Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
Bước vào thế kỷ 21, Việt Nam đang đứng trước rất nhiều thời cơ cũng như thách thức
lớn đối với quá trình phát triển nền kinh tế xã hội của mình.Trong quá trình phát triển
này, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng được khẳng định đối với nước
ta.Trước đây có một nguyên nhân chủ yếu là hầu hết các nhà đầu tư lớn vào Việt Nam
thuộc các nước có nền kinh tế đang phát triển như Thái Lan, Indonesia. Hoặc các nước
thuộc NICs như Hàn Quốc, Đài Loan. Những nước bị cơn khủng hoảng làm chao đảo
nền kinh tế dẫn đến việc giảm đầu tư ra nước ngoài của họ. Chính những lúc này chúng
ta mới thấy việc cần thiết phải có một luồng vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam thật ổn
định, các luồng vốn này thường xuất phát từ những nước phát triển hàng đầu trên thế
giới - những nước có tiềm lực rất lớn về vốn và công nghệ, trong đó có các nước thuộc
liên minh châu Âu. Điều này dẫn đến việc chúng ta cần phải thúc đẩy tăng cường hơn
nữa sự hợp tác chặt chẽ vốn có, từ đó lôi kéo nguồn vốn FDI của khối này vào Việt
Nam, đồng thời quản lý chặt chẽ nguồn vốn thật hiệu quả, tránh những sai lầm đáng tiếc
trước đây mắc phải. Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP CỦA EU VÀO VIỆT NAM”. Nội dung của đề tài bao gồm
2 phần :
Chương I:Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam
Chương II: Giải pháp tăng cường thu hút FDI của EU vào VN trong thời gian tới.
Trong bài viết không thể tránh khỏi những sai sót, tôi kính mong các Thày cô, và
các bạn đọc góp ý và chỉ dạy. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Danh Hùng
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
1
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
MỤC LỤC
1.1.2. Cơ cấu của EU: .............................................................................................................. 6
1.1.3. Tiềm năng về kinh tế của EU: ...................................................................................... 7
2.1.1.3. Quan hệ hợp tác lâu năm giữa các nước EU và Việt Nam: ..................................... 45
3
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
đồng kinh tế Châu Âu” (EEC) và “Cộng đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu”
(Euratom) với tư tưởng trung tâm là hình thành một thị trường rộng lớn ở Châu Âu coi
như một công cụ phối hợp và hoà nhập các chính sách kinh tế của các nước thành viên.
Đến cuộc họp thượng đỉnh giữa các vị nguyên thủ quốc gia các thành viên của châu Âu
năm 1972 tại Paris thì lần đầu tiên thuật ngữ EU được nhắc tới. Sự ra đời các cộng đồng
Châu Âu đã đáp ứng được nhu cầu tạo lập không gian không biên giới cho việc tự do lưu
chuyển các nguồn lực và sản phẩm trong toàn Châu Âu.
Bước tiến quan trọng tiếp theo tạo ra sự cải biến căn bản khuôn khổ thiết chế và
chính trị cho tiến trình nhất thể hoá Châu Âu là việc ký kết văn bản Định ước Châu Âu
duy nhất (the Single European Act) theo đuổi mục tiêu hình thành thị trường Châu Âu
đơn nhất (the Single European market) với mốc thời gian là ngày 31 tháng 12 năm 1992.
Tiếp đó việc ký kết Hiệp định về Liên hiệp Châu Âu (EU) tại Maastricht tháng 10 năm
1993 là một cuộc cải cách toàn diện nhất các hiệp định Roma thúc đẩy sự liên kết Châu
Âu trên cả ba trụ cột của EU là cộng đồng Châu Âu, chính sách đối ngoại và an ninh
chung và hợp tác về tư pháp và nội vụ.
