TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
TẠ THỊ HỒNG THANH
ẢNH HƢỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐẠO ĐỨC CON NGƢỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI - 2019
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
TẠ THỊ HỒNG THANH
ẢNH HƢỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐẠO ĐỨC CON NGƢỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S Nguyễn Thị Giang
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Ngƣời thực hiện
Tạ Thị Hồng Thanh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:................................................................ 6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 7
6. Ý nghĩa của khóa luận ................................................................................... 7
7. Kết cấu của khóa luận ................................................................................... 7
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN SINH
QUAN PHẬT GIÁO ......................................................................................... 8
1.1. Khái quát về sự ra đời Phật giáo ................................................................ 8
1.1.1. Sự hình thành và phát triển Phật giáo ..................................................... 8
1.1.2. Quá trình du nhập, phát triển Phật giáo ở Việt Nam .............................. 9
1.2. Nhân sinh quan Phật giáo......................................................................... 13
1.2.1. Nhân sinh quan Phật giáo trong tƣ tƣởng triết học Phật giáo ............... 13
1.2.2. Khái niệm nhân sinh quan, nhân sinh quan Phật giáo .......................... 15
1.2.3. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo ...................................................... 17
1.3. Đạo đức và kết cấu của đạo đức............................................................... 23
1.3.1. Khái niệm đạo đức trong lịch sử triết học............................................. 23
1.3.2. Khái niệm đạo đức theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin ................. 24
1.3.3. Kết cấu của đạo đức .............................................................................. 26
CHƢƠNG 2. NHỮNG ẢNH HƢỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT
GIÁO ĐẾN ĐẠO ĐỨC CỦA NGƢỜI VIỆT NAM HIỆN NAY .................. 28
một chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn hóa xã hội của con ngƣời Việt
Nam”.
“Phật giáo có một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, xã hội ở
Việt Nam. Bên cạnh việc lựa chọn đúng đƣợc con đƣờng, cách thức truyền bá
phù hợp với tâm lý, truyền thống văn hóa thì nội dung giáo lý của nhà Phật
gần gũi với đời sống tinh thần của ngƣời Việt. Với tinh thần từ, bi, hỉ, xả của
mình trong nhân sinh quan, Phật giáo đã có sự khác biệt với những hệ tƣ
tƣởng cùng thời đƣợc du nhập truyền bá vào Việt Nam và đƣợc con ngƣời
Việt Nam đón nhận một cách rất tự nhiên nhƣ “nƣớc ngấm vào lòng đất” và
đã len lỏi vào trong đời sống của từng cá nhân, từng cộng đồng ngƣời Việt
sinh sống. Nếu nhƣ Nho giáo phải mất một thời gian khá dài khi mà xã hội
Việt Nam đã tƣơng đối phát triển mới đƣợc nhân dân trọng dụng, bên cạnh đó
Phật giáo ngay từ buổi đầu du nhập vào Việt Nam đã nhanh chóng đƣợc hòa
mình vào cùng với nền văn hóa của ngƣời bản địa bằng chính những câu
chuyện thần thoại mang đến cho con ngƣời sự thoải mái trong tâm lý và đầy
tính nhân văn cao cả (Hình ảnh ông Bụt hiện lên giúp đỡ con ngƣời khi gặp
khó khăn, hoạn nạn,…). Điều này, đã đƣợc minh chứng trong lịch sử dựng
nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc Việt Nam. Ngƣời Việt tiếp thu Phật giáo và đã
có những vận dụng những giáo lý này phù hợp với đời sống xã hội và hoàn
cảnh lịch sử của dân tộc mình. Phật giáo ở Việt Nam mang một nét rất riêng,
khác hẳn với Phật giáo ở các quốc gia khác nhƣ: Trung Quốc, Thái Lan, Lào..
