Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Quang Trường Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo với đạo đức con
người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Luận văn ThS Triết học: 60.22.80
Nghd. : GS.TS. Nguyễn Tài Thư
Nhân sinh quan Phật giáo
12
1.1.3.
"Tam học" (Giới - Định - Tuệ) là cách thức thực hiện con
đường giải thoát.
19
1.2.
Nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo và những giá trị
của nó
21
1.2.1.
Lòng yêu thương con người, tin ở bản chất hướng thiện và
khả năng chuyển ác thành thiện của con người
21
1.2.2.
Những phương diện của giáo lý Phật giáo thể hiện
đạo đức Phật giáo
28
Chương 2.

Đạo đức con người việt nam hiện nay và ảnh hưởng của
đạo đức Phật giáo với việc hình thành đạo đức con người
Việt nam hiện nay
46
2.1.
Điều kiện Việt Nam hiện nay và những yêu cầu đối với
đạo đức
46
2.1.1.
Đạo đức con người Việt Nam hiện nay do mục tiêu xây

lý giải căn nguyên của mọi nỗi khổ đau trong xã hội lúc bấy giờ và tìm con
đường giải thoát con người khỏi những nỗi khổ đau ấy. Nó không đánh giá
con người bằng yếu tố dòng họ, đẳng cấp… mà bằng những giá trị đạo đức,
văn hoá, bằng cái “ Tâm” của con người. Đạo Phật cho rằng mọi sự khổ đau
trên đời này đều bắt nguồn từ chính bản thân con người, từ chính cái “Tâm”
của mỗi con người. Mọi thứ đều từ “Tâm” mà ra, nó vừa là kẻ thù nguy hiểm
nhất và cũng chính là người bạn thân thiết nhất của con người. Do đó mà
người Phật tử luôn tìm mọi cách tận diệt những khát vọng, tham ái, sân hận và
si mê trong tâm của họ bằng "Giới", bằng tinh thần từ bi hỷ xả…. Với nội
dung cơ bản là nhằm mục đích giải thoát con người khỏi mọi nỗi khổ đau nên
ngay sau khi ra đời Đạo Phật đã chiếm được cảm tình của đông đảo quần
chúng nhân dân lao động và được truyền bá rộng rãi tại Ấn Độ và các nước
trên thế giới.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, Phật giáo đã có sự ảnh
hưởng khá sâu rộng đến đời sống tinh thần của nhiều nước phương Đông,
trong đó có Việt Nam
Phật giáo được truyền vào nước ta ngay từ những năm đầu công nguyên.
Ngay sau khi được truyền vào nước ta, Phật giáo đã nhanh chóng tìm được
cho mình một chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn hoá tinh thần của người
dân Việt Nam. Trải qua bao cuộc thăng trầm, Phật giáo vẫn luôn sát cánh
cùng dân tộc cùng vượt qua những biến động của lịch sử. Nó đã ngấm sâu vào

2
trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc như “ sữa hoà với nước ”, “ ánh
sáng hoà với hư không”… và trở thành một yếu tố cấu thành lên đời sống văn
hoá tinh thần của dân tộc ta. Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển
đất nước hiện nay, Phật giáo vẫn đang tiếp tục sát cánh cùng dân tộc ta trên con
đường phát triển, đang tiếp tục khẳng định vị trí của mình trong công cuộc đổi
mới đất nước, đặc biệt trong việc hoàn thiện đời sống văn hoá tinh thần, đạo đức
của người dân Việt Nam

