THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CHO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP - Pdf 25

MỤC LỤC
NỘI DUNG CHÍNH
1 1
Lời mở đầu
Nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền
kinh tế. Vấn đề vốn luôn đặt ra hàng đầu cho nền kinh tế công nghiệp
hoá. Đối với nước ta, sản xuất còn ở trình độ thấp, nguồn vốn tích luỹ
trongg nước còn hạn hẹp thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển nền kinh tế. Nước
ta lại có nhiều tiềm năng lao động, tài nguyên thiên nhiên nhưng do
trình độ còn thấp kém, cơ sở vật chất kỹ thuật còn ngèo nàn lạc hậu,
nên chưa có điều kiện khai thác tiềm năng ấy.
Nước ta muốn thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy, bằng cách tăng
cường phát triển sản xuất, tạo ra mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn
định. Để thực hiện được nhiệm vụ này, khi mà trên thế giới có một số
nước nắm trong tay một lượng lớn vốn khổng lồ và có nhu cầu đầu tư ra
nước ngoài thì đó là cơ hội để nước ta tranh thủ nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài để phát triển kinh tế.
Xuất phát từ quan điểm này, Em xin trình bày đề tài : “Một số
vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm phát triển công
nghiệp ở nước ta”.
2 2
Nội dung bài viết bao gồm ba phần chính :
Phần I : Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của nó
trong sự nghiệp phát triển công nghiệp ở nước ta.
Phần II : Thực trạng của việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài cho phát triển công nghiệp.
Phần III : Biện pháp huy động nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
PHẦN I :
NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ

+Vốn đi vay: Bao gồm hai nguồn :
. Vốn đi vay trong nước.
Là vốn vay từ nhân dân thông qua phát hành trái phiếu hoặc tín
phiếu kho bạc nhà nước. Hình thức huy động vốn này là rất quan trọng
cho phát triển nền kinh tế, sử dụng được những đồng vốn nhàn rỗi, đó
chính là phần tiết kiệm của dân cư.
. Vốn đi vay nước ngoài.
Là vốn mà chính phủ hoặc các công ty trong nước vay của chính
phủ hoặc các công ty nước ngoài.
- Căn cứ vào quan hệ quản lý của người đầu tư vốn bao gồm hai
loại :
+ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Đây là phần vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài đối với các nước
đang phát triển, là nguồn vốn lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với phát
triển kinh tế. FDI không những cung cấp nguồn vốn mà nó còn thực
hiện quá trình chuyển dao công nghệ, đào tạo cán bộ kỹ thuật và tìm
5 5
thị trường tiêu thụ ổn định. Mặt khác FDI còn gắn với trách nhiệm
bảo toàn và phát triển vốn. Do đó, thu hút được nguồn vốn này sẽ
giảm được gánh nợ nước ngoài đối với các nước đang phát triển.
+ Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ( ODA).
Là nguồn vốn do các cơ quan chính thức của một nước hoặc một
tổ chức quốc tế tại trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự
phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này. Nội dung viện
trợ bao gồm :

Viện trợ không hoàn lại : thường chiếm 25% tổng vốn ODA

Hợp tác kỷ thuật


hình thức chính đó là: Xí nghiệp liên doanh; Xí nghiệp 100% vốn
nước ngoài; Hợp tác kinh tế trên cơ sở hợp đồng và hình thức ký hợp
đồng Xây Dựng – Kinh Doanh – Chuyển Giao (BOT) và Xây Dựng -
Chuyển Giao (BT) với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Tính đến
tháng 6 năm 1996 hình thức xí nghiệp liên doanh chiếm 64,6% số dự
án và 65,3% số vốn đầu tư; Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm
27,1% và chiếm 17,85 số vốn đầu tư; Hợp tác kinh doanh trên cơ sở
hợp đồng và hình thức ký hợp đồng (BOT) và (BT) chiếm 8,3% số dự
án và 16,9% số vốn đầu tư.
a1. Xí nghiệp liên doanh.
Theo quy định của luật mới, doanh nghiệp liên doanh là doanh
nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sơ hợp đồng kinh doanh,
được ký kết giữa bên hoặc các bên Việt Nam với bên hoặc các bên
Nước Ngoài để đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Liên doanh có thể
thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa chính phủ Việt Nam và
8 8
chính phủ Nước ngoài hoặc dựa trên cơ sở góp vốn của liên doanh tồn
tại với một hoặc một số đối tác Việt Nam.
a2. Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hửu của nhà đầu tư nước
ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết
quả kinh doanh.
Hình thức này được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lựa chọn
ngày càng nhiều vì nó có phần dễ thực hiện và thuận lợi hơn cho họ.
NHưng bằng hình thức đầu tư này, về phía nước nhận đầu tư thường
chỉ nhận được lợi ích trước mắt. Về lâu dài, hình thức đầu tư này
không hứa hẹn những lợi ích tốt đẹp, mà thậm chí nước nhận đầu tư
còn phải ghánh chịu nhiều hậu quả khó lường như: Ô nhiễm môi
trường, khai thác bừa bãi. ..
a3. Hợp tác kinh tế trên cơ sở hợp đồng và ký hợp đồng

