Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam
1.1 Khái quát về liên minh châu Âu EU
1.1.1. Quá trình lịch sử hình thành và phát triển của EU
Những ý tưởng về một Châu Âu thống nhất đã được bộc lộ từ trong lịch sử Châu
Âu xa xưa, kể cả ý đồ muốn thực hiện thống nhất bằng vũ lực. Hoàng đế Napoleon của
nước Pháp là một minh chứng điển hình. Ông đã từng nghĩ đến một Châu Âu thống
nhất với “một bộ luật Châu Âu một đồng tiền chung Châu Âu, các đơn vị đo lường, các
qui tắc Châu Âu” và ông ta đã thất bại trong việc thực hiện mơ ước chung lành mạnh đó
bằng ý đồ sử dụng vũ lực để có một Châu Âu liên kết dưới sự thống trị của người Pháp.
Cho đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất ngoại trưởng Pháp Aristide Briand
mới đề xuất trước Đại Hội đồng Hội Quốc Liên ý tưởng cụ thể về việc thành lập một
liên hiệp Châu Âu mang thể chế liên bang. Nhưng ý kiến này không gây được tiếng
vang và chưa kịp có những bàn bạc cụ thể thì thế chiến lần thứ hai ập đến như là hậu
quả của một ý tưởng ngông cuồng muốn thống nhất Châu Âu bằng bạo lực dưới sự cai
quản của một quốc gia - dân tộc tực coi mình là thượng đẳng - Đức quốc xã.
Phải đến những năm 40 của thế kỷ XX sau khi thế chiến kết thúc, mới xuất hiện
một phong trào lành mạnh ủng hộ việc tạo dựng một Châu Âu nhất thể hoá. Mặc dù
vậy, chỉ sau khi vấn đề nước Đức được đặt ra sau thế chiến thứ hai cùng với nguyện
vọng gìn giữ hoà bình Châu Âu và sự căng thẳng trong quan hệ Pháp - Đức về vùng
Sarre gây trở ngại cho tiến trình thống nhất Châu Âu thì ý tưởng liên kết hoá Châu Âu
mới được thúc đẩy để sau đó được thực hiện trong thực tế. “Cộng đồng than và thép
Châu Âu” (ECSC) ra đời ngày 18 tháng 4 năm 1951 với sáu nước thành viên là Pháp,
Đức, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, và Italia là cột mốc đầu tiên đánh dấu Châu Âu bắt đầu
tập họp lại một cách lành mạnh về tổ chức. Tuy nhiên tiến trình liên kết Châu Âu chỉ
thực sự bắt đầu khi đại diện sáu nước thành viên ECSC ký các hiệp định Roma chính
thức thành lập “Cộng đồng kinh tế Châu Âu” (EEC) và “Cộng đồng năng lượng nguyên
tử Châu Âu” (Euratom) với tư tưởng trung tâm là hình thành một thị trường rộng lớn ở
Châu Âu coi như một công cụ phối hợp và hoà nhập các chính sách kinh tế của các
nước thành viên. Đến cuộc họp thượng đỉnh giữa các vị nguyên thủ quốc gia các thành
viên của châu Âu năm 1972 tại Paris thì lần đầu tiên thuật ngữ EU được nhắc tới. Sự ra
đời các cộng đồng Châu Âu đã đáp ứng được nhu cầu tạo lập không gian không biên
Tiến trình liên kết hoá Châu Âu đang được thực hiện thắng lợi, những thời cơ và
thách thức đang hiện diện trước một Liên hiệp Châu Âu sẽ bước vào thế kỷ XXI trong
tư cách một tổ chức mạnh hơn và mở rộng hơn. Hiệp định Amsterdam đã tăng cường
một bước đáng kể về các mặt tăng cường sức mạnh, hoàn thiện khả năng trong các hoạt
động đối ngoại và cải cách khuôn khổ thiết chế cho Liên hiệp Châu Âu trước khi bước
vào giai đoạn mới có ý nghĩa quyết định của tiến trình liên kết.
