Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam được ban hành
(1988), hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) của Việt Nam đã đạt được
nhiều thành quả đáng khích lệ. Khu vực FDI đã trở thành một bộ phận quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp ngày càng nhiều vào việc thực
hiện các chính sách kinh tế - xã hội của quốc gia, là cầu nối vững chắc giúp
cho Việt Nam hoà nhập sâu hơn vào quá trình toàn cầu hoá, quốc tế hoá và
phân công lao động quốc tế.
Ngày 7 tháng 11 năm 2006 Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của
Tổ chức thương mại thế giới WTO. Đây là một trong những kết quả quan
trọng của quá trình thực hiện chính sách chủ động và tích cực hội nhập quốc
tế. Gia nhập WTO mở ra cho nước ta những cơ hội mới, cùng với những
thách thức gay gắt, tác động sâu rộng đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Chính
vì vậy, việc nghiên cứu về các đối tác lớn là một điều quan trọng không thể
thiếu trong việc tạo lập môi trường để thu hút đầu tư nước ngoài
Mỹ là một quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh nhất thế giới cùng với thế
mạnh vượt trội về đầu tư. Tuy là một nước đến sau trong môi trường đầu tư
Việt Nam, song sự phát triển nhanh chóng của đầu tư của Mỹ tại Việt Nam đã
khẳng định Mỹ là một đối tác vô cùng quan trọng đối với Việt Nam trong việc
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ được ký kết (13/7/2000) và
Quốc hội hai nước phê chuẩn (10/12/2001) đã đánh dấu một bước phát triển
mới trong quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước. Đồng thời, trong bối
cảnh Việt Nam vừa chính thức trở thành thành viên của WTO thì việc nghiên
cứu đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam để từ đó kịp thời có những giải
1
pháp phù hợp nhằm thu hút nguồn đầu tư đầy triển vọng này là hết sức cần
thiết.
Từ thực tiễn hoạt động đầu tư của Mỹ ở Việt Nam cũng như những
triển vọng phát triển mối quan hệ đầu tư giữa hai nước trong tương lai sau sự
Phạm Thị Mai Khanh cùng tập thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Kinh
doanh quốc tế – Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội.
Do trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn, việc thu thập và xử lý
thông tin gấp nên nội dung bài viết còn nhiều vấn đề chưa được đề cập. Em
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo thêm của các thầy cô và
bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.
3
Chương I
Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài và khái quát về đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài của Mỹ
I. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1. Khái niệm
(1)
Đầu tư quốc tế là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài
để tiến hành sản xuất kinh doanh dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và
những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà
chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự
án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp
sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại.
2. Đặc điểm
(2)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân
do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự
chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh
tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần
cho nền kinh tế.
Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp
Doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp
nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được
cấp giấy phép đầu tư.
3.3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BBC): là hình thức
đầu tư được kí giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia
lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
- Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng
BOT) là hình thức đầu tư được kí giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ
tầng trong một thời gian nhất định. Hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển
giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam
- Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng
BTO): là hình thức đầu tư được kí giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi
xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước
Việt Nam, Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình
đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
- Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng BT): là hình
thức đầu tư được kí giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu
tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà
đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Chính phủ
tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư
6
và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp
đồng BT.
3.4. Đầu tư phát triển kinh doanh
Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức
sau đây :
đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển.
Các nhà nghiên cứu cũng đang chứng minh rằng vốn FDI chiếm tỷ trọng càng
lớn trong Tổng sản phẩm quốc nội GDP thì tốc độ tăng trưởng GDP thực tế
càng cao. Theo tính toán của các chuyên gia Ngân hàng thế giới, các dự án
FDI ở Việt Nam đã đóng góp tới 7,6% GDP trong năm 1996, năm 2002
chiếm khoảng 14%, riêng trong 9 tháng đầu năm 2007, vốn FDI đã chiếm
17,2% GDP .
(5)
Đầu tư nước ngoài góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều
việc làm góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp và nâng cao chất lượng
nguồn lao động.