Liên hiệp Châu Âu đang thực hiện các chính sách tiếp tục thúc đẩy liên kết hoá
trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI nhằm làm cho EU trở nên mạnh hơn và mở rộng. Bước
vào thiên niên kỷ mới Liên hiệp Châu Âu đã khẳng định:
- Các chính sách đối nội phải nhằm tới sự phát triển bền vững và việc làm, gắn
kết kinh tế - xã hội và phát triển nông nghiệp.
- Tiến trình liên kết hoá Châu Âu phải làm sao nâng cao được vai trò của EU trên
trường quốc tế.
- Trong quá trình thực hiện liên kết Châu Âu, EU không chỉ mạnh hơn mà còn
mở rộng hơn về lãnh thổ.
Thực hiện Hiệp định Amsterdam, tiến trình đi tới liên minh kinh tế và tiền tệ
(EU) như đỉnh cao mới của liên kết hoá Châu Âu đang tạo ra động lực thúc đẩy toàn bộ
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
4
Thụy Điển, Đan Mạch, Bỉ, Áo, Hy Lạp, Phần Lan, Ailen và Bồ Đào Nha. Cơ cấu của
EU được xây dựng trên ba thành phần cơ bản chính là Cộng đồng chung châu Âu
(European Community), chính sách chung về an ninh và đối ngoại (Common foreign and
security policy), đồng hợp tác trong vấn đề tư pháp và nội vụ (Cooperation in justice and
home affairs).
Các điều khoản chủ yếu trong hiệp ước của EU được dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau
đây:
- Lương thực chung;
- Sửa đổi Hiệp ước EEC thành EC (European Community), bao gồm liên hiệp kinh tế và
tiền tệ, liên hiệp về thuế quan, thị trường đơn nhất, chính sách nông nghiệp chung, chính
sách hạ tầng và vấn đề công dân của Liên hiệp.
- Chính sách về an ninh và đối ngoại (CFSP).
- Hợp tác về các vấn đề pháp luật và nội vụ;
- Tài chính chung;
- Nghị định thư, trong đó quan trọng nhất là mối liên kết quan hệ về kinh tế và xã hội và
các chính sách xã hội để giải thích cho sự liên hệ tới CFSP và những văn bản của các
nước thành viên của Liên hiệp Tây Âu (WEU) về vai trò của họ.
Đồng thời Liên minh châu Âu được quản lý bởi một loạt các thể chế sau chung. Các thể
chế chính bao gồm:
- Một nghị viện được bầu thông qua bầu cử tự do, nó cung cấp một diễn đàn dân chủ cho
việc tranh luận, mang chức năng giám hộ và giữ vai trò giám hộ trong tiến trình lập
pháp;
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
6
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
- Hội Đồng châu Âu, bao gồm các bộ trưởng của 15 nước thành viên và là cơ quan chủ
yếu ra quyết định;
- Uỷ Ban châu Âu đại diện cho quyền lợi của Cộng Đồng và là cơ quan thi hành chính
sách của Cộng Đồng;
- Toà án Tư pháp được đặt tại Luxembourg và đảm bảo luật pháp của Cộng Đồng được
1.2.1.Tình hình FDI từ năm 1988 đến 2006
Trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, dòng FDI vào Việt Nam còn nhỏ. Đến
năm 1991, tổng vốn FDI ở Việt Nam mới chỉ là 213 triệu đô-la Mỹ. Tuy nhiên, con số
FDI đăng ký đã tăng mạnh từ 1992 và đạt đỉnh điểm vào 1996 với tổng vốn đăng ký lên
đến 8,6 tỷ đô-la Mỹ. Sự tăng mạnh mẽ của FDI này là do nhiều nguyên nhân. Các nhà
đầu tư nước ngoài bị thu hút bởi tiềm năng của một nền kinh tế đang trong thời kỳ
chuyển đổi với một thị trường phần lớn còn chưa được khai thác. Thêm vào đó, các nhà
đầu tư nước ngoài còn bị hấp dẫn bởi hàng loại các yếu tố tích cực khác như lực lượng
lao động dồi dào, giá nhân công rẻ và tỷ lệ biết chữ cao.Bên cạnh những yếu tố bên
trong còn có các yếu tố bên ngoài đóng góp vào việc gia tăng của FDI. Thứ nhất là làn
sóng vốn chảy dồn về các thị trường mới nổi trong những năm 80 và đầu những năm 90.
