ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*****
NGUYỄN THỊ ĐIỆP
(Thích Từ Ân)
QUAN ĐIỂM VỀ NGHIỆP CỦA PHẬT GIÁO VÀ
Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
LU ẬN V ĂN TH ẠC S Ĩ TRI ẾT H ỌC Chuyên ngành: TÔN GIÁO HỌC
Mã số: 60.22.90
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THANH BÌNH
HÀ NỘI - 2010
THÍCH TỪ ÂN * QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP CỦA PHẬT GIÁO VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI VIỆT
NAM HIỆN NAY * HÀ NỘI - 2010 1 MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài. 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
6. Đóng góp của luận văn. 9
7. Kết cấu luận văn 9
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP CỦA PHẬT GIÁO 10
1.1 Khái niệm và một số vấn đề về Nghiệp. 10
1.2 Nguồn gốc và biểu hiện của Nghiệp 16
1.3 Các loại Nghiệp 24
1.4 Đặc điểm của Nghiệp 38
CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA CỦA GIÁO LÝ NGHIỆP TRONG VIỆC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 45
2.1 Khái niệm về giáo dục và đạo đức 45
2.2 Giáo lý Nghiệp với vấn đề đạo đức con người Việt Nam. 49
2.3 Vai trò của Giáo lý Nghiệp trong việc giáo dục đạo đức con người Việt
Nam hiện nay 62
2.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức theo tinh thần
Phật giáo 85
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội ngày nay đang tồn tại một thực trạng khiến tất cả chúng ta
phải lo lắng. Đó là sự xuống cấp trầm trọng nền phong hóa, đạo đức truyền
thống của dân tộc: tệ nạn xã hội gia tăng, lối sống chạy theo đồng tiền và thực
tương đồng với những quy tắc, chuẩn mực nền đạo đức mới và được nhiều
người tin theo, phát huy. Mặc nhiên, họ lấy niềm tin vào Phật giáo làm lẽ sống
của mình, lấy đạo đức Phật giáo làm một trong những chỗ dựa để điều chỉnh
hành vi, hoàn thiện nhân cách, lành mạnh hóa cách ứng xử trong các mối quan
hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với gia đình, cộng đồng và xã hội.
Một trong những nội dung thể hiện rõ đạo đức Phật giáo là Giáo lý Nghiệp.
Vì thế, chúng tôi chọn vấn đề “Quan niệm về Nghiệp của Phật giáo và ý nghĩa
của nó trong giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho
luận văn thạc sỹ chuyên ngành Tôn giáo học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Đạo Phật là một tôn giáo có quá trình tồn tại cùng dân tộc hơn hai ngàn
năm. Xét ở bất cứ bình diện nào, Phật giáo đều có những tham gia, đóng góp
hữu ích cho sự phát triển của đất nước và dân tộc Việt Nam. Vì thế, từ lâu, Phật
giáo đã trở thành một đối tượng thu hút nhiều nhà nghiên cứu. Do đó, có rất
nhiều công trình trong và ngoài Phật giáo nghiên cứu đạo Phật từ nhiều phương
diện, với nhiều mục đích khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài,
chúng tôi chỉ nêu các công trình nghiên cứu tiêu biểu và các hướng nghiên cứu
chủ yếu có liên quan như sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu về Đạo đức Phật giáo có các tác phẩm:
- Hòa thượng Thích Đức Nghiệp với Đạo Phật Việt Nam ( Nxb TP.Hồ Chí
Minh ấn hành năm 1995).