Gần nửa thế kỷ hội nhập của châu Âu đã có một tác động sâu sắc tới sự phát triển của
lục địa và cách suy nghĩ của người dân trên lục địa. Nó cũng thay đổi cán cân quyền
lực. Tất cả các Chính phủ, bất kể thuộc hình thái chính trị nào, ngày nay đều nhận thức
được rằng kỷ nguyên của chủ quyền quốc gia tuyệt đối đã qua đi. Chỉ có thông qua liên
kết lực lượng và nỗ lực hướng tới “một căn cước chung” - trích Hiệp ước về Cộng đồng
Than và Thép châu Âu - thì các quốc gia châu Âu cũ mới tiếp tục được hưởng tới sự
phát triển kinh tế xã hội và duy trì được ảnh hưởng của mình trên thế giới.
1.1.2. Cơ cấu của EU:
EU là từ viết tắt tiếng Anh của European Union nghĩa là Liên minh châu Âu. Nó bao
gồm 15 nước thành viên là: Anh, Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha, Luxembourg, Hà Lan,
Thụy Điển, Đan Mạch, Bỉ, Áo, Hy Lạp, Phần Lan, Ailen và Bồ Đào Nha. Cơ cấu của
EU được xây dựng trên ba thành phần cơ bản chính là Cộng đồng chung châu Âu
(European Community), chính sách chung về an ninh và đối ngoại (Common foreign
and security policy), đồng hợp tác trong vấn đề tư pháp và nội vụ (Cooperation in
justice and home affairs).
Các điều khoản chủ yếu trong hiệp ước của EU được dựa trên các nguyên tắc cơ bản
sau đây:
- Lương thực chung;
- Sửa đổi Hiệp ước EEC thành EC (European Community), bao gồm liên hiệp kinh tế
và tiền tệ, liên hiệp về thuế quan, thị trường đơn nhất, chính sách nông nghiệp chung,
chính sách hạ tầng và vấn đề công dân của Liên hiệp.
- Chính sách về an ninh và đối ngoại (CFSP).
- Hợp tác về các vấn đề pháp luật và nội vụ;
- Tài chính chung;
hơn 370 triệu người (6% dân số của thế giới), liên minh châu Âu đã chiếm tới một phần
năm thương mại của toàn thế giới, đặc biệt khi các nước được thống nhất bởi một quyết
định về thương mại thì lợi thế này chắc chắn sẽ tăng lên.
Ngoài ra các chỉ số phát triển khác đều rất cao, như mức sống thì quả thật EU là
miền đất hứa cho nhiều người, là một mô hình mà hầu hết các nước khác trên thế giới
đều hướng tới, với mức GDP/người là rất cao, có nước vượt cả Mỹ và Nhật Bản, tỷ lệ
thất nghiệp cũng đã giảm dần trong những năm gần đây. Một đặc điểm nổi bật nữa ở
các nước EU trong thời gian vừa qua là kinh tế của các nước của các nước đều tăng
trưởng, tuy cao thấp khác nhau, nhưng ổn định.
1.2 Tổng quan về FDI ở Việt Nam
1.2.1.Tình hình FDI từ năm 1988 đến 2006
Trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, dòng FDI vào Việt Nam còn nhỏ. Đến
năm 1991, tổng vốn FDI ở Việt Nam mới chỉ là 213 triệu đô-la Mỹ. Tuy nhiên, con số
FDI đăng ký đã tăng mạnh từ 1992 và đạt đỉnh điểm vào 1996 với tổng vốn đăng ký lên
đến 8,6 tỷ đô-la Mỹ. Sự tăng mạnh mẽ của FDI này là do nhiều nguyên nhân. Các nhà
đầu tư nước ngoài bị thu hút bởi tiềm năng của một nền kinh tế đang trong thời kỳ
chuyển đổi với một thị trường phần lớn còn chưa được khai thác. Thêm vào đó, các nhà
đầu tư nước ngoài còn bị hấp dẫn bởi hàng loại các yếu tố tích cực khác như lực lượng
lao động dồi dào, giá nhân công rẻ và tỷ lệ biết chữ cao.Bên cạnh những yếu tố bên
trong còn có các yếu tố bên ngoài đóng góp vào việc gia tăng của FDI. Thứ nhất là làn
sóng vốn chảy dồn về các thị trường mới nổi trong những năm 80 và đầu những năm
90. Trong các thị trường này, Đông Nam Á là một điểm chính nhận FDI. Năm 1990, các
nước Đông Nam Á thu hút 36% tổng dòng FDI đến các nước đang phát triển. Thứ hai là
dòng vốn nước ngoài vào các nền kinh tế quá độ khối xã hội chủ nghĩa trước đây, nơi
mà họ cho rằng đang có các cơ hội kinh doanh mới và thu lợi nhuận. Thứ ba, là các
nước mạnh trong vùng (cụ thể là Mã-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái-lan,…) đã bắt đầu xuất
khẩu vốn. Là một nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ ở Đông Nam Á, Việt Nam có
được lợi thế từ các yếu tố này.
