nghệ:
Khi mới tái lập tỉnh Bắc Ninh chỉ là một tỉnh thuần nông, cơ cấu kinh tế
với nông nghiệp là chủ đạo, công nghiệp chưa phát triển chủ yếu là các ngành
công nghiệp khai thác tài nguyên khoáng sản, sơ chế biến các sản phẩm của địa
phương và những nghành công nghiệp gia công cần nhiều lao động như may
mặc, thuốc lá, gạch xây dựng …. Nhưng đến nay công nghiệp Bắc Ninh đã có
có những bước chuyển biến cả về số lượng lẫn chất lượng. Đã có nhiều ngành
nghề mới trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh trong đó có những ngành có công
nghệ hiện đại như sản xuất phụ tùng linh kiện điện tử, máy in, điện thoại , linh
kiện và lắp ráp ô tô….. những ngành nghề này đã mang lại giá trị gia tăng rất
lớn đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh. Tính đến tháng
12/2008 Bắc Ninh đã thu hút được nhiều tập đoàn công nghiệp hàng đầu thế
giới về các lĩnh vực công nghệ cao đầu tư vào tỉnh như Canon, Samsung
electronic, Sumitomo electronics, Tyco electronics, Foxconn….FDI đã góp phần
Như vậy ta có thể thấy rằng, là một ngành kinh tế của đất nước, công
nghiệp có vai trò quan trọng đối với cả kinh tế lẫn trong đời sống xã hội của tỉnh
Bắc Ninh, tuy nhiên do hạn chế về nguồn vốn nên công nghiệp vẫn chưa được
đầu tư thích đáng cho nhu cầu phát triển. Chính vì vây, yêu cầu phải tăng thêm
thu hút đầu tư của từ nguồn trong nước và nước ngoài để tạo điều kiện cho
ngành phát triển nhanh hơn và bền vững hơn. Yêu cầu thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, thu hút công nghệ khoa học kỹ thuật hiện đại vào phát triển
ngành công nghiệp tỉnh Bắc Ninh là một yêu cầu khách quan đòi hỏi trong thời
gian tới, Bắc Ninh cần phải có những chính sách, biện pháp, phương hướng tăng
cường thu hút vốn FDI vào ngành công nghiệp
1.1.4. Kinh nghiệm trong thu hút FDI cho phát triển công nghiệp của tỉnh
Vĩnh Phúc
Đường lối và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Vĩnh phúc đã
xác định rõ ‘…phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ ngoại lực bên ngoài
… để phát triển nhanh, có hiệu quả bền vững …’. Trong những năm qua, công
nghiệp Vĩnh phúc phát triển nhanh chính là nhờ vận dụng tốt quan điểm trên .
Vĩnh phúc là tỉnh nằm ở của ngõ Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, thuộc vùng
châu thổ sông Hồng , là một trong tám tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía
Bắc. khi mới tái lập tỉnh, Vĩnh Phúc vẫn còn là một tỉnh thuần nông với cơ cấu
kinh tế năm 1997, Nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (43,3%), trong khi đó công
nghiệp còn chua phát triển chỉ chiếm 30,,0% trong tổng GDP của toàn tỉnh.
Nhưng chỉ sau 10 năm kinh tế của Vĩnh Phúc đã có những bước phát triển đột
phá, vươn lên trở thành một trong những tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp
thuộc tốp đầu của cả nước,cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp
hóa hiện đại hóa trong đó công nghiệp và dịch vụ chiếm tới 84% trong tổng
GDP toàn tỉnh . Tốc độ tăng kinh tế luôn đạt tốc độ cao trung bình 10 năm
(1997-2007) đạt 17,5 %. Có sự biến đổi một cách nhanh chóng như vậy là do
Vĩnh Phúc đã biết lựa chọn công nghiệp là ngành kinh tế đòn bẩy trong phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh. Và khai thác ngoại lực, thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài cho phát triển công nghiệp là quan điểm chủ đạo và xuyên suốt
quả”. Và chính từ sự trọng thị đó, các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư
nước ngoài đã đến với Vĩnh Phúc ngày càng nhiều. Điều này được thể hiện
bằng kết quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tính đến hết năm 2007 tỉnh
Vĩnh Phúc đã thu hút được tổng cộng 164 dự án với tổng vốn đăng ký là 2060,9
triệu USD. Trong tổng số các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài của Vĩnh Phúc
thì số lượng dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, năm
2008 Vĩnh phúc thu hút được 27 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành
công nghiệp với tổng vốn đăng ký lên tới 562,7 triệu USD
Vai trò điều hành kinh tế của cán bộ tỉnh đã được chứng minh bằng kết
quả trong báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được công bố hàng năm.
Chỉ số PCI đo lường và xếp hạng công tác điều hành kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc
luôn xếp hạng trong top 10 tỉnh có năng lực cạnh tranh cao nhất.và ngày càng
được cải thiện tốt hơn qua các năm
Bảng 1.6. chỉ số năng lực cạnh tranh câp tỉnh của
Vĩnh phúc qua các năm
STT Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008
1 Điểm 65,09 61,27 66,06 69,37
2 Thứ hạng 5 8 7 3
(Nguồn :Tổng hợp báo cáo kết quả năng lực cạnh tranh cấp tỉnh- VCCI)
Nhìn từ bảng tổng hợp kết quả năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh
Phúc có thể thấy được sự tiến bộ qua từng năm, điểm số liên tục tăng trong các
năm và thứ hạng của tỉnh liên tục được cải thiện từ thứ 8 năm 2006 vượt lên thứ
3 năm 2008 và là tỉnh có thứ hạng cao nhất khu vực phía bắc. Kết quả này cho
thấy môi trường đầu tư của tỉnh liên tục được cải thiện và làm yên lòng các nhà
đầu tư khi đầu tư vào tỉnh
Trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh thì khu vực có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn đóng góp tỷ trọng lớn cụ thể
Bảng 1.7. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp Vĩnh Phúc 2002-2008.
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2007 2008
các nhà đầu tư nước ngoài.
Hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Bắc Ninh chỉ được bất
đầu từ khi năm 1995 khi tập đoàn Nippon Sheet Glass Co.Ltd (NSG) - Nhật
Bản đầu tư vào Bắc Ninh thành lập công ty liên doanh kính nổi Việt Nam, chính
sự có mặt của tập đoàn Nippon Sheet Glass đã mở ra nhiều hứa hẹn trong thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bắc Ninh
Bảng 1.8. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Bắc Ninh theo giai đoạn
Chỉ tiêu
Trước
2003 2003 2004 2005 2006 2007
200
8
Tổng
số
Số dự
án 8 2 15 17 25 38 66 171
V Đ K
(Triệu
USD) 190 7 56 133 197 456 1334 2373
( Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Bắc Ninh)
Trong giai đoạn từ năm 1997 -2003 tỉnh Bắc Ninh chỉ thu hút được 8 dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài,do ảnh hưởng của suy giảm luồng vốn FDI trên
thế giới cũng như khủng hoảng tài chính khu vực. Tuy nhiên các dự án đầu tư
trong giai đoạn này đều là những dự án lớn, quan trọng có vốn đầu tư đăng ký
khá lớn và có sức lan tỏa, đóng góp nhiều vào tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh
những năm sau này.
Biểu đồ1.6 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Bắc Ninh theo giai đoạn
Bước vào giai đoạn 2003-2008 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bắc
Ninh đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, số dự án và vốn đăng ký đều
tăng nhanh qua các năm Trong năm 2003 mặc dù số dự án đầu tư trực tiếp nước