đức Phật giáo với đạo đức con ngƣời Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2- Tình hình nghiên cứu đề tài.
Vấn đề ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần, đạo đức
của người Việt Nam đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử. Có thể nói
việc nghiên cứu đó được tiến hành từ khi Phật giáo mới vào Việt Nam không
lâu và công việc nghiên cứu đó vẫn kéo dài qua các thời đại lịch sử cho đến
tận ngày nay vẫn không hề bị gián đoạn. Đặc biệt trong những năm gần đây
công cuộc nghiên cứu đó càng được đẩy mạnh, các nhà nghiên cứu đã cho ra
đời nhiều tác phẩm viết về đạo Phật, và vai trò của đạo Phật trong xã hội Việt
Nam như: Lịch sử Phật giáo Việt Nam (GS.TS. Nguyễn Tài Thư làm chủ
biên ); Ảnh hƣởng của các hệ tƣ tƣởng tôn giáo đối với con ngƣời Việt
Nam hiện nay (GS.TS. Nguyễn Tài Thư làm chủ biên); Lịch sử triết học
phƣơng đông (tập 3 - Nguyễn Đăng Thục); Văn hoá gia đình Việt Nam -
(Vũ Ngọc Khánh) ; Phật giáo với văn hoá Việt Nam (Nguyễn Đăng Duy) ;
Lời giáo huấn của Phật Đà ( Ngô Đức Thọ dịch); Đạo Phật vì cuộc sống
của con ngƣời (Lê Trọng Cường dịch), “Giá trị tinh thần truyền thống của
dân tộc Việt Nam” (GS. Trần Văn Giàu), “Văn hoá Phật giáo và lối sống của
ngƣời Việt ở châu thổ Bắc bộ” (Nguyễn Thị Bảy), “Đạo đức Phật giáo với
đạo đức con ngƣời Việt Nam” (TS. Đặng Thị Lan)…, và nhiều tài liệu nghiên
cứu về vấn đề này… điều đó đã chứng tỏ sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên
cứu đến vấn đề ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần
người dân Việt Nam. Tuy nhiên, đạo Phật là một tôn giáo lớn trên thế giới, đã
tồn tại và phát triển ở nước ta trong hơn hai nghìn năm qua và đã có ảnh hưởng
sâu rộng đến mọi mặt của đời sống văn hoá tinh thần của quần chúng nhân dân

4
đặc biệt trên phương diện đạo đức, lối sống. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay vẫn
cần tiếp tục nghiên cứu sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hoá
tinh thần của người dân.

luận văn chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của giáo lý, tư tưởng
đạo đức Phật giáo (chủ yếu là Phật giáo Đại thừa) đến đời sống văn hoá, đạo
đức của người Việt Nam hiện nay, làm rõ mặt tích cực và tiêu cực của tư
tưởng đạo Phật giáo đối với đạo đức con người Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
* Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở lý luận là những quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và các quan
điểm, đường lối chính sách của Đảng, nhà nước ta về vấn đề tôn giáo nói
chung và Phật giáo nói riêng…
* Phương pháp nghiên cứu: Biện chứng duy vật, kết hợp lôgic với lịch
sử, đối chiếu so sánh, ngoài ra luận văn cũng sử dụng các phương pháp khái
quát hoá, trừu tượng hoá trong quá trình nghiên cứu và trình bầy.
6. Đóng góp của luận văn:
*Về phương diện lý luận:
- Luận văn góp phần hệ thống hoá các quan niệm trong lịch sử về vấn đề
đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt Nam.
- Phân tích làm sáng tỏ thêm vai trò của đạo đức Phật giáo đối với đạo
đức con người Việt Nam.
*Về phương diện thực tiễn :
- Góp phần tạo cơ sở cho việc phát huy ảnh hưởng đạo đức Phật giáo đến
đạo đức con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu
những vấn đề có liên quan đến đạo đức Phật giáo.
7. Kết cấu của luận văn:

6
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo -
luận văn gồm 2 chương với 5 tiết.
Chương 1: Đạo đức Phật giáo – Cơ sở lý luận, nội dung và giá trị của nó.

