Tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm về mối quan hệ Tự nhiên-con người-xã hội và ý nghĩa của nó đối với đạo đức con người Việt Nam hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HỮU PHƯỚC
TƯ TƯỞNG NGUYỄN BỈNH KHIÊM VỀ MỐI QUAN HỆ
“TỰ NHIÊN – CON NGƯỜI – XÃ HỘI” VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐỖ THỊ HOÀ HỚI

Hà Nội, năm 2010

MỤC LỤC Trang

MỞ ĐẦU
1

NỘI DUNG
10
CHƢƠNG 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491 - 1585)
10

1.1 Những điều kiện khách quan
10

1.2 Điều kiện chủ quan
27
CHƢƠNG 2. NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ
“TỰ NHIÊN – CON NGƯỜI – XÃ HỘI” CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM
37
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân dịp kỷ niệm 400 năm ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm, trên Tạp
chí văn học, mục “Sinh hoạt văn học” đã dẫn lời của giáo sư Vũ Khiêu, trong đó
có đoạn: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà văn hoá lớn - nhà thơ, nhà tƣ tƣởng, nhà
hiền triết, ngƣời thầy, cây đại thụ tỏa bóng lên cả thế kỷ XVI” [44, tr.156] của
dân tộc Việt Nam là một nhận định có cơ sở. Bởi thế di thảo của ông để lại, đã
thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu với rất nhiều hướng tiếp cận
khác nhau như: Văn học, Sử học, Triết học… Tuy nhiên, qua tìm hiểu các công
trình nghiên cứu về tư tưởng Triết học Nguyễn Bỉnh Khiêm của những người đi
trước, chúng tôi nhận thấy còn nhiều điểm chưa thống nhất hoặc nhiều khía cạnh
đang được bỏ ngỏ, chẳng hạn: Rất cần sự lý giải sâu hơn về vấn đề Nguyễn Bỉnh
Khiêm có bản thể luận duy vật trong quan niệm về tự nhiên như thế nào? Tư
tưởng của ông đã đạt tới tư duy biện chứng trong lý giải tự nhiên, xã hội con
người ra sao? Và có giống như các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ phong kiến
cuối cùng Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng rơi vào duy tâm hoặc không tưởng trong
giải quyết các vấn đề xã hội hay không? Mặc dù còn nhiều hạn chế về trình độ
nghiên cứu, nhưng qua tìm hiểu bước đầu chúng tôi thấy rằng, có một điều
không thể phủ nhận được là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đưa ra một số vấn đề và giải
quyết chúng có chiều sâu triết lý, có ý nghĩa triết học như vấn đề: Sự thống nhất
của hệ thống “Tự nhiên – con người – xã hội”. Trên cơ sở kế thừa những nhà
nghiên cứu trước, trong điều kiện mới hiện nay, chúng tôi thấy cần tập trung tìm
hiểu đầy đủ hơn vấn đề này.
Thêm vào đó, trong lịch sử Việt Nam trước và sau Nguyễn Bỉnh Khiêm

đến năm 2020 về cơ bản đƣa nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng
hiện đại ” [8, tr.24 - 28]. Cùng với Công nghiệp hoá – Hiện đại hóa là quá
trình con người tác động vào tự nhiên để ngày càng tối đa hoá lợi ích cho
mình, đó là việc làm có ý nghĩa. Tuy nhiên mặt trái của sự khai thác trên là
chỉ biết triệt để khai thác tự nhiên, coi tự nhiên như kho tài nguyên vô tận, là
đối tượng để vơ vét. Những việc làm đó có nguy cơ “để lại sau lƣng là bãi
hoang mạc” như C. Mác đã cảnh báo [4, tr.45], hệ quả của nó là cạn kiệt tài 3
nguyên thiên nhiên, huỷ hoại môi trường sống, phá vỡ trật tự cân bằng sinh
thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiện trạng môi sinh và cuộc sống nhân loại
nói chung, con người Việt Nam nói riêng.
Chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
từ khía cạnh đạo đức - sinh thái - nhân văn ẩn dấu trong quan niệm về sự
thống nhất “Tự nhiên - con ngƣời - xã hội” và vận dụng tư tưởng đó vào
thực tiễn hiện nay ở nước ta là góp phần phát huy những tinh hoa truyền
thống dân tộc… củng cố cho chúng ta ý thức tự hào dân tộc và trách nhiệm
xây dựng nền văn hóa mới trên tinh thần “Xây dựng và phát triển nền văn
hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [7, tr.5]. Đó cũng là việc
làm có ý nghĩa quán triệt tinh thần Nghị quyết Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
IX: “Cổ vũ cái đúng, cái tốt trong quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, con
ngƣời với xã hội, con ngƣời với thiên nhiên…” [8, tr.77]. Bởi, chúng ta không
thể đổi mới nhanh khi chưa hiểu hết cái cũ, nếu không nhận biết rõ các giá trị
truyền thống để kế thừa, không biết mình là ai, chúng ta sẽ không có lời giải
cho tương lai.
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: Tư tưởng Nguyễn Bỉnh
Khiêm về mối quan hệ “Tự nhiên – con người – xã hội” và ý nghĩa của nó
đối với đạo đức con người Việt Nam hiện nay từ góc độ đạo đức sinh thái
làm đề tài nghiên cứu cho bản Luận văn Thạc sĩ Triết học của mình.