Trong các thị trường này, Đông Nam Á là một điểm chính nhận FDI. Năm 1990, các
nước Đông Nam Á thu hút 36% tổng dòng FDI đến các nước đang phát triển. Thứ hai là
dòng vốn nước ngoài vào các nền kinh tế quá độ khối xã hội chủ nghĩa trước đây, nơi
mà họ cho rằng đang có các cơ hội kinh doanh mới và thu lợi nhuận. Thứ ba, là các nước
mạnh trong vùng (cụ thể là Mã-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái-lan,…) đã bắt đầu xuất khẩu
vốn. Là một nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ ở Đông Nam Á, Việt Nam có được
lợi thế từ các yếu tố này.
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
8
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
Trong khoảng thời gian 1991-1996, FDI đóng một vai trò quan trọng trong việc
tài trợ cho sự thiếu hụt trong tài khoản vãng lai của Việt Nam và đã có những đóng góp
cho cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam.
Trong giai đoạn 1997-1999, Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tụt dốc của
nguồn FDI đăng ký, cụ thể là 49% năm 1997, 16% năm 1998 và 59% năm 1999, một
phần là do khủng hoảng tài chính châu Á. Năm nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam đều
từ khu vực châu Á và phải đối mặt với những khó khăn thực sự tại quốc gia của mình.
Để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh tại nước mình, các nhà đầu tư này đã buộc phải
huỷ hoặc hoãn các kế hoạch mở rộng ra nước ngoài. Cuộc khủng hoảng cũng buộc các
tăng 66,6% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn số cả năm của 8 năm (1988, 1989, 1990,
1991, 1992, 1999, 2000, 2002).
- Sự tăng lên của vốn đầu tư đạt được cả ở 2 kênh. Tính từ đầu năm đến 20/7 đã
có 419 dự án mới được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 2.100 triệu USD, so với cùng
kỳ năm trước tăng 16,7% về số dự án và tăng tới 118,2% về số vốn đăng ký (7 tháng đầu
năm 2004 có 359 dự án với số vốn đăng ký 962,5 triệu USD).
Cũng trong thời gian này đã có 277 lượt dự án đang hoạt động bổ sung vốn với
tổng số vốn đăng ký tăng thêm 1,12 tỷ USD, tăng 40,6% về số lượt dự án và tăng 13,1%
về số vốn đăng ký bổ sung. Nếu tính cả số vốn của những dự án mới được cấp phép và
số vốn bổ sung của những dự án đang hoạt động thì tổng số vốn đăng ký mới trong 7
tháng đầu năm 2005 đạt khoảng 3,2 tỷ USD, tăng 66,6% so với cùng kỳ năm trước.
- Bên cạnh những dự án có quy mô như những năm trước đã xuất hiện những dự
án mới có quy mô vốn khá lớn, trong đó có dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh điện
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
10
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
thoại di động CDMA với tổng số vốn đăng ký lên đến 665 triệu USD; nhiều dự án đang
hoạt động xin tăng vốn lên tới 50-70 triệu USD.
- Cơ cấu đầu tư theo nhóm ngành đã có sự thay đổi theo hướng tích cực. Nếu
trong thời kỳ 1988-2004, tỷ trọng vốn đăng ký đầu tư vào nhóm ngành công nghiệp xây
dựng lên đến 65,3%, vào nhóm ngành dịch vụ chỉ có 28,7% thì trong 7 tháng đầu năm
nay, các con số tương ứng đã có sự thay đổi đáng kể là 49,1% và 47,9%.