Ngƣời Việt đã biết rằng Phật giáo không đơn thuần là một tôn giáo với hệ
thống thần linh và những nghi lễ thờ cúng của mình, mà nó còn là một học
thuyết triết học tƣơng đối thâm sâu. Trong những tƣ tƣởng triết học đó, ngoài
sự lí giải về quan niệm sống của con ngƣời thì Phật giáo đã dành nhiều những
1
nội dung cho những vấn đề liên quan đến con ngƣời và cuộc đời của con
2
vậy với chức năng truyền đạo của mình với nội dung triết lí nhân sinh quan
của Phật giáo đã có những đóng góp không nhỏ trong công cuộc xây dựng đất
nƣớc ta trong giai đoạn đổi mới hiện nay”. Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực
tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài “Ảnh hƣởng của nhân sinh quan Phật giáo
đến đạo đức con ngƣời Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhân sinh quan Phật giáo là một trong những đề tài đã đƣợc rất nhiều
nhà khoa học, Phật tử nghiên cứu, đặc biệt trong thời gian gần đây khi nền
kinh tế ngày càng phát triển và rất nhiều vấn đề đặt ra cần đƣợc giải quyết, cụ
thể là:
“Tác giả Peter D.Santina (1984), viết cuốn sách“Fundamentals of
Buddhism" ( Nền tảng của đạo Phật). Cuốn sách này đƣợc Thích Tâm Quang
dịch sang tiếng Việt năm 1996. Trong cuốn sách này tác gỉa đã trình bày
mƣời hai bài giảng về lịch sử ra đời của đạo Phật và những giáo lý của đạo
Phật nhƣ: Tứ diệu đế, triết lý nhân duyên, nghiệp,… Tác giả đã xuất phát từ
quan điểm của một Phật tử phƣơng Tây, có hiểu biết sâu sắc phần giáo lý nên
khi trình bày đã làm rõ nội dung trong quan niệm nhân sinh của đạo Phật. Qua
cuốn sách này đã giúp cho em có hiểu biết thêm về cách nhìn của ngƣời
phƣơng Tây đối với nhân sinh quan Phật giáo, từ đó có thể thấy đƣợc sự khác
biệt giữa nhân sinh quan Phật giáo ở Việt Nam với nhân sinh quan Phật giáo
nguyên thuỷ và nhân sinh quan Phật giáo đƣợc truyền bá và vận dụng trong
đời sống tinh thần của một số quốc gia khác”.
“Năm 1984, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam - Viện triết học xuất
bản cuốn “Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam” tập hợp 25
bài tham luận của các nhà nghiên cứu có tên tuổi của giới khoa học nƣớc ta
trình nghiên cứu về ảnh hƣởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đạo đức
con ngƣời. Thấy đƣợc những ảnh hƣởng tích cực và tiêu cực từ những ảnh
hƣởng trên”.
“Nhà tu hành Thích Chân Quang với tác phẩm “Luận về nhân quả”
(2005), Nxb Tôn giáo. Trong cuốn sách này, tác giả Thích Chân Quang
cho rằng đối với đạo Phật, chúng sinh có ba mục đích cần nhắm đến:
“Một là, sống trong luân hồi bớt đau khổ, có phƣớc bão cõi trời cõi ngƣời;
Hai là, thoát khỏi luân hồi, chấm dứt sinh tử, có đƣợc niết bàn an vui”;
Ba là giáo hóa cho chúng sinh cùng đƣợc thành tựu trí tuệ giải thoát,
gọi là hạnh đạo Bồ tát”.
4
“Đây cũng là cách nhìn của những ngƣời tu hành về nhân sinh quan
Phật giáo, khi nghiên cứu cũng giúp cho em có sự so sánh giữa những nhà
nghiên cứu về Phật giáo không phải là nhà tu hành và những nhà nghiên cứu
Phật giáo là nhà tu hành để thấy rõ sự ảnh hƣởng của Phật giáo trong đời sống
tinh thần của ngƣời Việt hiện nay”.