với ba cuốn sách chép nhiều thơ nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm: Bạch Vân Am thi
văn tập ký hiệu AB, có 157 bài, Bạch Vân Am thi văn tập ký hiệu AB 309, có
100 bài và Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm ký hiệu 635, có 165 bài.
Sau khi đã chọn lọc những bài trùng với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi các
tác giả đã chọn ra được 172 bài thơ nôm. Trước đó chưa bao giờ số lượng
thơ nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm được công bố vượt quá 100 bài.
Tiếp theo còn có sách Văn chƣơng Nguyễn Bỉnh Khiêm của Bùi Văn
Nguyên (1987), NXb VHTT, Hà Nội hướng nhiều về phân tích các giá trị văn
học trong thơ văn của ông; Nguyễn Bỉnh Khiêm Tác gia tác phẩm do Trần Thị
Băng Thanh, Vũ Thanh (Tuyển chọn và giới thiệu, 2001), Nxb Giáo dục, Hà
Nội. Trong sách này, các tác giả đã sưu tầm, biên soạn tinh tuyển lại thơ văn 5
Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng danh sách 66 công trình, bài viết của các tác giả,
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Trên cơ sở đó, những người tuyển chọn
đã sắp xếp phân định theo các mảng chủ đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa thế kỷ
đầy biến động; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm tƣ tƣởng - nhân cách; Nguyễn
Bỉnh Khiêm nhà thơ; Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức thế nhân xƣa và
nay. Ngoài ra,các tác giả còn lục thuật: Niên biểu Nguyễn Bỉnh Khiêm, thƣ
mục về Nguyễn Bỉnh Khiêm….
Trên đây là các căn cứ tư liệu về cuộc đời thơ văn để chúng tôi tìm hiểu
về tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm trong luận văn này.
Các công trình nghiên cứu tiếp cận từ góc độ Sử học:
Ngoài các bộ thông sử ra, đáng chú ý là Kỷ yếu các Hội thảo khoa
học về Nguyễn Bỉnh Khiêm như: Hội thảo khoa học tại Hải Phòng năm
1985 của Hội sử học và Viện văn học, nhân kỷ niệm 400 năm ngày mất
của Danh nhân văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm, cuốn Kỷ yếu đã tập hợp
được hơn 50 bản tham luận của các nhà khoa học trong và ngoài nước
quan tâm chủ đề Nguyễn Bỉnh Khiêm, nội dung các bản tham luận đã đề