Hoạt động của các dự án FDI có tác động quan trọng tới thúc đẩy các
hoạt động xuất nhập khẩu của các nước chủ nhà. Trong nhiều trường hợp do
quy mô nhập khẩu để xây dựng cơ bản, trang bị máy móc rất lớn dẫn đến tiêu
cực trong cán cân thương mại, gây ra sự thâm hụt thương mại thường xuyên.
Do đó, cần phải khuyến khích các dự án FDI mua nguyên liệu, phụ tùng trong
nước và tăng cường mở rộng các dịch vụ thu ngoại tệ tại chỗ để cải thiện cán
cân thanh toán.
8
Các dự án FDI góp phần bổ sung quan trọng cho ngân sách của các
quốc gia. Đó là nguồn thu từ các khoản cho thuê đất, mặt nước, mặt biển; từ
các loại thuế doanh thu, lợi tức, thuế xuất nhập khẩu.
4.2. Đối với các nước xuất khẩu FDI
• FDI giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường bành
trướng sức mạnh kinh tế và vai trò ảnh hưởng trên thế giới.
• FDI giúp các công ty nước ngoài giảm chi phí sản xuất, rút ngắn thời
gian thu hồi vốn đầu tư và thu lợi nhuận cao.
• FDI giúp các chủ đầu tư tìm kiếm được các nguồn cung cấp nguyên,
nhiên liệu ổn định.
• FDI giúp các chủ đầu tư nước ngoài mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công
khẩu của Mỹ tăng chóng mặt và chiếm gần 20% trong mức tăng xuất khẩu
của toàn thế giới.
Báo cáo của cơ quan Nghiên cứu phục vụ Quốc hội Mỹ(CRS) đã nêu rõ
“Các nước đang phát triển chiếm một phần ngày càng nhiều trong số hàng hóa
xuất khẩu của Hoa kỳ, 32,8% vào năm 1985 trong khi vào năm 2006, tỉ lệ này
là 47,0%. Các nước đang phát triển cũng chiếm 34,5% nhập khẩu của Mỹ vào
năm 1985 và 54,7% vào năm 2006”.
(8)
Như một cỗ xe 4 bánh tràn đầy sinh khí kiên cường vượt qua vùng địa
hình đầy hiểm trở, nền kinh tế Mỹ đã thoát hiểm một cách êm đềm trong
những năm đầu tiên của thế kỉ 21, dù đã gặp nhiều trở ngại lớn: sự đổ vỡ của
thị trường chứng khoán, các cuộc tấn công khủng bố, chiến tranh tại Irắc và
Apganixtan, các vụ xì-căng-đan từ các tập đoàn tài chính, sự phá hủy tàn khốc
trên diện rộng của bão lụt, giá năng lượng tăng cao và sự trượt dốc thảm hại
của bất động sản.
Sau đợt suy thoái nhẹ từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2001, kinh tế Mỹ
bắt đầu tăng trưởng với tốc độ trung bình là 2,9% trong giai đoạn từ 2002 đến
10
2006. Trong khi đó, lạm phát về giá cả, tỉ lệ thất nghiệp và lãi suất vẫn duy trì
ở mức tương đối thấp.
Bằng nhiều biện pháp, Hoa Kỳ đã duy trì được vị thế là một nền kinh tế
có tính cạnh tranh cao, sản lượng lớn và có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất trên
thế giới. Tuy nhiên, càng ngày kinh tế Mỹ càng chịu nhiều tác động từ các
nền kinh tế năng động khác. Hiện nay, nước Mỹ vẫn đang phải đối mặt với cả
các thách thức đến từ bên trong lẫn những thách thức đến từ bên ngoài.
Dù sao đi nữa, kinh tế Mỹ luôn đứng hạng cao nhất hoặc cận cao nhất
trong hàng loạt các xếp hạng quốc tế. Dưới đây là một vài con số cần xem xét
khi đề cập đến nền kinh tế Mỹ:
(9)
• Xếp thứ nhất về sản lượng kinh tế, còn gọi là tổng sản phẩm quốc nội
• Đứng thứ nhất về tiêu thụ dầu mỏ, khoảng 20,6 triệu thùng mỗi ngày
vào năm 2006 và đứng thứ nhất về nhập khẩu dầu thô với hơn 10 triệu
thùng mỗi ngày.