Đây là tín hiệu để có thể gia tăng tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP (đã bị
giảm liên tục trong thời kỳ 1995-2003, từ 44,06% xuống còn 37,99% đến năm 2004 mới
chặn lại được và chỉ tăng nhẹ lên mức 38,15%).
Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2006 cả nước thu hút
được gần 10 tỉ USD vốn đăng ký mới, tăng 45,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có
khoảng 800 dự án được cấp mới, với tổng vốn đăng ký trên 7,6 tỉ USD, tăng 60,8% so
với cùng kỳ năm trước và 490 lượt dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất với số vốn
tăng thêm khoảng 2,4 tỉ USD. Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án trong năm
năm 2006 đã góp phần làm nổi lên làn sóng đầu tư mà đỉnh cao là vốn đăng ký và vốn
thực hiện của năm 2006 đều đạt mức đỉnh điểm kể từ khi nước ta thực thi Luật Đầu tư.
Rõ ràng nước ta đang đứng trước những cơ hội mới và cả những thách thức để có thể thu
hút mạnh mẽ hơn nguồn vốn FDI, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
1.2.2. Tình hình FDI từ 2006 đến năm 2009
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
12
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
Cùng với việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế, VN đã chứng
kiến một "làn sóng đầu tư thứ hai" hết sức mạnh mẽ kể từ năm 2006 đến nay, mà đỉnh
cao là 20,3 tỉ USD thu hút trực tiếp FDI trong năm 2007.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), tính đến cuối năm 2007, cả nước đã thu hút
được hơn 9.500 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỉ USD (gồm cả vốn cấp
mới và vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động hoặc giải thể trước thời
hạn, hiện còn khoảng 8.590 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 83,1 tỉ USD.
Trong số này, đã có khoảng 50% số dự án triển khai góp vốn thực hiện đạt hơn 43 tỉ
USD, chiếm 52,3% tổng vốn đăng ký.
Các dự án ĐTNN đi vào hoạt động đã tạo ra tổng giá trị doanh thu đáng kể, giá trị
XK, đóng góp cho ngân sách, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Hiện
khu vực có vốn ĐTNN đã đóng góp trên 17% GDP, chiếm 16% tổng vốn đầu tư toàn xã
hội, đạt giá trị doanh thu trong 2 năm 2006-2007: 69 tỉ USD, trong đó giá trị XK (trừ dầu
thô) đạt 28,6 tỉ USD, chiếm 41% tổng doanh thu.
Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã tăng đáng kể
(32,3 tỉ USD), với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu vào những
lĩnh vực chúng ta chủ trương thu hút đầu tư như công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản
phẩm công nghệ cao,...) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du
lịch-dịch vụ cao cấp v.v...).
Trong quý I năm 2008, các doanh nghiệp ĐTNN đã góp vốn đầu tư thực hiện trên
1,68 tỷ USD, tăng 24% so với vốn thực hiện của cùng kỳ năm trước. Doanh thu của các
Năm qua, các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đã giải ngân số vốn lên tới 11,5 tỷ USD,
tăng 43,2% so với năm 2007.Nếu trong giai đoạn 20 năm trước đó (1988-2007), vốn FDI
thực hiện đạt 43 tỷ USD, tức là tính trung bình chỉ giải ngân được 2,15 tỷ USD/năm, thì
giải ngân trong năm 2008 đã bằng 26,7% tổng số vốn giải ngân 20 năm trước đó. Năm
2008, khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,982tỷ USD, tăng
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
14
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
25,8% so với năm 2007.Cũng trong năm nay, khối doanh nghiệp này đã tạo ra trên 200
nghìn việc làm mới trong tổng số 1,615 triệu việc làm mới tạo được của cả nước, nâng
tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1,467 triệu người, góp phần giải quyết
vấn đề công ăn việc làm vốn đang rất nóng bỏng của Việt Nam hiện nay.
