- 1 -
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ HUYỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT TỚI CÁC
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 60 22 85 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN NGUYÊN VIỆT
Hà Nội - 2010
- 3 -
MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo Phật truyền bá vào nước ta khoảng đầu công nguyên và đã trở
thành một trong những tôn giáo lớn, có sức sống lâu dài và ảnh hưởng sâu sắc
đến đời sống tinh thần con người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại,
đồng thời trở thành một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của nền
văn hoá dân tộc.
Một thực tế cho thấy, sự hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị
trường đang mang lại cho đất nước ta nhiều cơ hội thuận lợi. Song bên cạnh
đó cũng có không ít thách thức, đặc biệt là lĩnh vực đời sống tinh thần của xã
hội. Nền kinh tế thị trường mặc dù theo định hướng xã hội chủ nghĩa, song
vẫn có những yếu tố tiêu cực mà ảnh hưởng của chúng không tốt, thậm chí ở
một số hoàn cảnh nhất định, đã làm thay đổi các giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc vốn được hình thành hàng thế kỷ.
Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, nền đạo đức mới mà
chúng ta đang xây dựng cần phải hướng tới một hệ thống giá trị tinh thần mà
ở đó, cái truyền thống và cái hiện đại phải được kết hợp với nhau một cách
chặt chẽ để nền văn hoá dân tộc nói chung và các giá trị đạo đức truyền thống
nói riêng tham gia vào sự hoà nhập với các giá trị phổ biến toàn nhân loại mà
không bị hoà tan, điều mà Đảng ta kêu gọi là không làm mất đi bản sắc văn
hoá tốt đẹp của dân tộc.
Chính vì vậy, việc phát huy cái đúng, cái tốt, cái đẹp (chân, thiện, mĩ),
tiếp thu các giá trị tiến bộ và phổ biến toàn nhân loại trong quan hệ giữa con
người với con người, con người với tự nhiên, đồng thời phê phán những thói
hư tật xấu, lên án cái ác, chính là chuẩn mực các giá trị đạo đức của con người
Việt Nam hiện nay.
- 2 -
Đạo Phật với quan niệm nhân sinh độc đáo của nó đã trở thành một bộ
phận không thể thiếu của nền văn hoá dân tộc và trong điều kiện hiện nay. Sự
tác động không nhỏ của nó theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực tới
người Việt Nam trong lịch sử và hiện tại.
Về vấn đề nhân sinh quan Phật giáo, đạo đức Phật giáo đã có rất
nhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể như:
Thích Tâm Thiện với cuốn Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo [Nxb
TP HCM PL 2538 - DL1994], trong đó tác giả lấy Duyên sinh - vô ngã làm
đối tượng để nghiên cứu. Đó chính là vấn đề mấu chốt, cốt lõi, thể hiện tinh
hoa của Phật giáo. Tác giả đã cho người đọc thấy được vị trí và giá trị của
Phật giáo với những nguyên lý nền tảng của nó.
Lưu Vô Tâm với cuốn Phật học khái lược [Phân viện nghiên cứu Phật
học Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2002], một cuốn sách giới thiệu cho
người đọc thấy được những nét cơ bản nhất về nguồn gốc, kết cấu, nội dung
cơ bản của đạo Phật, trong đó các học thuyết Tứ diệu đế, nhân quả, luân hồi,
vô ngã…chứa đựng giá trị đạo đức Phật giáo sâu sắc.
Cuốn sách Cây giác ngộ của TS. Peter Della Santina, do Thích Tâm
Quang dịch ra tiếng Việt [Nxb Tổng hợp TP HCM, PL: 2546 - DL: 2002].
Tác giả đã trình bày một cách có hệ thống các vấn đề của cuốn sách như: Phật
giáo - một nhãn quan hiện đại, bối cảnh trước khi có Phật giáo, cuộc đời Đức
Phật, bốn chân lý cao quý của nhà Phật, giới, nghiệp, tái sinh, năm khối tập
hợp ngũ uẩn. Có thể nói, Cây giác ngộ là một bức tranh minh hoạ tổng thể
giáo lý Phật giáo.