• Đứng thứ 3 về môi trường kinh doanh thông thoáng trong năm 2007,
sau Singapore và New Zealand.
• Đứng thứ 20/163, cùng với Bỉ và Chi Lê về các chỉ số minh bạch quốc
tế năm 2006 nhằm đo lường mức độ tham nhũng (các nền kinh tế có
xếp hạng thấp hơn được xem là ít tham nhũng hơn).
Về triển vọng trung và dài hạn: Nền kinh tế Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đạt hiệu
quả tăng trưởng lâu dài. Chính phủ trông đợi GDP sẽ tăng mạnh năm 2010,
lạm phát được giữ ở mức cũ và thị trường lao động được đẩy mạnh. GDP
thực tế dự kiến sẽ tăng với tỉ lệ trung bình hàng năm 3,3% trong vòng 3 năm
tới. Tỉ lệ thất nghiệp dự tính sẽ giảm dần và kinh tế sẽ tăng trưởng với mức
3,2% năm 2007, 2008 và ở mức 3,15% năm 2009, 2010.
12
2. Thực trạng FDI của Mỹ
2.1. Quy mô vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ
Bảng 1.1: Dòng vốn FDI ra thế giới theo quốc gia và khu vực (1990-2005)
Đơn vị: triệu USD
Năm/
Khu vực
1990-2000 2002 2003 2004 2005
Mỹ 92.010 134.946 129.352 222.437 -12.714
Trung
Quốc
2.195 2.518 -152 1.805 11.306
Nhật Bản 25.409 32.281 28.800 30.951 45.781
Anh 73.378 50.300 62.187 94.862 101.099
Châu Âu 276.335 265.815 286.106 334.915 554.802
Các nước
phát triển chiếm 90% tổng lượng vốn FDI đầu tư ra trên thế giới và lượng vốn
qua các năm luôn tăng. Trong đó lượng vốn FDI ra của Mỹ luôn chiếm vị trí
lớn nhất trong tổng lượng vốn đầu tư FDI ra trên thế giới, cụ thể tính đến năm
1990 lượng vốn FDI của Mỹ ra thế giới là 430.521 triệu USD chiếm 24,04%,
tính đến năm 2000 là 1.316.247 triệu USD chiếm 20,34%, năm 2005 là
2.052.284 triệu USD chiếm 19,23% FDI toàn thế giới.
Bảng 1.3: Số lượng Công ty mẹ và công ty con phân chia theo khu vực (tính
đến năm 2005)
Khu vực Công ty mẹ Công ty con
Nước phát triển 50.520 247.241
EU 36.003 199.303
Anh 2.169 13.485
Mỹ 2.418 24.607
Nhật 4.149 4.710
Nước đang phát triển 18.029 335.338
Châu á - TBD 14.791 293.875
Đông á 11.049 245.310
Trung Quốc 2.000 215.000
Hồng Kông 948 9.072
Đông Nam á 314 33.892
Đông Âu và CIS 1.178 107.812
(Nguồn: ‘‘Báo cáo đầu tư thế giới 2005’’, UNCTAD)
Ta có thể thấy ngay các công ty xuyên quốc gia (TNCs) – các công ty
14
có vai trò quan trọng trong việc thu hút FDI ở các nước đang phát triển có số
lượng ít hơn nhiều so với các nước phát triển (khoảng hơn 3 lần). Đặc biệt ta
có thể thấy Hoa Kỳ là nước có nhiều nhất các TNCs và các công ty con của
chúng. Chính các TNCs này là một nguồn FDI quan trọng của thế giới và nó
ngày càng đóng vai trò to lớn trong FDI của thế giới. Chúng là nhân tố quan
trọng tạo ra lượng vốn FDI ra nước ngoài lớn nhất của Hoa Kỳ.