Trong khoảng thời gian 1991-1996, FDI đóng một vai trò quan trọng trong việc
tài trợ cho sự thiếu hụt trong tài khoản vãng lai của Việt Nam và đã có những đóng góp
vốn đăng ký mới và bổ sung đạt 10.567,7 triệu USD, bằng 34,8% trong 9 năm đầu và
đạt xấp xỉ bằng tổng vốn trong 6 năm từ 1997-2002, bình quân 1 năm đạt hơn 4 tỷ
USD, cao nhất trong 3 giai đoạn.
Sự "khởi sắc" trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tính từ cuối năm 2003,
đặc biệt trong 7 tháng đầu năm 2005 được thể hiện ở nhiều mặt:
- Tổng số vốn đăng ký mới trong 7 tháng đầu năm 2005 đạt khoảng 3,2 tỷ USD,
tăng 66,6% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn số cả năm của 8 năm (1988, 1989, 1990,
1991, 1992, 1999, 2000, 2002).
- Sự tăng lên của vốn đầu tư đạt được cả ở 2 kênh. Tính từ đầu năm đến 20/7 đã
có 419 dự án mới được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 2.100 triệu USD, so với cùng
kỳ năm trước tăng 16,7% về số dự án và tăng tới 118,2% về số vốn đăng ký (7 tháng
đầu năm 2004 có 359 dự án với số vốn đăng ký 962,5 triệu USD).
Cũng trong thời gian này đã có 277 lượt dự án đang hoạt động bổ sung vốn với
tổng số vốn đăng ký tăng thêm 1,12 tỷ USD, tăng 40,6% về số lượt dự án và tăng
13,1% về số vốn đăng ký bổ sung. Nếu tính cả số vốn của những dự án mới được cấp
phép và số vốn bổ sung của những dự án đang hoạt động thì tổng số vốn đăng ký mới
trong 7 tháng đầu năm 2005 đạt khoảng 3,2 tỷ USD, tăng 66,6% so với cùng kỳ năm
trước.
- Bên cạnh những dự án có quy mô như những năm trước đã xuất hiện những dự
án mới có quy mô vốn khá lớn, trong đó có dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh điện
thoại di động CDMA với tổng số vốn đăng ký lên đến 665 triệu USD; nhiều dự án đang
hoạt động xin tăng vốn lên tới 50-70 triệu USD.
- Cơ cấu đầu tư theo nhóm ngành đã có sự thay đổi theo hướng tích cực. Nếu
trong thời kỳ 1988-2004, tỷ trọng vốn đăng ký đầu tư vào nhóm ngành công nghiệp xây
dựng lên đến 65,3%, vào nhóm ngành dịch vụ chỉ có 28,7% thì trong 7 tháng đầu năm
nay, các con số tương ứng đã có sự thay đổi đáng kể là 49,1% và 47,9%.
Đây là tín hiệu để có thể gia tăng tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP (đã bị
giảm liên tục trong thời kỳ 1995-2003, từ 44,06% xuống còn 37,99% đến năm 2004
mới chặn lại được và chỉ tăng nhẹ lên mức 38,15%).
Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2006 cả nước thu hút
kinh doanh để tìm kiếm cơ hội đầu tư ... Rồi hàng loạt các sự kiện diễn ra tại Việt Nam
trong năm 2006 đã góp phần làm nổi lên làn sóng đầu tư mà đỉnh cao là vốn đăng ký và
vốn thực hiện của năm 2006 đều đạt mức đỉnh điểm kể từ khi nước ta thực thi Luật Đầu
tư. Rõ ràng nước ta đang đứng trước những cơ hội mới và cả những thách thức để có
thể thu hút mạnh mẽ hơn nguồn vốn FDI, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
1.2.2. Tình hình FDI từ 2006 đến năm 2009
Cùng với việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế, VN đã chứng
kiến một "làn sóng đầu tư thứ hai" hết sức mạnh mẽ kể từ năm 2006 đến nay, mà đỉnh
cao là 20,3 tỉ USD thu hút trực tiếp FDI trong năm 2007.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), tính đến cuối năm 2007, cả nước đã thu hút
được hơn 9.500 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỉ USD (gồm cả vốn cấp
mới và vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động hoặc giải thể trước thời
hạn, hiện còn khoảng 8.590 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 83,1 tỉ USD.
Trong số này, đã có khoảng 50% số dự án triển khai góp vốn thực hiện đạt hơn 43 tỉ
USD, chiếm 52,3% tổng vốn đăng ký.
Các dự án ĐTNN đi vào hoạt động đã tạo ra tổng giá trị doanh thu đáng kể, giá
trị XK, đóng góp cho ngân sách, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động.
Hiện khu vực có vốn ĐTNN đã đóng góp trên 17% GDP, chiếm 16% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội, đạt giá trị doanh thu trong 2 năm 2006-2007: 69 tỉ USD, trong đó giá trị
XK (trừ dầu thô) đạt 28,6 tỉ USD, chiếm 41% tổng doanh thu.
Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã tăng đáng kể
(32,3 tỉ USD), với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu vào những
lĩnh vực chúng ta chủ trương thu hút đầu tư như công nghiệp (sản xuất thép, điện tử,
sản phẩm công nghệ cao,...) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin,
du lịch-dịch vụ cao cấp v.v...).
Trong quý I năm 2008, các doanh nghiệp ĐTNN đã góp vốn đầu tư thực hiện
trên 1,68 tỷ USD, tăng 24% so với vốn thực hiện của cùng kỳ năm trước. Doanh thu
của các doanh nghiệp ĐTNN trong qúy I năm 2008 ước tính đạt 7.600 triệu USD, tăng
27% so với cùng kỳ năm trước; trong đó giá trị xuất khẩu ước đạt 5.398 triệu USD, tăng
1,982tỷ USD, tăng 25,8% so với năm 2007.Cũng trong năm nay, khối doanh nghiệp này
đã tạo ra trên 200 nghìn việc làm mới trong tổng số 1,615 triệu việc làm mới tạo được
của cả nước, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1,467 triệu người,
góp phần giải quyết vấn đề công ăn việc làm vốn đang rất nóng bỏng của Việt Nam
hiện nay.
* Năm dự án có vốn đầu tư lớn nhất trong năm 2008:
- Dự án Công ty TNHH Thép Vinashin - Lion (Malaysia) có số vốn đăng ký 9,8 tỷ
USD;
- Dự án Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa của Đài Loan 7,9 tỷ USD;
- Dự án Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) của Nhật Bản và Kuwait liên doanh
6,2 tỷ USD;
- Dự án Công ty TNHH New City Việt Nam 4,3 tỷ USD;
- Dự án Hồ Tràm của Canada trên 4,2 tỷ USD.
* Chỉ tiêu kế hoạch năm 2008 được dự kiến từ đầu năm:
- Vốn thực hiện: đạt 10 tỷ USD vượt 25% năm 2007 (8 tỷ USD).
- Lao động: 160.000 người, tăng 6,7% so với năm 2007;
- Nộp ngân sách Nhà nước: 2 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2007.