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO – CƠ SỞ LÝ LUẬN, NỘI DUNG VÀ GIÁ
TRỊ CỦA NÓ.
1.1. Thế giới quan và nhân sinh quan của Phật giáo – cơ sở lý luận của
đạo đức Phật giáo.
1.1.1. Thế giới quan Phật giáo.
Đạo Phật là một tôn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ cổ đại. Người sáng lập
là Tất Đạt Đa (Siddhartha) họ Gôtama (Gautama). Ông sinh ra tại miền Bắc Ấn
Độ vào khoảng thế kỷ VI TrCN ở kinh thành Kapilavastu (phía nam chân núi
Hymalaya - nay thuộc miền Nam nước Nêpan) là thái tử, con quốc vương
Suddhadana (Tịnh Phạn) cai trị người Sakyas. Người đời xưng ông là Thích ca
Mâu Ni (Sakyamauni) tức là ông thánh của người Sakya. Ông mất năm 483
trước Công nguyên thọ 80 tuổi tại Kusinara (miền Uttar Paradesh ngày nay).
Cùng thời với sự ra đời của đạo Phật ở Ấn Độ còn có nhiều trào lưu văn hoá, tư
tưởng, tôn giáo khác nhau. Trong khi hầu hết các tôn giáo ở Ấn Độ cho rằng
vũ trụ có tạo vật chủ thì ngược lại Phật giáo chủ trương đưa ra một thế giới
quan vô thần. Phật giáo đưa ra quan điểm cho rằng vũ trụ là tự nó, không do ai
sinh ra và cũng không ai có thể tiêu diệt được, không thể có một thế lực nào có
thể dùng ý chí của mình để chi phối sự vận hành của vũ trụ. Vũ trụ là vô thuỷ,
vô chung. “Pháp” là một phạm trù cơ bản trong quan niệm về vũ trụ của đạo
Phật.
Pháp (Dharma) trong giáo lý Phật giáo có một vị trí đặc biệt quan trọng
“Người nào thấy pháp là thấy Phật”, vậy pháp là gì? Có rất nhiều các tài liệu
khác nhau lý giải về pháp trong giáo lý Phật giáo nhưng cho đến hiện nay vẫn
chưa có một sự lý giải chung nhất về pháp. Nhưng nhìn chung khi lý giải về
pháp các quan niệm đều có chung vào một số nội hàm cơ bản: Pháp là từ chỉ
chung tất cả mọi sự vật hiện tượng trong thế giới, pháp là lối sống, đạo đức cao
đẹp nhất mà mọi người hướng tới, pháp là biện pháp để con người có thể thoát
khỏi mọi khổ đau…“từ chỉ chung hết thảy các sự vật hiện tượng, dù là to nhỏ
hữu hình, vô hình, chân thực, hư vô. Sự vật cũng là vật, đạo lý cũng là vật, tất


hữu hình thì đều có nguyên nhân sinh ra, tồn tại và mất đi. Nói một cách khác
toàn bộ thế giới này đều bị chi phối bởi luật Nhân - Quả.