* Năm dự án có vốn đầu tư lớn nhất trong năm 2008:
- Dự án Công ty TNHH Thép Vinashin - Lion (Malaysia) có số vốn đăng ký 9,8 tỷ USD;
- Dự án Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa của Đài Loan 7,9 tỷ USD;
- Dự án Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) của Nhật Bản và Kuwait liên doanh
6,2 tỷ USD;
- Dự án Công ty TNHH New City Việt Nam 4,3 tỷ USD;
- Dự án Hồ Tràm của Canada trên 4,2 tỷ USD.
* Chỉ tiêu kế hoạch năm 2008 được dự kiến từ đầu năm:
- Vốn thực hiện: đạt 10 tỷ USD vượt 25% năm 2007 (8 tỷ USD).
- Lao động: 160.000 người, tăng 6,7% so với năm 2007;
- Nộp ngân sách Nhà nước: 2 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2007.
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
15
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
Năm 2009, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đổ vào Việt Nam thu hút
được 1.504 dự án FDI cả cấp mới và tăng vốn đạt trên 21,4 tỷ USD, bằng chưa đến 30%
so với năm 2008 nhưng vẫn vượt mức kế hoạch đề ra. Đây vẫn được xem là kết quả lạc
quan trong bối cảnh nguồn vốn FDI trên toàn thế giới năm qua suy giảm gần 40% do ảnh
năm 1998 có 79 dự án đang được thực hiện, với tổng số vốn đầu tư là 633,5 triệu
USD.Đầu tư là lĩnh vực được hai bên khuyến khích thông qua việc tạo môi trường thuận
lợi cho đầu tư tư nhân bao gồm những điều kiện tốt hơn về chuyển vốn và trao đổi
thông tin về các cơ hội đầu tư, được thể hiện là: EU giúp Việt Nam cải thiện môi trường
kinh tế bằng cách tạo thuận lợi cho việc tiếp cận công nghệ của EU; bên cạnh đó phía
EU cũng tạo thuận lợi cho việc tiếp xúc giữa các nhà kinh doanh tiến hành các biện pháp
nhằm khuyến khích, trao đổi, buôn bán và đầu tư trực tiếp và việc tăng cường hiểu biết
lẫn nhau trong lĩnh vực môi trường kinh tế, xã hội của mình.Nhận rõ tiềm năng to lớn và
chính sách quan hệ quốc tế của EU (các nước châu Âu thường quan tâm đến nội bộ châu
Âu hơn), Việt Nam cần xúc tiến, khai thông quan hệ với EU, phải tìm mọi cách để hoà
nhập vào thị trường EU mặc dù việc hoà nhập vào thị trường này không phải dễ dàng
nhưng đó cũng là một thị trường mà Việt Nam hoàn toàn có thể tiếp cận.FDI của EU
liên tục gia tăng về quy mô và nhịp độ,EU hiện có hàng trăm dự án với tổng vốn đầu tư
lên đến hàng tỷ USD.Trong đó Anh, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển và CHLB Đức là 5 nước
đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất trong khối EU.
Đặc biệt khi Vệt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Ông Oliver
Massman, thành viên ban quản trị Phòng thương mại Châu Âu (Eurocham) tại Việt Nam
cho biết, các nhà đầu tư châu Âu ngày càng tin tưởng hơn vào các cơ hội kinh doanh tại
Việt Nam; đầu tư nước ngoài, trong đó có đầu tư từ châu Âu,ở châu Âu, mối quan tâm
đến làm ăn tại Việt Nam đang ngày càng lớn hơn.Các tập đoàn viễn thông chẳng hạn sẽ
chắc chắn có mặt ngày càng đông vì Việt Nam có thị trường viễn thông rất hấp dẫn, đối
với các nhà đầu tư, lợi thế lớn của Việt Nam là một trong những quốc gia có “ổn định
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
17
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
chính trị tốt nhất trong thập kỷ qua ở châu Á” và một lợi thế lớn nữa là Việt Nam có
nhân công tay nghề cao, học hỏi nhanh và lương tương đối thấp. Đánh giá cao cố gắng
của Chính phủ Việt Nam nhằm cải thiện môi trường đầu tư, cơ quan hữu trách thật sự
cầu thị và lắng nghe lời khuyên từ các nhà đầu tư. So với các nước khác khá bảo thủ
trong việc này ,Việt Nam là một nước rất tích cực.Tuy nhiên, gia nhập WTO cũng có
các lĩnh vực cơ sở hạ tầng như bưu chính viễn thông, điện nước, dịch vụ, tài chính, ngân
hàng,…chiếm hàng tỷ USD và chiếm số lượng lớn trong tổng vốn đầu tư của EU vào
Việt Nam.