“Ngoài những tác phẩm trên còn có ra còn một số công trình khác (sách
tham khảo, bài đăng trên các tạp chí khoa học,…) cũng có ít nhiều đề cập đến
nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hƣởng của nhân sinh quan Phật giáo nhƣ: Lê
Hữu Tuấn “Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn
hóa tinh thần ở Việt Nam” (1988), Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Tài Thƣ (chủ biên),“Ảnh hưởng của các
hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” (1997), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đăng Duy (1999), “Phật giáo với văn
hóa Việt Nam”, Nxb Hà Nội; Nguyễn Hùng Hậu (2002), “Đại cương triết học
Phật giáo Việt Nam”, tập I, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Thị Bảy
(1997), “Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ
huy những ảnh hƣởng tích cực và hạn chế những ảnh hƣởng tiêu cực của nhân
sinh quan Phật giáo đến đạo đức của ngƣời Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
“Để đạt đƣợc mục đích trên khóa luận có nhiệm vụ:
- Khái quát một số vấn đề lý luận chung về Phật giáo và nhân sinh quan
Phật giáo.
- Nghiên cứu ảnh hƣởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đạo đức
của ngƣời Việt trên các lĩnh vực: Ý thức đạo đức; hành vi đạo đức; quan hệ
đạo đức.
- Đƣa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy ảnh hƣởng tích cực và hạn
chế những ảnh hƣởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức con
ngƣời Việt Nam hiện nay”.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hƣởng của nó đối với đạo đức trong
xã hội Việt Nam hiện nay.
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nhân sinh quan Phật giáo từ khi du nhập vào Việt Nam đến nay..
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp luận: Khóa luận sử dụng phƣơng pháp luận chung của
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác
- Lênin. Đồng thời, khoá luận còn sử dụng các phƣơng pháp: logic - lịch sử,
phƣơng pháp phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, trừu tƣợng hóa, so sánh,…
6. Ý nghĩa của khóa luận
- Khoá luận có thể làm tài liệu cho các bạn sinh viên và nhà nghiên cứu
khi nghiên cứu về Phật giáo ở Việt Nam hiện nay.
tập, cuối cùng Thích Ca tự mình sáng lập học thuyết và đã đƣợc truyền bá
khắp nơi sau đó đƣợc phát triển thành một tôn giáo lớn trên thế giới”.
“Một ngày nọ Ngài đánh xe ngựa dạo chơi trên đƣờng phố, Ngài đã
nhìn thấy những cảnh vật làm thay đổi cách suy nghĩ của Ngài. Ngài thấy
một cụ già run rẩy, một ngƣời bệnh rên siết và một tử thi sình thối. Những
cảnh tƣợng này đã khiến chô Đức Phật phải suy nghĩ rất nhiều và quyết tâm
tìm ra đƣợc cách để giúp cho toàn nhân loại thoát khỏi những khổ đau của đời
sống đem lại, để con ngƣời thoát khỏi hoạn khổ đau”.
“Lúc 29 tuổi, Sĩ-đạt-đa rời hoàng cung, rời xa gia đình và vợ con, bỏ lại
cả vƣơng quốc của mình để gia nhập sống đời sống của một đạo sĩ khất thực
trong 6 năm, để đi tìm con đƣờng diệt khổ cho cuộc đời con ngƣời. Vào đêm
trăng rằm tháng Tƣ, khi ngồi thiền dƣới cội cây Bồ đề ở Gaya, Ngài tìm đƣợc
lời giải đáp và giác ngộ. Lúc đó, Ngài đƣợc 35 tuổi. Đấng Giác Ngộ giờ đây
đƣợc gọi là Đức Phật”.
“Trong cả cuộc đời hoằng hóa, dù phải đối phó với bao nhiêu trở ngại,
Đức Phật lúc nào cũng giữ một phong thái an nhiên tự tại, và ngay cả trong
giờ phút lâm chung, Ngài vẫn bình thản cho dù thân xác đã suy kiệt. Ngay
trong giờ phút cuối cùng đó, Ngài vẫn tiếp tục giảng dạy và khuyên bảo các
8
đệ tử để họ tiếp tục tu tập theo giáo pháp của Ngài: “Nầy các tỳ kheo, Như Lai
khuyên quý vị rằng mọi pháp hữu vi đều vô thường, quý vị hãy tinh tấn với
chánh niệm”. Đó là những lời cuối cùng của đức Phật, và Ngài nhập diệt vào
năm 80 tuổi, trong năm 543 trƣớc Công Nguyên”.