(Triệu USD)
Tỷ trọng (%)
1 Anh 323.796 15,64
2 Canada 234.831 11,34
3 Hà Lan 181.384 8,76
4 Australia 113.385 5,48
5 Đức 86.319 4,17
6 Thụy Sỹ 83.424 4,03
7 Nhật Bản 75.491 3,65
Tổng FDI của Mỹ 2.069.983 100,00
(Nguồn: “Inbound and outbound US Direct Investment with leading
partner country, 6/2007”, USDOC, BEA)
Theo số liệu chính thức của Mỹ, hiện nay đầu tư của Mỹ có mặt ở hầu
hết các nước trên thế giới. Nhưng nếu xét theo từng khu vực đầu tư, trong giai
đoạn 1996-2006, có tới 52,19% tổng đầu tư của Mỹ tập trung vào các nước
Châu Âu. Châu Mỹ La Tinh đứng thứ hai với 18,62%. Cả Châu Phi và Trung
Đông chỉ chiếm hơn 2%. Cơ cấu này là hoàn toàn phù hợp với định hướng thị
trường đã nêu ở trên. Ngoài ra có khoảng 2,81% số vốn được đầu tư ở nhiều
quốc gia khác (chi tiết xem bảng 1.5). Đáng lưu ý là khu vực Châu á-Thái
Bình Dương (TBD), là thị trường mới, hiện nằm trong tầm quan tâm của Mỹ,
đã thu hút được một tỷ trọng khá lớn là 16,55% vốn đầu tư (Năm 2006: đạt tỉ
16
lệ cao nhất-18,11%). So với các nước phát triển Châu Âu, các nước khu vực
Châu á-TBD không thể so sánh được về các yếu tố thu hút đầu tư của Mỹ
cũng như về dung lượng thị trường nhưng lại nằm trong chiến lược mở rộng
ảnh hưởng của Mỹ nên có được những ngoại lệ.
Bảng 1.5: Tỉ trọng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ phân theo khu
vực giai đoạn 1996-2006
Đơn vị tính: phần trăm(%)
Năm/
ánh mục tiêu chính sách về lĩnh vực đầu tư của Mỹ. Với mục tiêu phát triển
các ngành hiện đại có hàm lượng công nghệ cao, đổi mới tài sản cố định
nhanh nhằm đảm bảo cho sự phát triển kinh tế cao và ổn định, có khả năng
chi phối điều khiển trực tiếp thế giới, Mỹ đầu tư ra nước ngoài để nâng cao
hiệu quả tư bản của mình, chuyển giao những công nghệ đã lỗi thời. Nhưng
khi đầu tư ra nước ngoài, Mỹ luôn có ý đồ nắm và kiểm soát các nguồn
nguyên liệu chiến lược, trước hết là dầu mỏ, các loại khoáng sản, cao su... và
các ngành công nghiệp và dịch vụ quan trọng như chế tạo, điện tử, thiết bị
công nghiệp và xây dựng, ngân hàng, thương mại...
Bảng 1.6: Tỉ trọng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ theo lĩnh vực giai
đoạn 1996 – 2006
Đơn vị: phần trăm(%)
Năm/ Ngành 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 TB
Khai khoáng - - - 5,96 5,48 5,44 5,06 4,83 4,82 5,43 5,71 5,34
Dầu mỏ 9,46 9,65 9,12 - - - - - - - - 9,41
Dịch vụ công
cộng
- - - 1,85 1,67 1,75 1,63 - - - - 1,73
Sản xuất 33,39 31,96 28,99 26,92 26,13 22,46 20,89 20,97 19,52 21,04 21,12 24,91
-Thực phẩm 3,90 3,76 3,53 1,91 1,79 1,46 1,19 1,56 1,35 1,43 1,36 2,11
-Hóa chất 9,41 8,77 7,94 6,72 5,76 5,42 5,11 5,17 5,04 5,44 5,44 6,38
-Kim lọai 2,05 1,82 1,82 1,77 1,64 1,49 1,29 1,21 1,19 1,10 0,97 1,49
-Máy móc 3,81 3,46 3,09 1,77 1,69 1,21 1,14 1,18 1,06 1,28 1,35 1,91
-Điện tử 4,00 3,59 3,21 4,53 5,31 4,67 3,67 3,28 3,16 3,56 3,88 3,90
-Phương tiện
vận tải
4,04 4,08 3,39 3,56 3,79 2,77 2,80 2,71 2,40 2,29 2,33 3,10
-Ngành sản
xuất khác
6,77 6,47 6,00 - - - - 5,87 5,32 5,94 5,78 6,02
đạo, Mỹ đã chấp nhận những điểm bất lợi ban đầu trong đầu tư vào khu vực
này. Để đạt mục tiêu đã đề ra, chiến lược của Mỹ là:
19
• Mỹ tiến hành chuyển hướng các hoạt động đầu tư từ Bắc Mỹ sang
Đông á, nhằm tận dụng sự tăng trưởng nhanh và năng động của các nền
kinh tế này để phục vụ chính sách thương mại mở rộng - chính sách của
chính quyền Clinton trước đây, và tiến tới giảm sự mất cân bằng trong
buôn bán giữa Mỹ và Đông á.