Cuốn Tâm và Ta của Thích Trí Siêu [Nxb Phương Đông, Hà Nội, 2005]
là cuốn sách đã góp phần bổ túc rất nhiều kiến thức về giáo lý Vô ngã, trong
đó tác giả đã giải thích rõ Tâm là gì? Ta là gì? Vì sao mỗi người sinh ra trên
cõi đời này chỉ là Vô ngã?
- 4 -
Năm 2006, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội đã xuất bản cuốn Chân lý
sống của Tỳ Kheo Thích Thiện Hạnh. Đây là cuốn sách dành cho người muốn
tìm hạnh phúc và sự bình an qua con đường giác ngộ. Đó là con đường rất
đơn giản, thích hợp với mọi người, song nó đòi hỏi người tu hành cần phải
của triết lý nhà Phật để cứu dân, cứu nước.
Năm 2001, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội cho ra mắt cuốn Đạo phật
với tuổi trẻ của Thích Thanh Từ. Trong cuốn sách này, tác giả đã bác bỏ quan
niệm sai lầm cho rằng, đạo Phật chỉ dành riêng cho những bậc lão niên, những
người yếm thế nên thanh niên xem thường, bàng quan và tránh xa đạo Phật.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu của tác giả, hàng loạt vấn đề như: Đức hỷ xả, Đức
thanh tịnh, Đức tinh tấn, tuổi trẻ với hạnh nhẫn nhục được làm rõ. Từ đó,
tác giả đưa ra khẳng định cho rằng, đạo Phật là “đạo của tuổi thanh xuân đang
căng tràn nhựa sống và thiết tha yêu đời”. Tác giả khuyên tuổi trẻ nên học
Phật từ sớm vì đó là cách tốt nhất để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức.
Cuốn Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam [Nxb. Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2006] của TS. Đặng Thị Lan đã khảo lược những nét
cơ bản nhất của đạo đức Phật giáo như: Từ bi là giá trị nền tảng của đạo đức
Phật giáo; Ngũ giới là các chuẩn mực cơ bản của đạo đức Phật giáo; các khái
niệm nhân quả, nghiệp báo, luân hồi…; mối liên hệ giữa đạo đức Phật giáo
với đạo đức truyền thống Việt Nam; vai trò của đạo đức Phật giáo trong việc
xây dựng và hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay.
Đề cập đến giá trị đạo đức Phật giáo, TS. Hoàng Thị Thơ có bài Giá trị
đạo đức của Phật giáo trong truyền thống và hiện đại, đăng trong kỷ yếu của
Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ II với chủ đề Việt Nam trên đường
- 6 -
phát triển và hội nhập: Truyền thống và hiện đại, TP HCM, 14 - 16/7/2004
(tập 3), (Nxb Thế giới & Đại học Quốc gia Hà Nội, VASS, 2007. Trong đó,
tác giả đã tập trung phân tích những ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo tới đạo
đức truyền thống và hiện đại của Việt Nam. Đó là những vấn đề về tính
hướng nội - bình đẳng - phi thần quyền của đạo đức Phật giáo.
Năm 2008, Nhà xuất bản Phương Đông, Hà Nội đã xuất bản cuốn Sức
mạnh của Đạo Phật của tác giả Jean - Claude Carriere, người dịch là Nguyễn
Tiến Lộc. Đọc cuốn sách này chúng ta thấy được những mảng đề tài, những
không còn là một lĩnh vực mới mẻ, xa lạ. Số lượng các công trình cũng như
kết quả của các công trình đó rất lớn. Tuy nhiên, việc trình bày vai trò và ảnh
hưởng của Phật giáo tới các giá trị đạo đức con người Việt Nam trong lịch sử
và hiện đại là vấn đề rộng lớn, cần phải tiếp tục làm rõ, đặc biệt là ảnh hưởng
của đạo Phật đến đạo đức của người Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích:
Nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Phật tới các giá trị đạo đức con người
Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay.