“Sự ra đời của Phật giáo cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm là
một cuộc cách mạng trong xã hội Ấn Độ cổ đại bởi vì đạo Phật đã xóa bỏ đi
những thể chế giai cấp truyền thống, những tín ngƣỡng lỗi thời và những quan
điểm triết học thịnh hành để hình thành nên một tín ngƣỡng có thể đƣợc gọi
Đến thế kỷ X, khi nƣớc ta đã giành đƣợc quyền tự chủ, trong thời kỳ
này Phật giáo bắt đầu phát triển hƣng thịnh và có những đóng góp tích cực
cho sự phát triển đất nƣớc. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng định ra phẩm trật
tăng già và ban chức cho tăng sĩ. Vua Đại Hành sau khi hòa với nhà Tống đã
sai sứ sang triều cống Trung Hoa và xin thỉnh kinh Phật đem về truyền bá.
Nhiều thiền sƣ nhƣ Thiền sƣ Pháp Thuận, Thiền sƣ Vạn Hạnh đã đƣợc vua Lê
Đại Hành mời tham gia vào chính sự, góp phần to lớn vào sự hƣng thịnh của
đất nƣớc.
Triều Lý, triều đại đƣợc xem là triều đại Phật giáo đầu tiên trong các
triều đại phong kiến Việt Nam. Lý Thái Tổ vị vua đầu tiên sáng lập nên nhà
Lý là ngƣời xuất thân từ cửa Phật, đƣợc nuôi dƣỡng và trƣởng thành ở chốn
thiền môn. Mọi công việc lớn nhỏ của nhà nƣớc trong giai đoạn này đều có sự
đóng gớp ý tƣởng của các vị thiền sƣ. Triều đình lúc này đã cử sứ thần sang
Trung Quốc thỉnh kinh và khuyến khích việc xuất gia tu hành . Phật giáo
đƣợc trọng dụng nên phát triển rất nhanh, chùa Phật đƣợc xây dựng ở hầu
khắp các làng xã và trở thành trung tâm tôn giáo lớn nhất ở nông thôn miền
Bắc lúc bấy giờ. Có thể nói, hơn 200 năm dƣới triều đại nhà Lý Phật giáo đã
chiếm vị trí độc tôn và có những ảnh hƣởng mạnh mẽ đến mọi phƣơng diện
của đời sống xã hội Đại Việt.
Sang đến thời nhà Trần, bộ máy hành chính nhà nƣớc đã dần đƣợc xây
dựng và hoàn chỉnh hơn. Nho giáo lúc này dần chiếm vị trí quan trọng trong
đời sống tinh thần và tổ chức xã hội. Nhƣng Phật giáo thời Trần đến giữa thế
kỷ XIV vẫn giữ đƣợc sự hƣng thịnh của nó. Các vua đời nhà Trần ý thức
đƣợc rõ vai trò của Nho giáo và Phật giáo đối với xã hội. Trải qua quá trình
du nhập và phát triển đến thời Trần, Phật giáo ở Việt Nam đã có sự góp mặt
của ba thiền phái từ Ấn Độ và Trung Quốc là Tỳ Ni Đa Lƣu chi, Vô Ngôn
Thông và Thảo Đƣờng. Các tăng sĩ đời Trần đã không còn trực tiếp đóng góp
vào sự nghiệp chính trị nhƣ trƣớc nữa, nhƣng Phật giáo vẫn là một yếu tố
quan trọng để liên kết nhân tâm và cố kết cộng đồng. Ở thời kỳ này rất nhiều
chùa pháp quy mô to lớn hoặc kiến trúc độc đáo đã đƣợc xây dựng, Phật giáo
phái.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nƣớc hòa bình, hai miền Bắc
Nam thu về một mối đã tạo điều kiện cho các hệ phái Phật giáo thống nhất.