Đáng chú ý là Luận án Tiến sĩ Triết học “Những quan điểm Triết học
của Nguyễn Bỉnh Khiêm” của tác giả Trần Nguyên Việt (1998). Luận án gồm
132 trang, bao gồm cả phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung luận án gồm 2 chương (90 trang) : Chương 1. “Sự hình
thành Thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm” tác giả đã trình bày: Tiểu sử,
thân thế, sự nghiệp Nguyễn Bỉnh Khiêm; đặc điểm di sản tinh thần Nguyễn
Bỉnh Khiêm qua thơ văn còn lại đến hiện nay; ảnh hưởng Triết học Trung
Quốc đối với sự hình thành Thế giới quan Triết học Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Chương 2. “Các quan điểm Triết học Nguyễn Bỉnh Khiêm” đi vào làm sáng
tỏ một số vấn đề: Triết học, quan điểm về con người, Pháp trị;
Trên Tạp chí Triết học chủ đề Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đƣợc các tác giả
quan tâm ở một số nội dung:
“Vấn đề con ngƣời trong tƣ tƣởng Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Trần Nguyên
Việt (2000), Số 01, tr.35-38. 7
“Một số vấn đề tƣ tƣởng đạo đức của Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Cao Thu
Hằng (2000), Số 02, tr.51-53.
“Trở lại vấn đề Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Vũ Khiêu (2001), Số 01, tr.25 -28
“Tƣ tƣởng triết học tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Trần Nguyên
Việt (2002), Số 01, tr.38-41.
Kế thừa những thành quả của những người đi trước, chúng tôi đã
bảo vệ thành công Khóa luận tốt nghiệp Đại học Hệ thống “Tự nhiên –
con ngƣời – xã hội” trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm năm 2002, tại
khoa GDCT – ĐHSP Hà Nội.
Như vậy, qua các công trình hoặc bài viết trên đây, các tác giả đã ít nhiều
nghiên cứu các khía cạnh tư tưởng về tự nhiên, con người, chính trị - xã hội, đạo
đức, nhân tình thế thái, tư tưởng biện chứng, lý tưởng thẩm mỹ… của Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Ở luận văn này, chúng tôi xác định tiếp tục đi sâu tìm hiểu với đối

* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu trực tiếp thơ
văn Nguyễn Bỉnh Khiêm kết hợp với những tài liệu liên quan khác,
bằng quan điểm duy vật lịch sử và phương pháp tư duy biện chứng, tác
giả đã kết hợp các phương pháp: Lô gíc - lịch sử, Quy nạp - diễn dịch,
Phân tích - tổng hợp, Đối chiếu – so sánh… Trong luận văn còn sử
dụng một số phương pháp liên ngành đạo đức sinh thái. Xuyên suốt
quá trình nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu Lịch sử tư tưởng triết
học Việt Nam.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Tƣ tƣởng Nguyễn Bỉnh Khiêm về mối quan hệ
“Tự nhiên – con ngƣời – xã hội” và ý nghĩa của nó đối với đạo đức con
ngƣời Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ đạo đức sinh thái nhân văn.
* Phạm vi: Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng Nguyễn Bỉnh
Khiêm về mối quan hệ tự nhiên - con người – xã hội qua nghiên cứu thời đại,
cuộc đời và thơ văn của ông và bước đầu vận dụng vào thực tiễn, chỉ rõ giá trị
tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm trong xây dựng đạo đức sinh thái – nhân văn ở
Việt Nam trong những năm gần đây.

9
6. Ý nghĩa của luận văn
- Về lý luận: Luận văn làm sáng tỏ hơn nội dung tư tưởng Nguyễn Bỉnh
Khiêm về mối liên hệ chỉnh thể “Tự nhiên – con người – xã hội” và vận dụng
vào thực tiễn để làm rõ ý nghĩa tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm với xây dựng
đạo đức sinh thái nhân văn cho con người Việt Nam, trong khi khía cạnh này
đang ít được các nhà nghiên cứu chú ý đến.
- Về thực tiễn: Luận văn góp phần làm đầy đủ hơn căn cứ để chỉ ra các
yếu tố nội dung của tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, những giá trị tư tưởng mới