- Nhiệm vụ:
+Trình bày sự ra đời của Phật giáo và những nội dung tư tưởng cơ bản
của nó.
- 8 -
+Trình bày một cách khái quát về khái niệm đạo đức, giá trị đạo đức, hệ
thống giá trị đạo đức của người Việt Nam trong truyền thống và hiện đại. Qua đó
thấy được hệ chuẩn các giá trị đạo đức của người Việt Nam từ xưa đến nay.
+Trình bày ảnh hưởng của đạo Phật tới các giá trị đạo đức của người
Việt Nam trong lịch sử và đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường
hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
về triết học và lịch sử triết học kết hợp với phương pháp luận nghiên cứu triết
học phương Đông.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp các phương pháp: phân tích
và tổng hợp, logic với lịch sử, quan sát, phỏng vấn.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung tư tưởng cơ bản Phật giáo, đặc biệt
- 10 -
NỘI DUNG
Chƣơng 1
HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO
VÀ NHỮNG NỘI DUNG TƢ TƢỞNG CƠ BẢN CỦA NÓ
1.1. Hoàn cảnh ra đời và ngƣời sáng lập ra Phật giáo
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo
Phật giáo Ấn Độ ra đời trên cơ sở văn hoá truyền thống của nó, đó là
những điều kiện xã hội và tiền đề tư tưởng, trong đó tiền đề tôn giáo đóng vai
trò quyết định đến những nội dung tư tưởng cơ bản của Phật giáo. Ra đời
trong giai đoạn cuối của thời kỳ Vệ Đà, tức thời kỳ hình thành các bộ kinh
quan trọng của tôn giáo Vệ Đà với sự xuất hiện các dòng phái triết học - tôn
giáo chính thống, đồng thời làm xuất hiện giai đoạn mới của tôn giáo này là
Bà La Môn, Phật giáo cùng với Kỳ Na giáo (Jaina) đã trở thành những trường
phái triết học - tôn giáo chống lại chủ trương phân biệt đẳng cấp xã hội và đi
liền với nó là vấn đề giải thoát con người ra khỏi sự khổ đau. Sự phân chia
vật, bị các đẳng cấp khác xua đuổi hoặc giết chết một cách thản nhiên. Như
vậy, sự cách biệt không chỉ bởi đặc quyền tiếp xúc với các lễ nghi, tri thức
[Veda] của tăng lữ Bà La Môn, bởi sức mạnh thống trị, tàn sát, chiếm hữu về
mặt nhà nước của Ksatrya; bởi tầng lớp quốc nhân (tầng lớp nhân dân lao
động có một số thực quyền, mà còn bởi điều kiện giải thoát cho con người ra
khỏi cuộc đời khổ đau truyền kiếp).
Đề cập đến các tiền đề xuất hiện của Phật giáo không thể thiếu văn hoá
tư tưởng. Đó là các văn bản tư liệu cổ nhất của Ấn Độ được hình thành qua
hàng thế kỷ mà từ đó xuất hiện các trường phái triết học khác nhau, đặc biệt là
các dòng chính thống. Tuy Phật giáo là một học thuyết tôn giáo triết học phi
chính thống của Ấn Độ, song những khái niệm, phạm trù của nó đều có nguồn
gốc từ các văn kinh của Vệ Đà.
Vệ Đà có nghĩa là tri thức, là tập hợp các tập quán tín ngưỡng, các bài
văn ca ngợi thần linh từ thiên niên kỷ thứ 3 TCN, còn gọi là các samhita. Tiếp
theo Vệ Đà hay còn gọi là lớp tư liệu thứ hai là Brâhmana chứa đựng những
- 12 -
nội dung kiến giải, chú thích cho các samhita. Lớp thứ ba là Aranyaka, còn
gọi là sách chú giải dành cho các cư sĩ sống trong rừng. Lớp thứ tư là
Upanishad, là bộ sách chú giải mang ý nghĩa triết học sâu sắc nhất.