Tháng 11/1981, Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo đã đƣợc tổ chức tại Hà
Nội. Đại hội đã lập ra Giáo hội Phật giáo Việt Nam thông qua hiến chƣơng,
chƣơng trình hành động và bầu ra cơ quan lãnh đạo. Đến nay, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam đã trải qua sáu kỳ Đại hội và không ngừng trƣởng thành và
phát triển.
11
Đánh giá khái quát quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt
Nam chúng ta có thể rút ra đƣợc một số nhận xét sau:
Thứ nhất, Phật giáo vào Việt Nam bằng con đƣờng dân dã và mang tính
tự phát thông qua các thƣơng nhân Ấn Độ và các nhà truyền giáo Trung
Quốc. Khác với đạo Công giáo, Phật giáo vào Việt Nam hoàn toàn mang tính
tự phát. Công lao đầu tiên của việc Phật giáo du nhập vào Việt Nam phải kể
đến vai trò của các thƣơng nhân Ấn Độ. Từ những năm đầu công nguyên
ngƣời Ấn Độ đã đi buôn bán với nhiều nƣớc trong vùng Địa Trung Hải,
Trung Đông, Đế quốc La Mã. Họ đi nhiều nơi để tìm nguồn nguyên liệu và
hàng hóa, chính trong quá trình đó họ đã tới Đông Nam Á trong đó có Việt
Nam. Họ đến Việt Nam mang theo: y thuật, phong tục tập quán và sinh hoạt
tôn giáo của ngƣời Ấn Độ. Những đặc điểm văn hóa này đã có những ảnh
hƣởng đến đời sống của ngƣời dân bản địa Việt Nam. Họ đã đem Phật giáo
đến Việt Nam một cách tự phát và không có chủ đích.
Thứ hai, Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu bằng con đƣờng hòa bình và
ít gây ra xung đột với văn hóa bản địa. Phật giáo xâm nhập vào cuộc sống tinh
thần ngƣời Việt Nam một cách rất tự nhiên. Ngay từ buổi đầu mới du nhập,
Phật giáo đã nhanh chóng đƣợc ngƣời Việt Nam đón nhận mà hầu nhƣ không
đồng hành cùng dân tộc và góp phần quan trọng vào việc xây dựng và bảo vệ
nền độc lập dân tộc, góp phần to lớn vào việc hình thành bản sắc văn hóa của
Việt Nam. Đây cũng là điểm riêng biệt ở Phật giáo Việt Nam, khi những giáo
lý của Phật giáo đƣợc hiện thực hoá trong đời sống, đƣợc nhân dân vận dụng
vào công cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc. Điển hình nhất của quan điểm này
phải kể đến Phật giáo thời Lý, Trần trong lịch sử Việt Nam.
1.2. Nhân sinh quan Phật giáo
1.2.1. Nhân sinh quan Phật giáo trong tư tưởng triết học Phật giáo
Ph.Ăngghen đã nói: “Nhưng tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự
phản ảnh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở
bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó
những lực lương ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần
thế”[17, tr 176]. Đây có nghĩa là, tôn giáo do con ngƣời sáng tạo ra và tôn
giáo không sáng tạo ra con ngƣời song bên cạnh đó nó lại có những ảnh
hƣởng rất lớn đến rất nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống con ngƣời.
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, đã đƣợc truyền
bá và ảnh hƣởng tới rất nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới nhƣ: Xiry, Ai
Cập, Thái Lan, Việt nam, Trung Quốc, Mianma và một phần các quốc gia
Anh, Đức, Pháp,…và nó đã nhanh chóng trở thành tôn giáo có tính ảnh hƣởng
lớn trên thế giới.