Trong công trình nghiên cứu này, Hòa thượng đã dành 60 trang đề cập đến đạo
đức học Phật giáo. Tác giả khẳng định, Đạo đức học Phật giáo có thể coi như
một khoa học nhân bản mà trong đó “giới luật” và “bát chính đạo” làm nền tảng
trong việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức, nhân cách con người, con người mà
tốt thì xã hội mới có đạo đức. Theo tác giả, đạo đức học Phật giáo nhằm mang
Minh ấn hành, năm 1992). Trong phần I của công trình nghiên cứu này, tác giả
đã nêu rõ đạo Phật chung sống với người dân Việt Nam hơn 20 thế kỷ, là sợi
dây liên lạc đã thắt chặt đạo Phật với dân tộc Việt Nam thành một khối bất khả
phân ly. Tư tưởng Đạo Phật đã thấm nhuần tinh thần dân tộc và bởi sự liên hệ
mật thiết này, người dân Việt Nam coi đạo Phật là đạo của tổ tiên truyền lại. Từ
buổi đầu dựng nước đến cuối thời Trần, các thiền sư Phật giáo đã có sự đóng
góp quan trọng trong công cuộc cứu quốc và xây dựng đời sống chính trị, văn
hóa. Sự có mặt của Phật giáo chẳng những giúp cho nhà vua một đường lối
chính trị sáng suốt mà còn hướng dẫn dân tộc tiến cao trên con đường văn minh,
đạo đức. Những vị Thiền sư trong thời ấy chẳng những thâm đạt về đạo lý xuất
thế mà còn thấu hiểu các tổ chức xã hội, đem lại an lạc thực tế cho dân tộc…
5
Cũng trong phần này, tác giả đã phân tích và chứng minh bằng những dẫn chứng
thực tế, cụ thể trong văn học dân gian và văn chương bác học để nói lên Phật
giáo thích hợp với tinh thần dân tộc Việt Nam; vì theo tinh thần Phật giáo Đại
thừa là tùy cơ bao dung nên nó phù hợp với phong tục, tập quán và tín ngưỡng
của người Việt.
Trong Phần II của cuốn sách, tác giả đã lược qua một số giáo lý như: Luân
hồi, Vô ngã, Giải thoát trong đạo Phật để nêu bật luân lý trong Phật giáo là lấy
giải thoát làm mục đích, tức là biết quý trọng tự do của con người, con người tự
do là con người sống trong đất nước có tự do, đất nước có văn minh, quốc gia
tiến bộ và con người tự do là con người không bị ràng buộc bởi những hận thù,
tù tội, v.v.
- Trong Luận án tiến sĩ Phật học, Lý thuyết nhân tính qua kinh tạng Pali
của Thượng tọa Thích Chơn Thiện đã diễn giải và phân tích giáo lý Duyên khởi
của Đức Phật và trình bày một cách hệ thống những lời Đức Phật dạy qua kinh
tạng Pàli là “Lý thuyết về nhân tính” làm cơ sở xây dựng môi trường văn hóa,
giáo dục mới. Trong luận án này, tác giả không chỉ đề cập đến lý thuyết nhân
của sinh mệnh. Nghiệp không làm gì được người, chính người tạo Nghiệp. Như
nước thì mát, lửa thì nóng; nếu mó vào nước thì nước cho mát theo phận sự của
nó, lửa cũng cho nóng theo phận sự của nó, chỉ tùy người tự mó cảm nhận mà
thôi.
- Tìm hiểu Phật giáo nguyên thủy (Nxb Tôn giáo, năm 2004) của Thượng
tọa Thích Hạnh Bình là công trình nghiên cứu mà tác giả đã dành toàn bộ phần
hai của tác phẩm để nghiên cứu quan điểm về Nghiệp của Phật giáo nguyên
thủy, theo tinh thần “Kinh Tiểu nghiệp phân biệt và Đại nghiệp phân biệt”.
Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày một cách khái quát nhất nhân sinh quan
Phật giáo và vũ trụ quan Phật giáo qua giáo lý Nghiệp.
- Nàrada Thera với “Đức Phật và Phật pháp” (Phạm Kim Khánh dịch, Nxb
Tôn giáo, năm 1999). Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã dành từ
chương 18 đến chương 31 nói về Nghiệp. Tác giả đã trình bày giáo lý Nghiệp
theo quan điểm Phật giáo nguyên thủy thông qua sự phân tích các khái niệm về
Nghiệp và Nghiệp báo, sự báo ứng của Nghiệp, tính chất của Nghiệp, do đâu có
tái sinh, những cảnh giới tương ứng, Nghiệp báo và tái sinh đối với người
phương Tây.
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn như
trong Phật học phổ thông, Phật học khái luận, Phật học khái lược v.v. mà tác
giả bản luận văn này không trình bày được hết.