9
Nhân là nguyên nhân, cái mà nhờ nó sự vật hiện tượng khác được sinh ra
trực tiếp từ nó. Quả là kết quả là cái được sinh ra từ nguyên nhân. Nhân là cái
mầm, Quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy sinh ra. Nhân là năng lực phát động,
Quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và Quả là hai trạng thái
nối tiếp nhau, tương quan mật thiết với nhau, nương tựa vào nhau mà tồn tại.
Quả có được là nhờ có Nhân và ngược lại đến lượt nó Quả cũng đồng thời là
cái để Nhân tồn tại. Trong mối tương quan Nhân - Quả này, mỗi hiện hữu vừa
là nguyên nhân vừa là kết quả như sự tuần hoàn của mây, mưa, nước, hơi
nước Nguyên nhân chính trực tiếp của một hiện hữu gọi là Nhân, nguyên
nhân phụ gián tiếp có ảnh hưởng đến Quả gọi là Duyên (hay các điều kiện phụ
thuộc).
Duyên được coi như là những yếu tố có tính cách trợ giúp, kết nối trực
tiếp hay gián tiếp để giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả và kết quả lại trở
thành nguyên nhân của kết quả mới. Nhờ có Duyên mới có vạn vật - vạn pháp,
khi Nhân kết hợp với Duyên thì sẽ làm sản sinh ra Quả, khi Nhân - Duyên tách
rời nhau thì nhân không biến thành quả. Đó là nguồn gốc của mọi sự vận động,
nguồn gốc ra đời và biến đổi của tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới.
Nhân - Duyên là một chuỗi những điều kiện tương quan, liên hệ Nhân -
Duyên - Quả, Quả - Nhân biến hoá khôn cùng. Nhân - Quả chỉ là sự “tự hoá
tự sinh” là cái Pháp ngấm ngầm chi phối những điều kiện, những mối quan hệ
với các trạng thái biến đổi từ ngoại giới. Nhân, Duyên có nhiều loại nhưng theo
thuyết Nhân - Quả của Phật giáo không có cái được gọi là Nhân đầu tiên và
cũng không có cái Quả cuối cùng. Quy luật Nhân - Quả tác động nên mọi sự
vật hiện tượng trong vũ trụ và con người cũng không nằm ngoài sự tác động ấy.
Quy luật Nhân - Quả diễn ra theo hai quá trình cơ bản:
Nhân - Quả nối tiếp nhau vô gián đoạn: là nguyên nhân sinh ra kết quả,

mầm mống của sự sống. “Diệt” là sự kết thúc của một quá trình nhưng cũng
đồng thời là sự bắt đầu của một quá trình mới. Vạn vật vạn pháp trong vũ trụ
vận động và biến đổi nhưng đó không phải là sự biến đổi tuỳ tiện mà đó là
một sự vận động biến đổi tuân theo quy luật nhất định : Sinh - Trụ - Dị - Diệt.

11
Đây là một quy luật khách quan. Trong sự biến đổi của vạn vật, vạn Pháp theo
thuyết Vô thường thì không hề có sự biến mất, sự kết thúc của quá trình này
là sự bắt đầu của quá trình khác, sự kết thúc của trạng thái này là sự bắt đầu
của trạng thái khác mà thôi.
Thuyết Vô thường chính là cơ sở cho các phương thức sống, triết lý sống
của những người tu dưỡng theo giáo lý nhà Phật. Sở dĩ con người ta luôn đau
buồn vì nhận thức sai lầm về sự tồn tại của các sự vật hiện tượng. Con người
luôn cho rằng sự vật hiện tượng là thường còn, thường trụ từ đó nẩy sinh tư
tưởng muốn kéo dài sự sống để hưởng thụ, thoả mãn dục vọng, tha thiết yêu
quý cuộc sống để được thoả mãn những nhu cầu giả tạm đó và cho đó là vui
sướng hạnh phúc. Khi mọi vật tiêu tan, khi các yếu tố vật chất giả tạm đó
không còn thì khiến lòng trở lên bi thảm, đau khổ vì nuối tiếc. Bên cạnh đó
một số lại có những hiểu biết sai lạc và nông cạn về Vô thường, cho rằng
“chết là hết” vì vậy cuộc đời không còn ý nghĩa gì nữa từ đó tạo nên suy nghĩ
và hành động tận hưởng cuộc sống một cách gấp gáp dẫn đến một lối sống
xa hoa truỵ lạc, sống chìm trong “biển ngũ dục” tạo mãi kiếp luân hồi
nghiệp báo, đời đời bị trầm luân trong bể khổ.
Phạm trù Vô thường của đạo Phật giúp cho người Phật tử nhận thức
được bản chất của vạn vật và sự thay đổi, biến đổi của vạn vật trong vũ trụ.
Nắm vững được phạm trù này khiến cho con người ta có thể sống một cách tự
do tự tại, an lạc, không đau khổ phiền não trước những thay đổi bất ngờ của
cuộc đời. Cùng với thuyết Nhân - Quả, thuyết Vô thường cũng chứa đựng
nhiều yếu tố biện chứng sâu sắc.
Thuyết Vô Ngã (Anatta)