13
“Đức Phật đã đƣợc chứng kiến những nỗi khổ cực của cuộc sống con
ngƣời trong xã hội. Qua thời gian học đạo, Đức Phật đã nhìn thấy những con
đƣờng sai lầm của cuộc sống vật chất con ngƣời. Đức Phật cho rằng, cuộc
sống dù giàu sang đến đâu cũng chỉ là tầm thƣờng, còn cuộc đời tu hành khổ
hạnh thì tăm tối, mà chỉ có con đƣờng trung đạo thì mới là con đƣờng đúng
đắn cho con ngƣời. Từ đó, với những suy tƣ sâu thẳm, Đức Phật đã giác ngộ
“Mục đích cuối cùng của Phật giáo là giải thoát con ngƣời khỏi nỗi khổ
trần thế thông qua con đƣờng tu tập về mặt tâm linh. Do đó, Phật giáo hầu
nhƣ không đề cập và không có chủ trƣơng giải quyết nhữngvấn đề có tính
chất siêu hình. Khi các đệ tử hỏi Đức Phật về vấn đề siêu hình trừu tƣợng nhƣ
vũ trụ có vĩnh hằng không? Nó vô hạn hay hữu hạn, linh hồn và thể xác là
một hay khác nhau, Nhƣ Lai sau khi chết có tồn tại hay không?... thì ngƣời im
lặng vì mục đích chủ yếu là cứu khổ cho con ngƣời”.
“Nhƣ vậy, qua việc nghiên cứu những nội dung trên cho thấy, đối
tƣợng nghiên cứu chủ yếu của Phật giáo là con ngƣời, là giá trị nhân sinh.
Qua việc phải chứng kiến nỗi khổ của con ngƣời ở đời sống trần thế mà Thích
Ca Mâu Ni đã xây dựng học thuyết mang đậm giá trị nhân sinh để giải thoát,
cứu khổ cho con ngƣời khỏi khổ nạn. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Ấn Độ,
với sự thống trị của tƣ tƣởng duy tâm tôn giáo Bà la môn và chế độ phân biệt
đẳng cấp khắt khe, Phật giáo ra đời là tiếng nói trong làn sóng phủ nhận uy
thế của kinh Vêđa và đạo Bà la môn, tố cáo chế độ xã hội bất công, đòi tự do
tƣ tƣởng và sự bình đẳng xã hội, xóa bỏ nỗi khổ trong đời sống của ngƣời dân
Ấn Độ. Đây là sự thể hiện tinh thần phản kháng của quần chúng nhân dân đối
với chế độ xã hội đƣơng thời. Đức Phật tuyên bố: Không có đẳng cấp trong
dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nƣớc mắt cùng mặn, con
ngƣời sinh ra không phải đã mang sẵn trong bào thai dây chuyền ở cổ hay dấu
tin ca (dấu hiệu quý phái của dòng Bà la môn) trên trán. Qua đó thể hiện mặt
tích cực của nhân sinh quan Phật giáo trong lĩnh vực sinh hoạt xã hội. Nguyện
vọng cứu khổ của Đức Phật mang tính nhân văn sâu sắc, còn có cứu đƣợc khổ
hay không lại là chuyện khác. Do vậy, Phật giáo rất gần gũi với con ngƣời”.
1.2.2. Khái niệm nhân sinh quan, nhân sinh quan Phật giáo
Từ lâu trong triêt học, khái niệm “nhân sinh quan” thƣờng đƣợc các
học giả bàn đến và đƣợc sử dụng trong sự tƣơng quan so sánh trong mối quan
hệ với thế giới quan. Vì vậy, khi nhắc đến nhân sinh quan, trƣớc hết chúng ta
xem xét đến khái niệm “thế giới quan”.
những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của con ngƣời. Đây là vấn đề rất
quan trọng đối với cuộc sống của con ngƣời. Trong chính cuộc sống của
mình con ngƣời luôn suy nghĩ về cuộc sống của mình và không ngừng hoạt
động để phục vụ cho cuộc sống đó, nhân sinh quan nói lên quan niệm đƣợc
chính quan niệm của con ngƣời về bản chất,về mục đích của cuộc sống và
chính những thái độ sống của con ngƣời đối với con ngƣời trong xã hội và
con ngƣời đối với tự nhiên - xã hội. Có nhân sinh quan đúng đắn thì con
ngƣời mới có đƣợc những bƣớc đi đúng đắn và vững chắc hơn trong cuộc
sống”.