Có thể nói, các tác phẩm, bài viết trên đã nghiên cứu Phật giáo từ những
buổi đầu du nhập, trải qua quá trình cải biến và hòa hợp với dân tộc Việt Nam,
7
cùng những ứng dụng của Phật giáo trong đời sống xã hội. Riêng ứng dụng nội
dung Giáo lý Nghiệp vào giáo dục đạo đức con người Việt Nam thì chưa được
nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống. Do vậy, trong luận văn này, Giáo lý
Nghiệp Phật giáo sẽ được nghiên cứu và trình bày trên tinh thần có những điểm
tương đồng với những chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc và được giới
8
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về Tôn giáo và đạo đức tôn giáo; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của Triết học
Mác-Lênin. Phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành tôn giáo học, đồng thời
kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp tổng hợp -
phân tích, đối chiếu - so sánh, v.v
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các hệ tư tưởng, tôn giáo và triết phái Ấn Độ cổ đại đều có những nét
chung khá rõ rệt. Những nét chung đó tập trung vào một số điểm và hướng đến
mục đích là khẳng định phương pháp giúp con người thoát khỏi cuộc sống hạn
chế và khổ đau. Giáo lý Nghiệp là một trong những nét chung ấy. Tuy nhiên,
Giáo lý Nghiệp trong hệ thống Giáo lý Phật giáo, ngoài những nét chung, cũng
có những nét đặc thù và khác biệt so với những hệ tư tưởng, tôn giáo và triết
phái khác. Như lời Luận sư Buddhaghosa phát biểu khi so sánh hai quan điểm
Nghiệp lực khác nhau của Phật giáo và Kỳ na giáo: “Phật giáo ví như con sư tử
vậy. Khi kẻ đi săn nhắm bắn vào con sư tử, thì con sư tử dũng mãnh xông vào
và xây dựng nền đạo đức lành mạnh, tốt đẹp ở nước ta hiện nay.
6. Đóng góp của luận văn
Với việc trình bầy những nội dung chủ yếu và những giá trị thực tiễn nổi
bật của Giáo lý Nghiệp trong đời sống người dân Việt Nam, luận văn mở ra một
hướng tiếp cận mới đối với người học Phật.
Luận văn có thể ứng dụng vào thực tiễn góp phần xây dựng một nền đạo
đức đậm đà bản sắc dân tộc vừa mang tính hiện đại.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo giảng dạy.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo,
phần Nội dung có 2 chương (với 8 tiết):
- Chương 1: Quan niệm về Nghiệp của Phật giáo (với 4 tiết).
- Chương 2: Ý nghĩa của giáo lý Nghiệp trong việc giáo dục đạo đức con
người Việt Nam hiện nay (với 4 tiết).
10
CHƯƠNG 1
QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP CỦA PHẬT GIÁO
1.1. Khái niệm và một số vấn đề về Nghiệp
1.1.1. Nghiệp là gì?
Mong muốn của các nhà tư tưởng Ấn Độ là tìm ra một đáp án thỏa đáng
cho những vấn đề liên quan đến con người. Vấn đề này trong thời đại chúng ta
vẫn có tính thời sự cao. Những vấn đề cụ thể như: tại sao có người sung sướng
trong khi có người lại đau khổ, người xấu xí đứng cạnh người đẹp đẽ, người
linh hàm nghĩa con người là một chủ thể hòa nhập vào đối tượng để nhận thức
nó một cách đúng đắn và đúng như nó. Và các tôn giáo ở Ấn Độ như Phật giáo
và Ấn giáo đã tiếp thu một cách sáng tạo triết lý này. Vì thế, xét về cơ bản, các
tôn giáo ở Ấn Độ đều có những điểm giáo lý tương đồng: thuyết Nghiệp, thuyết
giải thoát, thuyết về một linh hồn thường tại, thuyết nhân sinh là khổ và lý tưởng
về một cuộc sống đạo đức.