Các samhita gồm có 4 bộ. Thứ nhất là Rigveda, hay còn gọi là Vệ Đà
của các bài thánh ca ca ngợi các thần linh, được hình thành từ thế kỷ 18 đến
thế kỷ 12 TCN. Thứ hai là Sammaveda, còn gọi là Vệ Đà của các giai điệu, đa
phần trùng hợp với các bài thánh ca trong Rigveda nhưng mang ý nghĩa lễ
nghi tôn giáo nhiều hơn. Thứ ba là Jadzurveda, còn gọi là Vệ Đà của các lễ
nghi hiến tế. Thứ tư là Atharvaveda, còn gọi là Vệ Đà của những yếu tố ma
thuật, phù chú.
Thế giới quan thần thoại, tín ngưỡng tôn giáo, chủ nghĩa duy tâm trong
thánh kinh VêĐa, Upanishad đã trở thành hệ tư tưởng thống trị đời sống tinh
thần người Ấn Độ cổ.
Là người sáng lập trường phái Phật giáo thuộc hệ phái phi chính thống
trong lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại, song Phật không trước tác, tức không để
lại những tác phẩm giáo lý kinh điển của Phật giáo. Những kinh điển Phật
giáo mà hiện nay đang được lưu hành đều do các môn đệ của Ngài qua các
thế hệ biên tập và phát triển từ hình thức truyền miệng. Những tác phẩm kinh
điển đầu tiên được tập hợp trong suốt 300 năm sau khi Phật mất, đó là vào
thời thịnh vượng của Phật giáo, thời vua Asoka. Ông vua này được gọi là Phật
hoàng, người có công tiến hành ba cuộc kết tập và hình thành nên bộ kinh
điển quan trọng của Phật giáo mang tên Tam tạng kinh (Tripitaka - ba giỏ lớn
chứa đựng các nội dung giáo lý Phật giáo được viết trên những chiếc lá dừa).
Kinh điển được viết bằng tiếng Pali, do đó nó còn được gọi dưới tên khác là
kinh Pali.
- 14 -
Tam tạng kinh bao gồm: 1. Kinh tạng (Sutta-pitaka) - tập hợp các bài
giảng của Phật và những bài giảng của học trò được Ngài cho phép giảng
trong cộng đồng Phật giáo; 2. Luận tạng (Abhidhamma-pitaka) - phần phát
triển Kinh tạng về phương diện triết học, tâm lý - đạo đức bởi những bậc đạt
đức cao siêu; 3. Luật tạng (Vinaya - pitaka) tập hợp các giới luật, chuẩn tắc
cuộc sống của nhà tu hành và điều luật của các tổ chức giáo hội Phật giáo.
1.2. Những nội dung tƣ tƣởng cơ bản của triết học Phật giáo
1.2.1. Vài nét khái quát về thế giới quan Phật giáo
Phật Thích Ca đã né tránh một cách có ý thức những vấn đề lớn của thế
giới quan như cấu trúc của vũ trụ, linh hồn và mối quan hệ của nó với thể xác.
Những vấn đề khác như thế giới có vĩnh hằng hay không, nó hữu hạn hay vô
hạn, linh hồn có đồng nhất với thể xác không, linh hồn bất tử hay không bất
tử đều được Phật xem là không quan trọng. Phật chỉ quan tâm nhất đến điều là
làm thế nào để giải thoát con người ra khỏi thế giới đầy rẫy những khổ đau.