Nhƣ vậy, qua những tìm hiểu nhƣ trên, tôi thấy rằng: “Nhân sinh quan
Phật giáo là quan niệm của Phật giáo về con người, cuộc sống con người,
16
bản chất con người, thái độ và hành vi tu tập của con người nhằm mục đích
giải thoát”.
1.2.3. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo
Những triết lý nhân sinh của đạo Phật đƣợc bắt nguồn chính từ thế giới
quan, do thế giới quan của Phật giáo chi phối.
Vì khuôn khổ của khóa luận có hạn, nên em chỉ nghiên cứu ảnh hưởng
của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay
trong thuyết “Tứ diệu đế” của nhân sinh quan Phật giáo. Đây là một hệ thống
gồm các quan niệm về con ngƣời và cuộc đời của con ngƣời.
1.2.3.1. Học thuyết về cấu tạo con người
“Phật giáo tập trung vào nghiên cứu về sự xuất hiện và tái sinh của con
ngƣời và những học thuyết về cấu tạo con ngƣời. Đạo Phật cho rằng bản thân
con ngƣời đƣợc cấu tạo từ những yếu tố thể hiện trong thuyết Danh sắc và
thuyết Lục đại”.
“Thuyết Danh sắc: Học thuyết này cho rằng con ngƣời đƣợc cấu tạo từ
“Nếu quan niệm chết là hết là chƣa hiểu đúng Phật giáo, mà theo Phật
giáo, chết là điều kiện để có cái sinh mới sắp tới. Phật giáo giải thích sự chết
của con ngƣời bằng thuyết luân hồi nghiệp báo... Cuộc đời con ngƣời là một
mắt xích trong chuỗi dài vô tận, chỉ là một gợn sóng trên mặt biển bao la.
Cuộc sống của con ngƣời trên trần thế không thay đổi đƣợc, nó do nghiệp cũ
quy định theo luật nhân quả; mọi việc làm của con ngƣời đều là nhân của sự
kết hợp Ngũ uẩn tiếp theo. Học thuyết nhân quả của Phật giáo cho rằng, con
ngƣời gieo nhân nào hƣởng quả ấy, ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão. Đời này
ra sức học tập thì đời sau thông minh sáng suốt; đời này lƣời biếng thì đời sau
ngu đần dốt nát; đời này sát sinh thì đời sau chết yểu; đời này phóng sinh thì
đời sau sống lâu; đời này làm khổ chúng sinh thì đời sau đau khổ; đời này có
tâm vỗ về an ủi ngƣời khác thì đời sau hạnh phúc; đời này giận dữ cáu kỉnh
thì đời sau tƣớng mạo xấu xí...”
1.2.3.2. Học thuyết về cuộc đời con người
Toàn bộ quan niệm về cuộc đời con ngƣời để đi tới giải thoát đã đƣợc
Đức Phật trình bày trong thuyết “Tứ diệu đế” của nhân sinh quan Phật giáo.
Gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Theo lời Đức Phật bàn về cuộc
đời con ngƣời đã xuất phát từ: Khổ đế, “Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay.
Ta chỉ nói lên khổ và sự diệt khổ”. Phật giáo quan niệm cuộc đời của con
ngƣời là khổ đau, khổ đau là điều tất yếu và là chân lý. Đức Phật đã hết sức
rung động trƣớc những khổ đau của loài ngƣời và cho rằng: “Đời là bể khổ,
đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phƣơng đều là bể khổ, nƣớc mắt
chúng sinh nhiều hơn nƣớc biển, vị mặn của máu và nƣớc mắt chúng sinh
mặn hơn nƣớc biển”.
18
*Khổ đế: là “nói lên bản chất của nhân sinh. Quan niệm nhân sinh
trong triết học Phật giáo mang tính tiêu cực yếu thế, coi đời chỉ là ảo hóa tạm
cuộc đời của mỗi con ngƣời”.
19