tính chất mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo ra sản
phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.
+ Nhãn hiệu hàng hoá.
Là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng
loại của các cơ sở kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu có thể là từ ngữ,
hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc
nhiều màu sắc.
+ Tên gọi xuất xứ của hàng hoá.
Là tên địa lý của một địa phương dùng để chỉ xuất xứ mặt hàng
từ nước địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có tính chất,
chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý, độc đáo và ưu việt
bao gồm các yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp hai yếu tố đó.
11 11
C. Ưu nhược của vốn đàu tư trực tiếp nước ngoài.
c1. Ưu điểm.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những ưu điểm sau :
- Có nguồn tư bản rẻ hơn do khả năng tài chính của công ty mẹ.
- Quản lý tốt hơn so với các hãng địa phương.
- Công nghệ hiệ đại hơn hoặc có kinh nghiệm sử dụng công nghệ
hiệu quả hơn.
- Tiếp cận tốt hơn với nguồn nguyên vật liệu.
- Có ưu thế về trang thiết bị nên có thể thực hiện kinh tế theo
quy mô.
- Có khả năng, có được các ưu đãi và khuyến khích đầu tư từ
chính phủ của nước chủ nhà.
+ Đối với nước tiếp nhận đầu tư có ưu điểm sau.
- Đầu tư trực tiếp tạo nguồn vốn cho nhu cầu đầu tư trong nước
góp phần phát triển kinh tế.
- Góp phần chuyển giao công nghệ mới như: nhập khẩu máy móc
thiết bị, các thoả thuận trợ giúp kỹ thuật, các dịch vụ tư vấn.

Qua tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài và vấn đề đổi mới
công nghệ ở Việt Nam cho tháy chúng ta đã tiếp cận được một số kỹ
năng công nghệ tiên tiến, hiện đại, phù hợp với quá trình phát triển
của thế giới. THông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chúng ta có
thể tiếp cận được công nghệ thích hợp.
- Biện Pháp Nâng Cao Năng Lực Công Nghệ:
14 14
Các nhà đầu tư lắp đặt thiết bị máy móc hiện đại tại Việt Nam.
Để vận hành và đưa vào sản xuất đòi hỏi phải có đội ngũ công nhân có
kỹ thuật cao, tay nghề vững chắc. Do đó các lao động nước ta được
tuyển vào sẽ được đào tạo để vận hành khối máy móc đó, giúp nâng
cao năng lực công nghệ của công nhân trong nước.
Từ cách tiép cận như vậy, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng
thiết yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình công
nghiệp hoá.
Thứ nhất, về bản chất FDI là sự triển khai mạng lưới sản xuất
quốc tế, là quá trình di chuyển công nghệ và vốn trên phạm vi toàn
cầu.
Thứ hai, FDI lại làm tăng tiềm lực xuất khẩu hoặc làm tăng khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế nhận đầu tư và do đó đẩy nhanh khả
năng thâm nhập thị trường thế giới. Hơn nữa, sự thống nhất và gắn bó
của đầu tư trực tiệp nước ngoài – chuyển dịch cơ cấu –thương mại là
cốt lõi của quá trình công nghiệp hoá trong thời đại ngày nay.
15 15
III. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CỦA VIỆC THU HÚT VỐN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT
TRIỂN CÔNG NGHIÊP Ở NƯỚC TA
1. Mục tiêu.
a. Mục tiêu tổng quát.
Đánh giá đúng tầm quan trọng của vốn đầu tư trực tiếp nước

17 17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status