• Tăng nhanh dung lượng và cơ cấu vốn đầu tư sang các thị trường mới
nổi ở Châu á, đặc biệt là ASEAN và Trung Quốc nhằm tiếp thêm nhiên
liệu cho các nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh của Châu á, từng bước
thâm nhập vào hoạt động kinh tế của khu vực này.
• Là một nền kinh tế tự do theo chủ nghĩa thực dụng, Mỹ tiếp tục tăng
cường hoạt động đầu tư ở Châu á theo cấp độ vĩ mô, chuyển vốn đầu tư
vào các xí nghiệp, công ty ở Châu á do Mỹ “đỡ đầu” nhằm duy trì
chúng trong hệ thống các công ty xuyên quốc gia và trong vòng kiềm
toả của Mỹ. Lợi ích của các công ty Mỹ sẽ tập trung chuyển từ các
ngành chế biến dầu mỏ sang các ngành công nghiệp chế tạo hiện đại
khác của Châu á.
• Tăng cường thực hiện các chính sách đầu tư song phương với các nước
Châu á nhằm tạo nên kết cấu hợp tác kinh tế “hình dẻ quạt” để làm cơ
sở phát triển các mối quan hệ kinh tế mới ở khu vực Châu á - TBD
Cũng trong những năm gần đây, Mỹ càng tỏ ra tích cực hơn trong việc
đẩy mạnh quan hệ đầu tư với các nước Châu á. Các chuyến viếng thăm Nhật
Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Australia trong thời gian cầm quyền
của cựu Tổng thống B.Clinton là nhằm thiết lập các mối quan hệ song phương
Mỹ - Trung Quốc, Mỹ - Nhật Bản, Mỹ - Hàn Quốc và các tam, tứ giác quyền
lực Mỹ - Nhật - Hàn Quốc - Trung Quốc ở Châu á. Với các nước ASEAN,
Mỹ coi trọng địa bàn hấp dẫn này, tích cực ủng hộ sự phục hồi kinh tế tài
20
(Nguồn: “Survey of current business, 6/2006”, BEA)
Các chiến lược kinh tế thương mại của Mỹ bao giờ cũng được đặt trong
các chương trình điều chỉnh tổng thể nhằm thích ứng thậm chí làm thay đổi
các xu thế phát triển của thế giới theo hướng có lợi cho họ. Do đó, trong các
tính toán chiến lược nói chung, các chính sách kinh tế thương mại nói riêng,
Mỹ thường lưu ý đến vị thế và ảnh hưởng của các nước lớn chứ không phải là
các nước nhỏ. Chẳng hạn, trong sự điều chỉnh chiến lược kinh tế Châu á-
TBD, Mỹ rất quan tâm đến vị thế và những chuyển đổi về chính sách của các
nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Australia. Ngược lại, các nền kinh tế này,
kể cả Nhật Bản dường như đều lựa theo “thái độ” của Mỹ để điều chỉnh chính
sách kinh tế đối ngoại của mình. Một ví dụ rất dễ thấy là, sau sự bình thường
hoá quan hệ Việt Nam - Mỹ, đầu tư của Nhật và một số quốc gia khác vào
Việt Nam mới bắt đầu khởi sắc, mặc dù Việt Nam đã thực sự chuyển đổi sang
nền kinh tế mở kể từ đầu năm 1986. Bởi lẽ rất đơn giản là nền kinh tế Mỹ
được mọi nền kinh tế trên thế giới coi như là hình mẫu của sự phát triển và lợi
ích của họ gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ cũng
có thói quen rất ít bỏ qua các cơ hội phát triển mang lại từ quốc gia nhỏ nhất.