Phật giáo cho rằng cả “thân” “tâm” đều không có cái gì được gọi là Ta
(Ngã). Toàn bộ cái Ta (Ngã) mà người đời thường quan niệm thật ra chỉ là sự
kết hợp giả tạm của ngũ uẩn mà thôi “vạn pháp là vô ngã”. Tuy nhiên ta cũng
cần phải hiểu rằng không phải Phật giáo phủ nhận hoàn toàn cái Ngã, mà Phật
giáo chỉ phủ nhận cái Ngã (Atman) tồn tại “bất di bất dịch”, đồng nhất với
linh hồn vũ trụ Brahman mà thôi. Phật nhìn cái Ngã trong sự sinh thành và
biến động. Cái Ngã hiện tại vừa cũ vừa mới, biểu hiện ra trong trùng trùng kế
tiếp những trạng thái sinh lý, tâm lý, mỗi một thực thể hiện ra, biến đi, sinh

13
trụ dị diệt trong chớp mắt (sát na) để đi sang thực thể khác. Cái Ngã phút
trước không phải cái Ngã phút này, càng không phải cái Ngã phút sau. Vậy
cái Ngã nào mới là chân thực, có cái Ngã thực sự không? Theo Phật giáo tất
cả mọi cái hiện hữu đều là giả tạm, ngay cả bản thân con người cũng chỉ là
giả tạm mà thôi. Nhưng do con người không nhân thức được điều đấy, cứ lầm
tưởng rằng “ta” là tồn tại mãi mãi, cái gì cũng là của ta, do ta…. Vì thế con
người ta cứ luôn khát ái, tham dục… dẫn đến những hành vi chiếm đoạt để
thoả mãn những dục vọng của mình. Điều đó đã làm cho con người tự gây lên
những “nghiệp báo” tự mình rơi vào bể khổ triền miên trong tam giới.
Vì vậy, quan niệm về cái Ngã trường cửu đều là sai lầm, là nguyên nhân
chính yếu làm phát sinh những tình cảm, ham muốn, dục vọng….làm phát sinh ra
các cuộc tranh giành giữa người và người, vì ham muốn của mình sẵn sàng hi sinh
dẫm đạp lên hạnh phúc của người khác “thật mê lầm lắm thay”! Đó chính là những
tư tưởng cơ bản nhất trong thuyết Vô Ngã của đạo Phật.
Các nguyên lý nhân quả, vô thường, vô ngã là những phát hiện của Phật
giáo về bản chất thế giới, xong mỗi một nguyên lý đó đều đưa lại một giá trị
đạo đức cho con người. Về nhân quả, với tư tưởng về “nhân quả báo ứng”,
làm thiện thì được thì được phúc, làm ác thì phải hoạ, nó đã khiến con người
cần phải làm thiện tránh ác. Về quan niệm “vô thường”, quan điểm này tạo
cho con người tâm lý thương mình và từ đó thương cả đồng loại, cơ sở để nảy

Niết bàn (Nirvana) là gì? Có rất nhiều cách hiểu khác nhau và cách giải
thích khác nhau về vấn đề này như:
“Đó là sự chấm dứt rốt ráo của chính dục vọng, vứt bỏ nó, thoát khỏi nó,
rứt khỏi nó” [33, tr 21].
“ Sự im bặt của mọi sự vật bị giới hạn, sự dứt bỏ mọi xấu xa, sự diệt
“dục vọng” sự giải thoát chấm dứt, Niết bàn” [ 31, tr 136].
“Sự chấm dứt sinh tử là Niết bàn” [32, tr 117].
Có thể nói Niết bàn là trạng thái mà ở đó con người đã thoát khỏi vòng
luân hồi vô thường, thoát khỏi “tanha” (dục vọng). Niết bàn chính là cái đích
đến của những người tu theo giáo lý nhà Phật. Theo quan điểm giáo lý nhà
Phật thì Niết bàn có thể đạt tới được ngay tại trần thế, đạt đến ngay tại cuộc