khẳng định: Mọi tƣ tƣởng cho dù có vĩ đại đến đâu cũng xuất phát từ thực tế
xã hội và trở lại phục vụ xã hội ấy. Vì vậy để hiểu tư tưởng Nguyễn Bỉnh
Khiêm, ta phải tìm hiểu các điều kiện khách quan ảnh hưởng đến sự hình
thành các tư tưởng này. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) sống gần trọn thế
kỷ XVI, sinh quán tại làng Trung Am, Huyện Vĩnh Lại (nay là xã Cổ Am,
Huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng). Vĩnh Bảo là vùng đất tích hợp bởi
các yếu tố: đồng ruộng, kênh rạch… Các điều kiện tự nhiên trên đã góp phần
ảnh hưởng đến sự phong phú trong tư duy Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hơn nữa, thế
kỷ XVI là thế kỷ đầy biến động, một hiện tượng chưa có tiền lệ trong lịch sử,
nó giống như khúc chuyển mình trong tiến trình lịch sử sử Việt Nam. Tất cả
các điều kiện khách quan đó, đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhà tư tưởng Nguyễn
Bỉnh Khiêm.
1.1.1. Chính trị - xã hội
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra khi thời cực thịnh của nhà Lê đã qua,
chuyển sang thời kỳ suy thoái. Bao trùm xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XVI là
nạn bao chiếm ruộng đất công và sự sa sút của nền sản xuất nông nghiệp, thay
vì chính sách quân điền của Lê Thái tổ (chia ruộng đất cho dân làng theo số
lƣợng khẩu khác nhau) là tình trạng các thế lực phong kiến công khai chiếm
đoạt ruộng đất công các làng xã, chẳng hạn vào năm Canh Ngọ (1510) dưới
triều Lê Oanh - Lê Tương Dực quy định: Phàm các hạng ruộng đất, bãi dâu,
…chƣa vào sổ quan, cho quan Thái bộc làm bản tâu lên làm sắc cấp cho
các công, hầu, bá theo thứ bậc khác nhau [22, tr.380]. Thêm vào đó, thời kỳ
này thuế khóa nặng nề. Trong các đời Uy Mục (1505 – 1509) và Tương Dực 11
(1509 – 1516) cùng với việc hỗn chiến giữa các phe cánh, kinh tế nông
nghiệp còn trở nên sa sút. Kết quả là năm Đinh Sửu (1517) trong nƣớc đói to
nhân dân chết đói nằm gối lên nhau.
Các đời sau đó vua Uy Mục (con thứ của Hiến Tông) thì ăn chơi sa

khi ông 29 tuổi. Nhờ có uy tín với nhà vua trong việc đánh dẹp và mưu kế trừ
khử những kẻ tà thuật, phản nghịch, Mạc Đăng Dung được phong chức Vũ
Xuyên Hầu. Kể từ đây Mạc Đăng Dung ra sức chỉnh đốn quân ngũ, đồng thời
gièm pha kích động vua trừ khử những đối trọng bất lợi cho mình như Trần
Chân… Càng ngày Dung càng được vua tin tưởng giao nhiều quyền, từ Vũ
Xuyên Hầu lần lượt được phong các chức Đề thống doanh quân thủy và bộ,
rồi Minh quận công. Để thâu tóm quân đội vào tay mình Dung bàn với người
thông gia của mình là Phạm Gia Mô là quan Thượng Thư Bộ Lễ dâng tờ thảo
thay đổi tổ chức quân đội và bổ nhiệm Dung làm Tiết chế tổng quân thủy và
bộ. Từ đây binh quyền trong tay Mạc Đăng Dung, thậm chí như rồng được
chắp cánh, vua còn phong cho Dung chức Thái Phó. Do nắm được binh quyền
trong tay từ đấy Mạc Đăng Dung chuyên quyền lấn át cả vua, một mình xử
đoán mọi việc, quần thần không ai dám chống đối.
Thêm vào đó, Dung còn có công đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa ở Lạng
Nguyên, Đông Ngàn… Lúc này, lòng người đã mệt mỏi với triều Lê, ai ai cũng
hy vọng vào Mạc Đăng Dung, vì thế Mạc Đăng Dung càng chú tâm đến việc
chiếm ngôi vua. Kết quả là năm Đinh Hợi 1527, Mạc Đăng Dung làm cuộc đảo
chính lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thống Nguyên năm thứ nhất.
Ngay sau khi lên ngôi Hoàng đế, nhằm thiết lập vị thế chính danh
của vương triều mới, Mạc Đăng Dung đã ban lệnh đại xá thiên hạ, cho
đổi họ một số cựu thần nhà Lê sang họ Mạc, ban phong các chức tước
cho 56 cựu thần nhà Lê theo mình, đồng thời thi hành những chính sách
đối nội, đối ngoại riêng, ít nhiều thể hiện được sự độc lập, tự chủ.
Trong nội triều, chính thể quân chủ của nhà Mạc tôn trọng tuyệt đối trật
tự sự nối dõi theo nguyên tắc: lập con trưởng làm vua và theo dòng đích. Có
lẽ vì thế mà trong thời gian cầm quyền dưới góc độ này Triều Mạc tương đối
ổn định, vững vàng so với cuối triều Lê sơ. 13