Việt Nam có thể tận dụng vị trí địa lý-chính trị và địa lý-kinh tế của mình,
một vấn đề có ý nghĩa to lớn đối với sự tái hoạch định chiến lược kinh tế
Châu á-TBD, để phát triển quan hệ kinh tế nói chung và đầu tư nói riêng với
Mỹ. Chính việc Mỹ nối lại quan hệ với Việt Nam là nhằm để tăng cường ảnh
hưởng của quốc gia này ở ĐNA về mọi phương diện. Mỹ muốn tạo dựng lại
hình ảnh mới của mình ở khu vực này sau thời kỳ chiến tranh lạnh bằng việc
thể hiện vai trò dẫn dắt của nền kinh tế Mỹ trong APEC bằng việc tạo lập các
địa bàn đầu tư mới ở khu vực Đông Nam á (ĐNA), Đông á, hiện là những thị
trường đầu tư thương mại hấp dẫn, tỷ suất lợi nhuận cao mà Nhật Bản, theo
22
đó, đang chuyển dần những khoản đầu tư của mình ra khỏi các địa bàn đầu tư
Châu Âu, Bắc Mỹ để trở về. Do vậy, mặc dù Mỹ chưa đánh giá hết các lợi thế
của một nền kinh tế nhỏ bé như Việt Nam, trong bối cảnh quốc tế hiện nay,
Công ty
quản lý vốn
122.683 77.339 11.634 1.253 312 -
(Nguồn:”Survey of current business, 2006”,USDOC, BEA)
Từ việc nghiên cứu tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ,
người viết đi vào phân tích thực trạng dòng FDI của Mỹ vào Việt Nam cả về
quy mô vốn và cơ cấu đầu tư để từ đó rút ra những đánh giá khái quát về
thành công cũng như hạn chế của quá trình đầu tư đó.
23
Chương II
Thực trạng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam
I. Khái quát về hoạt động FDI của Mỹ vào Việt Nam
1. Vài nét về lịch sử quan hệ Việt-Mỹ
Lịch sử phát triển đầu tư của Mỹ vào Việt Nam gắn chặt với lịch sử
quan hệ giữa hai quốc gia. Trước năm 1975, hoạt động đầu tư của Mỹ chủ yếu
diễn ra ở Sài Gòn và một số tỉnh lân cận ở phía Nam: các dự án đầu tư không
nhiều, chủ yếu là đầu tư của chính phủ Mỹ vào một số ngành kinh doanh dịch
vụ và quốc phòng phục vụ cho quân sự của Mỹ đầu tại Việt Nam.
Kể đầu từ tháng 5 năm 1964, Mỹ áp đặt lệnh cấm vận chống miền Bắc
Việt Nam và từ đầu tháng 5 năm 1975 sau khi nước ta hoàn toàn thống nhất,
Mỹ mở rộng cấm vận với toàn lãnh thổ Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như
thương mại, tài chính, tín dụng, ngân hàng, đầu tư,... Bên cạnh đó Mỹ cũng
khống chế các nước đồng minh và các tổ chức quốc tế do Mỹ thao túng trong
việc đầu tư vào Việt Nam. Sau thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt
Nam, Mỹ thực hiện cấm vận triệt để đối với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực.
Chính sự nhức nhối do cuộc chiến tranh ở Việt Nam, một cuộc chiến tranh mà
nhiều năm sau vẫn ảnh hưởng sâu sắc trong tâm trí của người dân Mỹ, trực
tiếp hay gián tiếp tham gia, đã khiến cho chính quyền Mỹ thực hiện chính
sách cấm vận triệt để ở Việt Nam.
Tuy nhiên, với chủ trương đổi mới đất nước, với chính sách đối ngoại