Tuy nhiên, để thực hiện điều đó, Phật kêu gọi phải có nhận thức đúng về thế
giới ngoại cảnh đang không ngừng biến đổi trên lập trường của thuyết duyên
tiện, điều kiện - Vạn pháp do nhân duyên mà thành. Một sự vật, hiện tượng
không phải là do một nhân duyên mà do nhiều nhân duyên. Vậy nên, các sự
vật, hiện tượng quan hệ mật thiết với nhau, tác động và chi phối lẫn nhau.
Trong quá trình vận động, nhân duyên liên tục kết hợp, liên tục tan rã, cho
nên các sự vật, hiện tượng cũng liên tục sinh, liên tục diệt. Nguyên lý duyên
sinh vô ngã nói rằng tất cả những gì hiện hữu trên cõi đời này là hiện hữu của
tương duyên. Tương duyên là tính chất cơ bản của hiện hữu. Con người do
duyên sinh nên vô ngã. Con người vô ngã vì do duyên sinh. Lý duyên sinh
cho thấy con người không có Ngã, mà chỉ là một chuỗi dài mười hai nhân
duyên trôi chảy bất tận.Tiếng nói duyên sinh vô ngã của nhà Phật có ý nghĩa
- 16 -
vô cùng to lớn, mang lại một niềm tin lớn cho tất thảy chúng sinh và cũng là
điểm khác biệt giữa Phật giáo với tất cả các tôn giáo khác. "Đối với xã hội,
đây là một bước ngoặt trọng đại của lịch sử, giải thoát nhân sinh ra khỏi
những nô lệ huyễn hoặc mà các tà giáo đã buộc chặt số phận con người, xem
con người và vạn hữu như là những tôi đòi của những quyền năng vô hạn.
Cũng từ đây, tất cả muôn loài chúng sanh đều được nhìn dưới quan điểm mới,
đó là cái nhìn Vô Ngã, một cái nhìn vô cùng tiến bộ trong lịch sử văn minh
nhân loại, xuyên suốt hơn 25 thế kỷ qua cho đến thời đại ngày nay của chúng
ta" [62, tr.61].
Phật giáo đưa ra thuyết "sắc - không" để lý giải việc nhận thức thế giới.
"Sắc" dùng để chỉ sự vật ở trạng thái có hình tướng trong không gian mà con
người nhận biết được gọi là “có”. "Không" dùng để chỉ sự vật, hiện tượng ở
trạng thái không có hình tướng trong không gian. Theo thuyết "sắc - không",
thế giới luôn chuyển động, biến đổi. “Sắc - sắc”, “Không - không” đều là
những thuật ngữ của Phật giáo dùng để chỉ cái có mà không có, cái không có
mà lại là có. “Sắc”, “Không” là hai dạng tồn tại của thế giới vạn pháp.
Như vậy, thế giới trong quan niệm của Phật giáo là thế giới vật chất
luôn vận động, biến đổi vô thuỷ và vô chung. Sự biến đổi của thế giới, sinh
cái ta tuyệt đối và chỉ ra rằng giáo lý vô ngã phủ định cái ta tuyệt đối chứ
không phủ định cái ta tương đối. "Cái Ta tương đối" là một danh từ giả hợp
(tạm lập ra) để chỉ năm uẩn. Mỗi khi năm uẩn hợp lại thì gọi đó là ta (ngã), nó
là một danh từ quy ước để xưng hô và chỉ định sự khác biệt giữa từng cá nhân
trong cộng đồng" [58, tr.73]. Còn "Cái Ta tuyệt đối " là cái Ta hiện hữu độc
lập, tự tánh, không lệ thuộc vào năm uẩn, thường còn, bất biến, nó hiện hữu
như là chủ của năm uẩn, điều khiển năm uẩn" [58, tr.74]. Do đó vấn đề cơ bản
của người phật tử là phải đi tìm diện mạo chân thật của chính mình, đó là
- 18 -
chân tâm, đó là cái "bản lai diện mục"
3
. Chỉ khi nào con người vứt bỏ được
mọi thứ phiền não để trở về chân tâm của mình thì lúc đó con người mới hết
khổ. Vì lẽ đó, Phật giáo kịch liệt bác bỏ thuyết định mệnh. Những người tin
vào thuyết định mệnh cho rằng, tất cả đều do trời sắp đặt, kể cả việc sống và
chết. Người đã có số thì dù cố gắng đến đâu cũng không thể thay đổi được số
mệnh của mình. Ngược lại Phật giáo cho rằng, tiền đồ và vận mệnh của một
cá nhân tốt hay xấu đều do việc làm hiện nay của mình quyết định, đó là tiền
đồ nằm trong tay chính mình, do mình quyết định. Đây là một quan niệm, có
thể nói là tiến bộ về nhận thức hành vi của con người và trách nhiệm cá nhân
trước hành vi đó. Phật giáo đưa ra học thuyết nhân quả: "Nhân là nguyên
nhân, quả là kết quả. Nhân là cái mầm, quả là cái hạt, cây trái là do mầm ấy
phát sinh. Nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát
động ấy. Nhân và quả là hai trạng thái nối tiếp nhau, nương vào nhau mà có.