Nói về Nghiệp (Kamma) là một đề tài nghiên cứu lớn của các nhà triết
học và tôn giáo, Phật giáo cũng không ngoại lệ. Nó luôn luôn là đề tài được thảo
luận của nhiều nhà nghiên cứu, là vấn đề quan tâm của nhiều người, như con
người từ đâu sinh ra và sẽ đi về đâu sau cuộc sống này; tại sao có hạng người
sinh trưởng trong cung điện nguy nga, giàu sang vinh hiển, trí tuệ xuất chúng,
đạo hạnh thanh cao, thân hình tráng kiện, trong khi ấy có kẻ khác lại phải chịu
sống trong cảnh cùng đinh, cơ hàn khốn khổ?; tại sao có người là tỉ phú mà lại
có người cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc?; tại sao có người thông minh
tuyệt vời và có kẻ tối tăm ngu muội? Tại sao người này được sinh ra với bẩm
tính hiền lương của các bậc thánh nhân, người khác lại sẵn nếp hung dữ từ khi
lọt lòng mẹ ?; tại sao có hạng thần đồng, thông suốt nhiều thứ tiếng, nhiều phép
toán, có hạng thần đồng về khoa hội họa, văn chương, âm nhạc…?; tại sao có
những trẻ con vừa sinh ra đã mù, điếc, câm, ngọng hoặc hình thể kỳ dị?; tại sao
có những trẻ em vừa mở mắt chào đời đã hưởng mọi phúc đức, sung sướng và
có em lại bị xem như một tội khổ? Phải chăng có những nguyên nhân nhất định
tạo nên sự chênh lệch trong thế gian?; nếu không, những bất đồng kể trên hẳn là
những hiện tượng ngẫu nhiên xẩy ra hoàn toàn do sự may rủi.
Đạo Phật không tin vào sự may rủi và không chấp nhận giải thích bằng sự
ngẫu nhiên, may rủi. Trong thế gian này, không một điều gì xảy đến cho một
người nào mà không có nguyên nhân. Quả vui, quả khổ của những người đang
gặt hái đều sinh ra do những nhân tốt hay xấu đã tạo ra hoặc trong kiếp hiện tại
12
Phật giáo, có tính kế thừa và phát triển riêng của từng Bộ phái. Nhưng cho dù lý
giải thế nào đi nữa, điểm lý giải chung nhất của các phái đề cập đến Nghiệp là
13
sự giải thích mỗi quan hệ giữa Nhân và Quả, là đề cao tinh thần trách nhiệm cá
nhân và bình đẳng trong mối quan hệ Nhân và Quả, nêu cao tinh thần độc lập và
sự nỗ lực của cá nhân. Đó là những điều kiện cơ bản để cá nhân thoát khỏi sự nô
lệ ý thức, vươn tới đời sống hạnh phúc, là nhân tố để xây dựng đời sống đạo đức
và trật tự xã hội. Vì người có ý thức về Nghiệp lực là người có tinh thần trách
nhiệm đối với cá nhân và tập thể, là yếu tố cơ bản để ngăn chặn những hành vi
phạm pháp. Như vậy, Nghiệp trong Phật giáo có yếu tố tích cực trong việc xây
dựng một nếp sống có đạo đức, giúp con người có cuộc sống bình an, xây dựng
một gia đình hạnh phúc và một xã hội thịnh vượng, có trật tự, kỷ cương.
Vậy Nghiệp là gì ?
Chữ Nghiệp dịch từ chữ Karma (Sanskrit) hay Kamma ( Pali).
Kamma có nghĩa là: hành động, hành vi hay sự tạo tác. Tuy nhiên hành
động, hành vi hay sự tạo tác này có hai trường hợp là hành động có chủ ý và
hành động không có chủ ý. Theo Phật giáo, chỉ có những hành động tạo tác có
chủ ý mới thành Nghiệp còn hành động vô ý thì không có Nghiệp.
Như vậy, Nghiệp không phải là những hành động của thân, khẩu, ý đơn
thuần mà cái quyết định tạo Nghiệp là có chủ ý .
Trong Kinh Annguttana - NiKaya Đức Phật dạy “Này các Tỳ khiêu Như
Lai xác nhận rằng Tư-tác chính là Nghiệp”. Tư-tác này chính là Tư-tâm-sở.
Từ đó rút ra định nghĩa: Nghiệp là những hoạt động có chủ ý của thân,
khẩu, ý hay Nghiệp là những hành động của thân, khẩu, ý được dẫn đầu bởi một
Tư-tưởng hay Tư tâm-sở.
Tư tưởng, lời nói, việc làm thường theo ý muốn mà phát khởi. Phật giáo
gọi ý muốn hay ý chí ấy là Tư-tác. Tất cả những hành động có Tư-tác, biểu hiện
nơi thân, khẩu hay ý, đều tạo Nghiệp. Tất cả những hành động có Tư-tác thiện
Tư là: ý chí, ý muốn, ước vọng, chủ ý, cố ý; nó quy tụ và chủ đạo các Tâm-
sở đi kèm để tạo ra tính chất sai khác, đa dạng của các loại Nghiệp. Tư có thể là
thiện, ác, vô-lậu và bất-động.