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
19
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
Những lĩnh vực nổi bật của đầu tư EU tại Việt Nam:
Công nghiệp dầu khí.
Đây là lĩnh vực được các nhà đầu tư EU đặc biệt quan tâm.Nếu không tính đến
những hợp đồng đã hết hạn hoặc giải thể, hơn một nửa số dự án thăm dò khai thác dầu
khí ở Việt Nam đã thuộc về các nhà đầu tư EU , với số vốn đầu tư 1724 triệu USD với
các đối tác lừng danh thế giới như tập đoàn BP ( Vương Quốc Anh), Shell (Hà Lan),
Total (Pháp), Fina ( Bỉ), OMV (Áo). . Ngày 7/3/2007, BP Việt Nam cho biết, tập đoàn
này cùng các đối tác dự định đầu tư trên 2 tỷ USD cho dự án tổng thể tương tự dự án
khí - điện - đạm đã thực hiện tại Việt Nam là dự án Nam Côn Sơn. Theo đó, một đường
ống dẫn khí sẽ được xây dựng để chuyển khí từ 2 mỏ Mộc Tinh và Hải Thạch .Năm
2009, tập đoàn BP, tập đoàn dầu châu Âu đã kí thỏa thuận với hai chi nhánh của Tập
đoàn xăng dầu và khí đốt Việt Nam (PetroVietnam) về việc cung cấp dầu thô đến nhà
máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam ở Dung Quất.Tập đoàn BP và Castrol (Vương Quốc
Anh) liên doanh sản xuất dầu nhờn và mỡ bôi trơn cho các loại động cơ.
Giao thông vận tải – bưu điện
Trong lĩnh vực này, các tên tuổi nổi tiếng như Siemens(Đức), Alcatel(Pháp),
Kinevik, Comvik(Thụy Điển) cũng đã trở nên quen thuộc với thị trường Việt
Nam.Những hãng này ngay từ đầu đã mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực còn nhiều mới mẻ ở
Việt Nam, trong khi các hãng vienx thông khác chỉ thực hiện các hợp đồng thương mại
khai thác dịch vụ viễn thông. Những dự án lớn đáng chú ý là các hợp đồng hợp tác kinh
doanh của tổng công ty Bưu Chính Viễn thông Việt Nam với France telecom(Pháp) về
mạng viễn thông nội hạt với gia 615 triệu USD.Dự án BCC về thông tin di động giữa
Tổng công ty Bưu chính Viễn thông và Comvik, tổng vốn đầu tư 341 triệu USD,chiếm
92% vốn đăng ký của Thụy Điện tại Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phân theo đối tác (15/12/2009)
(Nguồn số liệu cục đầu tư nước ngoài)
TT Đối tác
Số dự
án
Tổng vốn đầu
tư đăng ký
(USD)
Vốn điều lệ
(USD)
1 Đài Loan 2,023
21,344,405,8
07
8,628,729,3
42
2 Hàn Quốc 2,327
20,572,892,3
16
6,933,403,4
50
3 Malaysia 341
18,064,514,6
01
3,871,213,0
32
4 Nhật Bản 1,160
17,816,524,0
80
5,157,821,2
22
11 Canada 93
4,798,138,1
25
1,009,504,6
56
12 Brunei 99
4,693,831,4
21
949,146,4
21
13 Pháp 274
3,040,302,2
68
1,543,273,5
34
14 Hà Lan 124
2,933,914,3
13
1,577,891,4