14
Mặc dù có nhiều cố gắng đem lại sự khởi sắc cho nước nhà, song triều
Mạc ra đời trong một khung cảnh đặc biệt, một mặt chiến tranh loạn lạc liên
miên không có cơ sở vững chắc thật sự cho một nhà nước quân chủ tập
quyền. Mặt khác, việc Mạc Đăng Dung lật đổ vua Lê đã gây nên mâu thuẫn
đối địch với tầng lớp cựu thần nhà Lê mà người đứng đầu là Nguyễn Kim với
danh nghĩa lập vua mới phục hưng triều Lê. Kim kêu gọi quần thần và nhân
dân chống lại Mạc Đăng Dung, do đó năm 1533 sự nghiệp Trung Hưng của
nhà Lê bắt đầu, lập căn cứ địa ở miền Thanh – Nghệ. Cũng từ đây xung đột đã
xảy ra, nhân dân bị lôi vào cuộc hỗn chiến tàn khốc trong cuộc tranh giành
quyền lực của các thế lực phong kiến với hai triều đối chọi mà sử quen gọi là
Nam triều (Lê Trung Hưng) – Bắc triều (Mạc), cuộc chiến diễn ra từ 1533 –
1592. Trong 46 năm chiến tranh với 38 cuộc giao tranh lớn nhỏ, hai bên đã
huy động hàng chục vạn quân, chủ yếu là các trai tráng khỏe mạnh – đó là lực
lượng lao động chính của xã hội, tuy cục diện mỗi lúc nghiêng về một phía
khác nhau, song phần thắng cuối cùng thuộc về họ Trịnh. Trịnh Tùng đánh
bại Mạc Hậu Hợp, cướp Thăng Long lập nên chính thể Vua Lê – chúa Trịnh.
Các cuộc giao tranh dai dẳng hao người tốn của đến mức Nguyễn Bỉnh
Khiêm phải thốt lên:
“Ngán xem nghịch tặc rông rỡ đã lâu,
Đánh lẫn nhau chết một nửa”
(Cảm hứng, bài 2)

[18, tr.301]
“Chiến tranh kế tiếp nhau
hoạ loạn đến cùng cực”
(Thương loạn) [18, tr. 423]
Trong thời gian chiến tranh nổ ra, giang sơn Đại Việt bị cắt xẻ, mỗi thế
lực phong kiến hùng cứ một nơi. Họ Mạc ở vùng trung du Bắc Bộ, tập đoàn
Lê Trịnh trị vì vùng từ Thanh – Nghệ đến Thuận Quảng, họ Vũ (Anh em Vũ

Trung Hưng nổi lên ở Thanh - Nghệ và mở rộng địa bàn cai quản ở xứ Thuận Hóa;
Thứ hai, ở vùng Tây Bắc Tuyên Quang anh em nhà Vũ Văn Mật nối
nhau cai quản; 16
Thứ ba, chiến tranh kéo dài liên tiếp đã làm cho nhà nước không thể
quản lý chặt chẽ được làm cho các vùng đất bỏ hoang được dân khai phá trở
thành ruộng đất tư. Đến giữa thế kỷ XVI xu hướng ruộng đất tư phát triển
mạnh mẽ trong khi ruộng đất công làng xã ngày càng bị thu hẹp.
Sản xuất nông nghiệp thời Mạc, vì lý do bao trùm trong hơn hai phần
ba thế kỷ XVI là chiến tranh, nên nguồn sử liệu còn lại với những thông tin về
sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp rất mờ nhạt. Song sản xuất nông
nghiệp dưới thì Mạc có thể khái quát như sau: Trong những năm đầu trị vì,
đặc biệt dưới thời Mạc Đăng Dung, Đăng Doanh do chính sách quân đội được
chú trọng, an ninh ổn định, Mạc Đăng Dung lại là người “tính tình khoan
hậu, giản dị…giữ pháp độ, cấm hà khắc tàn bạo” đã tạo nên một thời kỳ
“hoàng kim” cho nhà Mạc. Mặc cho quan điểm nho chính thống sử cũ thường
không nhắc tới nhiều về những đóng góp của triều Mạc (vì coi là ngụy triều),
nhưng trong các văn bia, hoặc các sử thần Lê – Trịnh cũng phải nhắc đến
“bấy giờ đƣợc mùa, nhà nhà no đủ, trong nƣớc gọi thời ấy là bình trị”, hay
Lê Quí Đôn bình: “mấy năm liền đều đƣợc mùa, nhân dân bốn trấn đều đƣợc
yên ổn”, hoặc “trúng mùa luôn, thóc, gạo rẻ hơn, thuế nhẹ đi ít, ai nấy no đủ
thƣ thái lại thêm tƣ pháp nghiêm minh quan lại liêm cần, trộm cắp mất tăm,
đêm không nghe tiếng chó sủa, đi dƣờng không ai thèm nhặt của rơi” [22,
tr.466], rõ ràng đó là bức tranh có mảng sáng so với thời kỳ cuối thế kỷ XV
đầu XVI - thời Hậu Lê.
Mặc dù các nguồn sử liệu không đề cập đến các chính sách nông
nghiệp của nhà Mạc một cách có hệ thống, nhưng chúng ta cũng có thể nhận
thấy triều Mạc chiếm cứ vùng đất châu thổ sông Hồng với phù sa màu mỡ, đó