Ở đây, cần phân biệt Tư-tác không phải là tác-ý. Vì tác-ý vẫn là công năng
làm việc của thức, nó còn muội lược (chưa thành ý nghĩ hay hành động cụ thể)
và không mang trách nhiệm vào luân hồi sinh tử. Còn Tư-tác nó lại mang tính
chất quyết định tạo Nghiệp thiện, ác, dẫn đầu tham gia vào tất cả các hành
Nghiệp của con người.
Chúng ta phân tích bảy biến hành tâm sở để phân biệt tác- ý và Tư-tác.
Bảy biến hành Tâm sở: Xúc, tác-ý, thụ, tưởng, tư, mạng-căn, nhất-tâm.
Xúc: Là sự giao tiếp, xúc chạm, tiếp giáp giữa căn và trần.
Tác-ý: Là khởi ý, hướng tâm đến đối tượng, đưa tâm đến đối tượng.
15
Thụ: Là cảm thụ cảnh, tiếp nhận cảnh. Thường thì có xúc mới có thụ,
không xúc thì không thụ. Thụ chỉ là cảm thụ đơn thuần, tự nhiên, khách quan, là
kết quả dị thục (quả chín nhậm vận và khác thời) của Nghiệp trong quá khứ.
Tưởng: Là nhận biết đối tượng một cách khách quan bằng giác quan,
là cái biết của giác quan hay tri giác. Tưởng chỉ đóng vai trò tiếp nhận, suy đạc,
xác định đối tượng chứ không phán đoán và quyết định trạng thái. Tưởng có thể
đúng, có thể sai, nhưng chưa tạo thành Nghiệp thiện, ác. Nó chỉ đóng vai trò
cung cấp dữ liệu, nên tưởng cũng thuộc về vô nhân dị thục, chỉ là kết quả thụ
động.
Tư: là tâm sở tạo tác, quyết định các hành động của tâm. Nó đóng vai
trò quan trọng nhất trong 51 tâm-sở, có Tư là có Nghiệp. Nó chi phối các
Nghiệp thiện, ác và bất-động. Riêng các tâm Siêu thế, Tư không còn tác dụng,
nó được thay bằng tuệ, vì tâm tại thế có huynh hướng tích lũy Nghiệp, còn tâm
Siêu thế có huynh hướng loại trừ, diệt tận Nghiệp. Tư đóng vai trò tạo tác các
Nghiệp thiện, bất-thiện, bất-động. Nếu Tư bị Vô-minh, Ái-dục điều động thì nó
định, cây dưa mới mọc, lớn lên và cho quả. Tạo Nghiệp-ác hay Nghiệp-thiện
cũng như vậy. Nghĩa là phải có đủ nhân-duyên và thời gian thích hợp thì mới có
quả báo thiện hay ác. Vì thế, trong cuộc sống, có người tuy hiện nay tạo ra nhiều
Nghiệp-ác, nhưng vẫn sống sung sướng trong hoàn cảnh giàu sang, là vì người
ấy trong một kiếp trước đã tạo ra nhiều Nghiệp-thiện, đến đời này vừa đúng thời
gian lại có điều kiện thích hợp cho nên được quả báo lành, được hưởng giàu
sang phú quý. Còn những Nghiệp ác anh ta tạo ra trong đời sống hiện tại, thì
chưa đến thời gian chín muồi, lại chưa có nhân duyên thích hợp, cho nên quả
báo ác chưa đến (không phải không đến!” [88, tr.1].
Trong Kinh Majjhima Nikàya, Đức Phật dạy rằng: "Con người là chủ nhân
của Nghiệp, là kẻ thừa tự Nghiệp. Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được
sanh ra; Nghiệp là quyến thuộc, là nơi nương tựa" [7, tr.155]. Như thế, sự hiện
hữu của mỗi con người đồng thời là sự hiện hữu của Nghiệp thiện và bất thiện từ
(vô lượng kiếp) quá khứ. Mỗi cá thể là điểm trung tâm của Nghiệp; ngoài mỗi cá
thể ấy sẽ không có bất kỳ một Nghiệp nào được bàn đến.