Nếu không có nhân thì không thể có quả và nếu không có quả thì không có
nhân" [61, tr.98]. Đây là một giáo lý đề cập đến mối quan hệ nhân quả, nhờ
đó giúp chúng ta hiểu được mối quan hệ phổ biến, cơ bản giữa các sự vật,
hiện tượng, đó là mối quan hệ nhân - duyên - quả. Nó cung cấp cho mỗi người
chúng ta một cách suy nghĩ sâu hơn về thế giới hiện tượng và thông qua đó để
"Tứ diệu đế được nhiều người nhìn nhận là nội dung chính yếu, cốt lõi,
căn bản của đạo Phật. Một nghệ thuật sống hoàn hảo, tuyệt vời, khôn ngoan
tuyệt đỉnh, thâm tuý cùng cực đã được diễn đạt bằng bốn sự thực rõ ràng,
minh bạch, hiển nhiên, chính xác, không thể phủ nhận: Khổ, Tập, Diệt, Đạo"
[44; lời tựa]. Trong thuyết Tứ diệu đế Đức Phật đã xếp Khổ đế thành chân lý
thứ nhất, đúng với bản chất cuộc đời con người là khổ đau. Theo Đức Phật,
khổ đau tồn tại ở ba dạng: đau đớn (về thể xác hay tinh thần), thay đổi và tái
sinh. Ngay giữa các cuộc vui, con người vẫn cảm thấy khổ vì sợ rằng cuộc vui
rồi sẽ tới lúc tàn. Kinh Chuyển Pháp Luân viết: “Sinh là khổ, già là khổ, bệnh
là khổ, chết là khổ, sống chung với người mình không ưa là khổ, chấp trước
- 20 -
thân ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) là khổ. Đó là chân lý cao thượng về
sự khổ” [Trích theo 13; tr.180].
Thứ hai là Nhân đế (Samudaya - Satya), còn gọi là Tập đế (tích tập,
tổng hợp). Phật giáo cho rằng, nguyên nhân của khổ đau chính là do lòng ái
dục của con người gây nên. Ái dục lại từ sự vô minh, thiếu sáng suốt, bị mê
lầm làm cho tâm của con người vọng động, sinh ra vọng tâm, vọng niệm
trong nhận thức về thế giới vạn pháp. Con người không nhận thức được tất
thảy trong thế giới này đều là giả tạm, bản thân con người như đã trình bày ở
trên cũng chịu sự tác động, biến đổi của ngũ uẩn mà trở nên vô ngã. Con
người muốn trường tồn nhưng thực tại và cuộc đời của nó bị cuốn theo sự vận
động luân chuyển trong vòng “thành - trụ - hoại - không”. Mọi cái khổ đều có
nguyên nhân. Vì thế, Phật giáo đã đưa ra thuyết “Thập nhị nhân duyên” bao
gồm: Vô minh, duyên hành, duyên thức, duyên danh - sắc, duyên lục nhập,
duyên xúc, duyên thụ, duyên ái, duyên thủ, duyên hữu, duyên sinh, duyên lão
- tử. Nói về nguồn gốc của khổ đau, kinh Chuyển Pháp Luân viết: “Bây giờ,
hỡi này các Tỳ kheo, đây là chân lý cao thượng về nguồn gốc của sự khổ.