như đỉnh cao của nghệ thuật, được lưu hành rộng rãi và được nhân dân ưa
chuộng hầu khắp đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đồ gốm đa dạng và
phong phú: Đĩa, chậu, ang, bát, chén, khay trà, ấm điếu, nâm rƣợu, lọ
hoa….đến cả đồ thờ: Chân nến, chân đèn, hƣơng lƣ, đỉnh, đài …các sản phẩm
được phủ men khá tinh xảo và trang trí hoa văn theo các đơn đặt hàng, đáp
ứng yêu cầu cả giới quí tộc và bình dân.
Kinh tế thƣơng nghiệp thời Mạc có khởi sắc, do đặc điểm họ Mạc vốn
là dân chài xứ Đông nên tâm lý, tính cách cởi mở, phóng khoáng hơn nhà Lê. 18
Tư tưởng bế quan tỏa cảng, trọng nông ức thương, sự miệt thị “tứ dân” (mà
chủ yếu là nông dân và công, thương) giờ đây bị dỡ bỏ. Mặt khác nhà Mạc
còn chú tâm vào cuộc nội chiến nên quản lý lĩnh vực thương mại có phần lơi
lỏng gần như thả nổi, góp phần giao lưu kinh tế, thúc đẩy các hoạt động giao
dịch công – thương nghiệp phát triển một cách tự phát.
Trong thế kỷ XVI, ngoài các trung tâm kinh tế lớn như: Thăng Long,
Phố Hiến, thì theo các tài liệu để lại còn có các vùng mới manh nha nổi lên:
Chợ Tứ kỳ - Hải Dƣơng (1542), Cẩm Viên – Vĩnh Phúc (1590)… Ở miền
Thuận Hóa trong thời kỳ nhà Mạc quản lý việc thông thương cũng không kém
phần sôi nổi: Chợ Thế Lại (Thừa Thiên Huế). Sự phát triển các nghề thủ công
đã thúc đẩy thương nghiệp phát triển. Mặt khác, để thuận lợi cho việc trao đổi
nhà Mạc còn chủ trương đúc tiền là vật môi giới cho việc trao đổi mua bán.
Trong truyện cổ tích và bài ca dao “Đồng tiền vạn lịch thích bốn chữ vàng”,
cho thấy vai trò của đồng tiền đã có tác dụng mạnh trong xã hội, làm đảo lộn
những giá trị đạo đức văn hóa của Nho giáo. Trong thơ văn Nguyễn Bỉnh
Khiêm, bức tranh hiện thực về sự ám ảnh của đồng tiền, một thế lực mới
trong xã hội Việt mới xuất hiện đã chà đạp lên nhân phẩm con người trong thế
kỷ XVI và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mỉa mai :
“Còn bạc còn tiền còn đệ tử