Năm 2009, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đổ vào Việt Nam thu hút
được 1.504 dự án FDI cả cấp mới và tăng vốn đạt trên 21,4 tỷ USD, bằng chưa đến
30% so với năm 2008 nhưng vẫn vượt mức kế hoạch đề ra. Đây vẫn được xem là kết
quả lạc quan trong bối cảnh nguồn vốn FDI trên toàn thế giới năm qua suy giảm gần
40% do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Nếu so với mục tiêu 20 tỷ USD đặt
ra từ đầu năm, việc thu hút FDI của Việt Nam trong năm nay không phải là quá tệ, nếu
không nói là kết quả khá, nhất là trong xu thế vốn FDI đổ vào các nước và khu vực trên
thế giới giảm do khủng hoảng. Vốn đăng ký cấp mới giảm mạnh tới 70% so với năm
trước, song số vốn giải ngân chỉ giảm 13%, ước đạt 10 tỷ USD. Cụ thể, trong năm
2009, Việt Nam thu hút được 839 dự án FDI đăng ký mới với tổng vốn đầu tư 16,345 tỷ
USD, bằng 24,6% so với cùng kỳ năm 2008. Cùng trong năm này, có 215 lượt dự án
tăng vốn với tổng vốn tăng thêm 5,137 tỷ USD, bằng 98,3% so với con số tương ứng
của năm ngoái. Việc các nhà đầu tư tăng vốn cho các dự án FDI cho thấy cái nhìn tích
toàn có thể tiếp cận.FDI của EU liên tục gia tăng về quy mô và nhịp độ,EU hiện có
hàng trăm dự án với tổng vốn đầu tư lên đến hàng tỷ USD.Trong đó Anh, Pháp, Hà Lan,
Thụy Điển và CHLB Đức là 5 nước đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất trong khối EU.
Đặc biệt khi Vệt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Ông
Oliver Massman, thành viên ban quản trị Phòng thương mại Châu Âu (Eurocham) tại
Việt Nam cho biết, các nhà đầu tư châu Âu ngày càng tin tưởng hơn vào các cơ hội kinh
doanh tại Việt Nam; đầu tư nước ngoài, trong đó có đầu tư từ châu Âu,ở châu Âu, mối
quan tâm đến làm ăn tại Việt Nam đang ngày càng lớn hơn.Các tập đoàn viễn thông
chẳng hạn sẽ chắc chắn có mặt ngày càng đông vì Việt Nam có thị trường viễn thông rất
hấp dẫn, đối với các nhà đầu tư, lợi thế lớn của Việt Nam là một trong những quốc gia
có “ổn định chính trị tốt nhất trong thập kỷ qua ở châu Á” và một lợi thế lớn nữa là Việt
Nam có nhân công tay nghề cao, học hỏi nhanh và lương tương đối thấp. Đánh giá cao
cố gắng của Chính phủ Việt Nam nhằm cải thiện môi trường đầu tư, cơ quan hữu trách
thật sự cầu thị và lắng nghe lời khuyên từ các nhà đầu tư. So với các nước khác khá bảo
thủ trong việc này ,Việt Nam là một nước rất tích cực.Tuy nhiên, gia nhập WTO cũng
có nghĩa là Việt Nam sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới và để giữ vững khả
năng cạnh tranh và mức tăng trưởng cao, Việt Nam sẽ cần tái cơ cấu nền kinh tế và cải
thiện cơ sở hạ tầng, hướng tới sự tăng trưởng bền vững.Sau khi gia nhập WTO, mức
lương cho công nhân trong ngành sản xuất sẽ tăng. Điều này có lợi cho lao động nhưng
đối với nhà sản xuất, họ sẽ cân nhắc về điều này. Chính vì vậy, Việt Nam cũng cần cẩn
trọng khi tăng lương quá nhanh bởi như thế có thể đánh mất lợi thế cạnh tranh so sánh
với các nước trong khu vực.Ngoài ra để thu hút nhiều đầu tư, Việt Nam cần có hệ thống
luật pháp và thương mại ổn định và có trách nhiệm giải trình, và ban hành các hướng
dẫn thi hành thật rõ ràng. Các vấn đề về tranh chấp lao động hoặc các hướng dẫn rõ
ràng về việc mở văn phòng đại diện của các Công ty thương mại cũng cần được giải
quyết thấu đáo và triệt để để tạo lòng tin cho các nhà đầu tư. Hiện nay xuất khẩu của
Việt Nam mới chỉ dựa chủ yếu vào các mặt hàng sơ chế và nguyên liệu và còn thiếu cơ
sở cho tăng trưởng bền vững, do đó Việt Nam cần thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực
chế biến để làm sao thêm giá trị gia tăng tại Việt Nam vào các mặt hàng rồi mới xuất
khẩu. Việt Nam sẽ thành công hơn trong thu hút đầu tư so với các nước trong khu vực