1.2. Nguồn gốc và biểu hiện của Nghiệp
1.2.1. Nguồn gốc của Nghiệp
Kỳ na giáo có một quan điểm cơ giới về Nghiệp: nhân biểu hiện ra như thế
nào thì quả biểu hiện ra như thế ấy, bất kể động cơ tâm lý hay dụng tâm của
đương sự như thế nào. Cũng theo giáo phái này, sống khổ hạnh, ép xác, tự làm
17
khổ mình, có thể bù cho Nghiệp ác tạo ra từ đời trước, triệt tiêu Nghiệp ác này.
Đồng thời, đương sự phải kiên trì, không làm gì hết để không còn tạo Nghiệp
mới nữa.
Theo quan điểm Phật giáo, Nghiệp thiện hay ác chỉ có thể hình thành trên
Để hiểu một phần về nguồn gốc của Nghiệp chúng ta phân tích ví dụ: Khi
chúng ta nghe một lời khen, chúng ta vui thích và muốn giữ mãi là bắt nguồn từ
tham và bị tham chi phối. Khi nghe một tiếng chê, chúng ta khó chịu và có phản
ứng là bắt nguồn từ sân và bị sân chi phối. Khi nghe một bài hát mà mình không
thích không ghét thì chúng ta lan man nghĩ chuyện này chuyện kia là do chúng
ta bị si chi phối. Cả ba trường hợp này đề có sự tham gia của Tư-tâm-sở là tham,
sân, si. Như vậy, cả ba trường hợp chúng ta đều tạo Nghiệp, động cơ chính để
tạo Nghiệp là Tư.
Tham: Là trạng thái nắm giữ, tâm muốn nắm giữ mãi không muốn nó mất
đi. Trong kinh Tam Chuyển Pháp Luân, Đức Phật gọi là hữu ái.
Sân: Chúng ta không muốn nó tồn tại, muốn hủy diệt, xua đuổi, là không
muốn cho tồn tại nên Đức Phật gọi là phi hữu ái.
Si: Là trạng thái tâm bắt đầu lăng xăng khởi niệm, mặc dù những niệm khởi
này còn chưa rõ nét là tham hay sân. Trạng thái lăng xăng khởi niệm này, Đức
Phật gọi là dục ái, sở dĩ vẫn gọi là ái vì nó là trạng thái muốn nắm bắt cảnh trần.
Dục ái, hữu ái và phi hữu ái gọi chung là tham ái. Như vậy, chúng ta thấy,
tất cả các Nghiệp có nguồn gốc từ tham-ái được biểu hiện là dục ái, hữu ái và
phi hữu ái
Trong định nghĩa về Nghiệp chúng ta biết rằng, Tư chính là Nghiệp, hay
những hành động chủ ý, cố ý là Nghiệp. Những hành động cố ý ấy từ đâu mà
có? Đó chính là nguồn gốc của Nghiệp. Trong Thập-nhị-duyên-khởi kinh văn có
câu:“Duyên vô-minh, hành sinh khởi”.
Hành chính là tư tâm-sở chi phối toàn bộ tâm sinh-lý, vật-lý của con người
trong suốt ba cõi, trong đó Tư-tâm-sở quan trọng nhất vì chính nó tạo Nghiệp.
Nói cách khác, các Nghiệp thiện, ác, bất-động được biểu hiện qua ái, thủ, hữu
đều do vô minh mà có.
Vô minh là : Không sáng suốt, không thấy được thật tướng của vạn pháp;
sự thấy lầm, sự mê lầm, không thấy rõ Tứ-đế.
Từ định nghĩa gốc như vậy, từ thực trạng của vô-minh như vậy, nó chi phối
tâm và trí của chúng sinh, làm cho tâm thì tham, sân, phiền-não-chướng; làm
Vòng 7 (Tối cực bất cộng nghiệp hay
Biệt nghiệp)
Biểu đồ bảy vòng này miêu tả một cách hình ảnh về Nghiệp và đây là
phương pháp đơn giản và hiệu quả giúp chúng ta hình dung về Nghiệp. Biểu đồ
bảy vòng, mỗi vòng tượng trưng cho một phạm vi Nghiệp. Điểm giống nhau
giữa các vòng 1 – 6, đó là tính Cộng Nghiệp (cùng nhận lãnh một loại Nghiệp).