44
15 Trung Quốc 676
2,741,323,6
31
1,303,360,1
96
16 Samoa 80
2,627,109,1
68
375,027,5
53
23 Liên bang Nga 64
765,761,3
48
582,731,5
94
24 Đan Mạch 81
583,829,8
48
220,512,8
47
25 British West Indies 6
511,231,0
90
146,939,3
27
26 Philippines 44
300,942,9
10
148,662,3
36
27 Mauritius 32
215,803,6
00
147,756,5
19
28 Bermuda 5
211,572,8
67
128,452,0
Việt Nam (một số doanh nghiệp có nhiều cơ sở trên khắp cả nước).Thị trường phát triển
mạnh mẽ của Việt Nam hấp dẫn đông đảo nhiều tập đoàn lớn của Pháp. Còn ngành công
nghiệp dược đang tận dụng được sự hiện diện của mình từ trong suốt quá trình lịch sử tại
thị trường này và một số hãng dược phẩm còn được sở hữu địa điểm sản xuất tại Việt
Nam.Ngoài ra, cũng phải kể đến sự tăng trưởng nhanh trong lĩnh vực điện thoại và công
nghệ truyền thông. Hơn nữa, việc Việt Nam gia nhập WTO đã có những tác động đáng
kể trong lĩnh vực dịch vụ.
Theo những cam kết gia nhập, Việt Nam đã mở cửa cho các doanh nghiệp nước
ngoài trong đó có các doanh nghiệp Pháp, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính và bảo hiểm
gia tăng sự hiện diện tại Việt Nam. Ngay trong trung tuần tháng 9 vừa qua, tập đoàn bảo
hiểm AXA của Pháp đã hợp tác chiến lược với Tổng công ty Cổ phần Bảo Minh bằng
việc sở hữu 16,6% cổ phần của Bảo Minh.Pháp sẽ tài trợ cho Việt Nam trong những dự
án chiến lược tăng trưởng xanh như dự án vệ tinh nhỏ quan sát tài nguyên - môi trường,
thiên tai (55,8 triệu euro), tăng vốn cho tuyến đường sắt đô thị Nhổn - ga Hà Nội (30
triệu euro), cấp vốn cho nhà máy thủy điện Huội Quảng (80 triệu euro) để giải quyết tình
trạng thiếu điện giờ cao điểm...
Tháng 9/2001, EDF - Công ty Điện lực Pháp - đứng đầu một tổ hợp (cùng với
công ty của Nhật và Công ty Điện lực EVN) đã đạt được quyền quản lý BOT của Nhà
Nguyễn Danh Hùng-Đầu Tư 48D
24
Đầu tư trực tiếp EU vào Việt Nam
máy điện Phú Mỹ 2.2. Năm 1997, Tập đoàn France Telecom thực hiện hợp đồng hợp tác
trị giá 467 triệu USD xây dựng 540.000 đường dây điện thoại tại phía Tây Tp.HCM.
Tháng 7/2005, Công ty TNHH Alcatel Việt Nam 100% vốn nước ngoài đã được cấp
phép thành lập, đánh dấu một bước phát triển mới của Alcatel tại Việt Nam. Hiện nay,
Alcatel đang chiếm hơn 30% thị phần thiết bị mạng cố định nội hạt và 30% thị phần
thiết bị băng thông rộng (DSL).
Ngoài ra, trong số các nhà đầu tư chính của Pháp tại Việt Nam có thể kể đến tập
đoàn Bourbon với số vốn đầu tư lên tới 270 triệu USD thông qua 7 giấy phép đầu tư
trong các lĩnh vực khác nhau.