Thứ nhất, trong thời gian đầu nội chiến ưu thế luôn nghiêng về quân
nhà Mạc, điều đó đồng nghĩa với việc bị cướp bóc của cải, đồng ruộng bị tàn
phá, kinh tế bị suy hư;
Một nguyên nhân quan trọng khác, là vùng Thanh – Nghệ thiên tai xảy
ra với mật độ khá dày như: Năm 1557 mưa to ở Thanh – Nghệ lúa ngập, mất
mùa; năm 1559 ở nơi đây lại tiếp tục bị lụt, đê vỡ, đường lở, trôi vài trăm nóc
nhà, nhân dân đói kém; năm 1577 nước lụt đến 7 lần, dân đói to; năm 1582
mưa đá hoa màu đều bị gãy nát; 1584 động đất hơn 50 dặm; đặc biệt năm
1586 từ tháng 4 đến tháng 10 thiên tai liên tiếp… 1571 Thanh Hóa không thu
được hạt thóc nào…[22, tr.491 - 492].
Tóm lại, trong điều kiện chiến tranh khốc liệt lại thiên tai địch họa
không ngớt, nhà nước Lê – Trịnh chỉ mới cố gắng áp dụng những biện pháp 20
nhất thời nhằm khôi phục kinh tế và khuyến khích sản xuất, bức tranh kinh tế
đàng Trong thời này khá ảm đạm, điêu đứng. Phải đến năm 1592 khi chiếm
được Thăng Long vua Lê rời Thanh Hóa ra Thăng Long mới ban chiếu ân xá
cho nhân dân, nhưng không thấy bàn đến ruộng đất, tuy nhiên Đặng gia Phả
Ký có chép một số điều liên quan đến vấn đề ruộng đất. Điều đó càng giúp
cho chúng ta có cơ sở để khẳng định vai trò nhất định của nhà Mạc trong lịch
sử dân tộc. Và có cơ sở lý giải tại sao một người suy trước đoán sau như
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lại ra làm quan cho triều Mạc, sau khi nghỉ
hưu vẫn là cố vấn cho nhà Mạc, thậm chí có lúc vẫn mong muốn giúp Mạc
thống nhất non sông, khi đã 60 tuổi vẫn tòng quân lên Tuyên Quang để dẹp
anh em Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật.
1.1.3 Văn hoá - tư tưởng
Trong bối cảnh thế kỷ XVI ở Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà
nho, trí thức phong kiến, lại sống trong lòng dân thì không thể nằm ngoài quy
luật đó. Rõ ràng, Nguyễn Bỉnh Khiêm càng có điều kiện để tiếp thu cả hai

Nho giáo, do Khổng Tử (551 – 479 Tr.CN) sáng lập, ông là người
Trung Quốc thời Xuân Thu. Trung tâm của Nho giáo là các tư tưởng chính trị
- xã hội, đạo đức, với nội dung là đề cao các mối quan hệ rường cột trong
quan hệ “Tam cƣơng”, biểu hiện bằng chữ: “Trung” cho mối quan hệ vua –
tôi, “Hiếu” cho mối quan hệ cha – con, “Nghĩa” cho mối quan hệ chồng –
vợ; Đề cao phẩm chất người lý tưởng là “Ngũ thƣờng”: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí,
Tín. Trong đó xã hội Phong kiến Việt Nam đặc biệt chú ý đến chữ “Trung -
Nghĩa”. Trong thế kỷ XVI, trước cơn biến loạn của xã hội Việt Nam, việc nhà
nước phong kiến Việt Nam dùng công cụ vương pháp này để quản lý xã hội
đang rối loạn là điều cần hơn bao giờ hết.
Đến lúc này, người Việt đã tiếp thu Nho giáo từ cưỡng bức đến tự
nguyện và chính quyền Phong kiến cũng lấy nó làm hệ tư tưởng học thuật
chính của mình. Nho học được chia làm hai hướng: Học nghĩa lý và học
từ chương. Học từ chƣơng là học kinh nghĩa, thơ phú, văn sách như: “Tứ
thƣ” (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử),“Ngũ kinh” (Kinh thư, 22
Thi, Lễ, Nhạc, Xuân Thu) lối học này chủ yếu cho con đường khoa cử,
tùy theo qui định dưới mỗi triều mà các cuộc thi Hương – Hội – Đình có
mức độ khác nhau; Còn khuynh hướng thứ hai là học nghĩa lý là đi sâu
vào lý học, đạo học với mục đích vươn tới bản thể luận, nhận thức luận.
Ở nước ta từ thế kỷ XVI về trước chủ yếu học theo khuynh hướng học
khoa cử, người có năng lực theo học nghĩa lý Đạo học rất ít. Đến thế kỷ
XVI có Nguyễn Bỉnh Khiêm là đi sâu vào Lý học, theo Phan Huy Chú
nhận xét: Ông học rộng các sách, hiểu sâu nghĩa lý Kinh Dịch [54, tr.77].
Tƣ tƣởng Lão – Trang có nguồn gốc từ tác phẩm “Đạo đức kinh”, do
Lão Tử sáng lập (Lão Tử được giới nghiên cứu cho rằng ông sống cùng thời
với Khổng Tử dưới thời Xuân thu - Trung Quốc). Học thuyết Lão Tử được
phát triển bởi Trang Tử theo chủ nghĩa tương đối. Nội dung chủ yếu của Đạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status