Chỉ riêng vòng 7 là có tính Biệt Nghiệp (không cùng nhận lãnh một loại
Nghiệp). Nói đơn giản hơn, mức độ ảnh hưởng của cộng Nghiệp càng rộng thì
số lượng cá nhân nhận lãnh Nghiệp càng đông và ngược lại. Đồng thời, tính bắt
20
buộc càng chặt hơn trong vấn đề thụ nhận Nghiệp của các cá thể. Một điều
chúng ta cần lưu ý, mỗi cá nhân đều phải nhận lãnh cả hai loại hình thức Cộng
Nghiệp và Biệt Nghiệp. Do đó, biểu đồ trên có thể được nhìn nhận như sự miêu
tả Nghiệp của mỗi cá thể trong các loài sinh vật, kể cả con người.
Vòng một, vòng ngoài cùng, gọi là Cực Cộng Nghiệp. Ngay tên gọi đã
khiến chúng ta nghĩ ngay đến phạm vi ảnh hưởng rộng lớn của vòng Nghiệp
này. Thực chất, khi sinh ra và tồn tại trong vũ trụ này, tùy theo bản chất loài mà
mỗi sinh vật tự hình thành nên một thế giới, phạm trù vũ trụ riêng. Loài người
không thể giống các loài vật khác nếu xét về khái niệm thế giới. Do đó, thế giới
loài người được hình thành hoàn toàn khác với thế giới loài vật. Và vũ trụ quan
của loài người quyết định sự hình thành thế giới vật chất phù hợp với loài người.
Đôi khi, vì chấp thủ, loài người lại nhầm lẫn rằng, các sinh vật khác cũng nhận
thức đạo đức, lý trí và năng lực tự giác. Đây là một biểu hiện của Đại cộng
Nghiệp và nó góp phần tạo nên những đặc sắc ở con người. Đặc sắc vì nó tác
động con người tự hình thành sinh vật có lý tính, có đạo đức (cảm tình), sống và
hành động có mục đích.
Nói đến ngôn ngữ (bao gồm chữ viết, lời nói), chỉ có loài người sử dụng
ngôn ngữ. Đó là do nhu cầu trao đổi thông tin, thể hiện quan điểm của loài
người nói chung, hay tính cộng hưởng của Đại Cộng Nghiệp. Tuy nhiên, như
chúng ta biết, mỗi dân tộc lại có hệ thống ngôn ngữ riêng và mỗi dân tộc nếu
không tự nâng cao khả năng ngôn ngữ thì nhu cầu trao đổi thông tin sẽ bị hạn
chế. Cũng vậy, mỗi cá nhân nếu không tự hoàn thiện kiến thức, kho tàng ngôn
ngữ, thì phạm vi tiếp nhận thông tin, thể hiện quan điểm cũng bị hạn chế. Và
trong trường hợp này, tính biệt Nghiệp được biểu hiện.
Ý thức đạo đức được hình thành từ hệ thống những chuẩn mực sống được
số đông con người chấp nhận. Con người ngay khi sinh ra chưa có ý thức này,
mà phải trải qua sự giáo dục, tiếp xúc thực tế, trải nghiệm cuộc sống. Do bởi, hệ
thống chuẩn mực sống, những yếu tố góp phần hình thành đạo đức, cũng do
chính con người mặc nhiên thống nhất với nhau và tạo điều kiện để nó tồn tại
trong xã hội loài người. Đó là những giá trị, chuẩn mức tô đậm bản chất người
trong mỗi chúng ta. Và khi thọ nhận sự giáo dục, tiếp xúc và trải nghiệm, con
người nhận ra những giá trị tốt đẹp của chúng, và rất tự nhiên, họ tham gia vào
quá trình lưu giữ nền đạo đức này. Mặc nhiên, nó tác động trở lại và góp phần
hình thành ý thức đạo đức trong mỗi cá thể.
Một điểm đặc sắc nữa của loài người là con người có lý trí, năng lực tự giác
so với các sinh vật khác thường chỉ hành động theo bản năng và phản xạ. Xuất
phát từ nhu cầu hoàn thiện cuộc sống, con người không ngừng tìm hiểu thế giới
22
xung quanh. Từ nhu cầu ấy, con người tiếp xúc thực tế và thu thập thông tin.
Dần dần, từ những lần thu thập, ý thức thể hiện quan điểm cá nhân, qua trao đổi