Chính ái dục là nguyên nhân của sự tái sinh. Ái hợp với tâm tha thiết khao
khát, bám víu vào cái này cái kia [của đời sống]. Chính ái níu kéo theo nhục
học - Định học - Tuệ học.
Giới có nội dung rộng gồm (Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh) là
những điều răn cấm, những quy định giúp cho con người trên đường tu hành
tránh được những lỗi lầm, trở nên trong sạch. Giới luật có những quy chế cụ
thể cho từng đối tượng tu hành. Yêu cầu chung là giữ cho được năm giới
(không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống
rượu) và mười thiện.
- 22 -
Định (tức là thiền định) bao gồm: Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính
định. Đó là những phương pháp giúp người tu hành không tán loạn thân tâm,
nhờ đó mà loại trừ những ý nghĩ xấu, tạo điều kiện cho trí tuệ bừng sáng
Tuệ tức là trí tuệ gồm: Chính kiến, Chính tư duy. Phật giáo coi trọng
khai mở trí tuệ để thấy rõ thực tướng các pháp thì mới giải thoát sinh tử ra
khỏi "ba giới"
4
. Người có trí tuệ sáng suốt sẽ diệt trừ được vô minh, tham dục,
chứng ngộ được chân lý, làm điều thiện, mưu lợi cho chúng sinh.
Phật giáo lấy giải thoát làm lý tưởng cuối cùng cho chúng sinh. Giải
thoát là không có ô nhiễm, không có chấp trước, là được tự do, tự tại, cũng
gọi là cõi Niết Bàn. Phật giáo cho rằng, chúng sinh có nhiều phiền muộn như
ba cái độc: tham, sân, si (tam độc). Chúng là trở ngại cho sự sinh trưởng của
thiện căn, làm cho chúng sinh lưu chuyển trong nỗi khổ sinh tử không bao giờ
hết. Giải thoát theo Phật giáo có nhiều tiền đề khác nhau, nhưng tựu trung giải
thoát tự ngã trong thân năm uẩn giả hợp và cũng có nghĩa giải phóng ra khỏi
khổ bằng cách tri kiến nguyên nhân của khổ và tận diệt nó tức là thực hiện tứ
diệu đế và đoạn diệt ô nhiễm. Giải thoát tức là thoát khỏi ảo tưởng và khổ,
thoát khỏi sự tái sinh trong luân hồi và đạt Niết Bàn. Danh từ "giải thoát"
được dùng như nghĩa giác ngộ. Trong kinh tạng AHàm, một tín đồ BàLamôn
hỏi Xá Lợi Phất rằng: "Niết bàn là gì?" Xá Lợi Phất trả lời rằng: "Đã diệt trừ
đựng những nội dung đạo đức tiến bộ, và ở mức độ khác nhau đều có ảnh
hưởng đáng kể đến lối sống của các cộng đồng dân cư Việt Nam trong lịch sử
và hiện tại.
1.2.2.3. Những nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo
Đời sống con người chỉ có thể tồn tại bền vững, đạt được an vui, hạnh
phúc lâu dài khi được dựa trên nền tảng đạo đức chân chính. Trong đạo đức
học, luân lý học, triết học, văn học thì khái niệm về đạo đức không còn mới
mẻ nhưng trên thực tế, những ảnh hưởng tích cực bởi khuynh hướng đạo đức
và đời sống đạo đức thì luôn làm mới cuộc sống và con người. Một triết gia