15
đời này chứ không cần phải đợi đến kiếp sau như một vài Tôn giáo khác
thường quan niệm. “ Kẻ nào hiểu biết được chân lý, Nirvana, kẻ đó là người
sung sướng nhất thế giới. Kẻ đó giải thoát khỏi tất cả “mặc cảm”, mọi ám
ảnh, mọi lo phiền, mọi khó khăn và mọi vấn đề đang hành hạ kẻ khác. Sức
khoẻ tinh thần của người đó thật hoàn hảo. Người đó không tiếc quá khứ,
không lo lắng tới tương lai, chỉ sống trong khoảng khắc hiện tại. Do đó,
người đó quý các sự vật và thích thú với chúng theo nghĩa tinh khiết nhất,
không cầu tới sự dự phóng của ngã. Người đó vui vẻ, hớn hở, thích thú với
cuộc đời tinh khiết, với những năng lực đầy đủ của mình, thoát khỏi lo âu trở
lên thanh thản yên bình. Người đó giải thoát khỏi mọi ham muốn vị kỷ, khỏi
căm ghét, khỏi khoe khoang hợm hĩnh, khỏi mọi chướng ngại trở lên thuần
khiết hiền lành, đầy lòng thương yêu mọi thứ, đầy thông cảm, tốt bụng, thiện
cảm, hiểu biết và khoan hoà. Người đó phục vụ cho người khác một cách tinh
khiến nhất, không nghĩ đến bản thân mình, không tìm kiếm một mối lợi nào,
chẳng tích luỹ gì hết, kể cả những của cải tinh thần, vì đã giải thoát khỏi ảo
ảnh về Ngã và về “Khát vọng” sinh thành” [45, tr 94].
Theo quan điểm của đạo Phật cái khổ của con người không phải là do áp

Sự khổ đau của con người là do chính bản thân con người gây ra, chính dục
vọng ham muốn, lòng tham thể hiện bằng những cách khác nhau đã làm phát
triển mọi hình thái khổ đau và cả tính liên tục của thực thể, Đức Phật khi dạy
học trò của mình là Ratthapala đã nói: thế gian thiếu - thốn, khát khao và bị
nô lệ cho dục vọng.
Dục vọng trong quá trình vận động và phát triển cái sinh ra cái tiếp theo
quá trình đó dẫn tới sự hình thành vận động của mười hai nguyên nhân sinh ra
khổ “thập nhị nhân duyên”. Thập nhị nhân duyên là:
* Vô minh: Là sự mê muội, bất giác và cuồng si của tâm thức.
* Hành: Cơ cấu của các hoạt động tâm lý. Là cái hình mẫu người đó đã
sống qua và sẽ ảnh hưởng đến các “uẩn” của cuộc sống mới tiếp theo mà mẫu
hình của cuộc sống này được tiền định bởi các mẫu hình của cuộc sống đã qua.
* Thức: Tri giác - hiện hữu. Thời điểm đầu tiên của cuộc sống mới, sự
thức tỉnh của “thức”. Thức không thể hiện hữu ở quá khứ và vị lai. Vì “thức”

17
có vai trò ưu thế nên thời điểm đầu tiên của cuộc sống mới được gọi là
“thức”.
* Danh - Sắc: Là những gì thuộc về vật chất tinh thần. Trong cuộc sống
con người nó tồn tại ngay từ thời kỳ hiện diện giản đơn của tất cả các nguyên
tố của con người ngay từ trong trạng thái thai nhi.
* Lục nhập: Sự tương tác và hội nhập giữa 6 căn : măt, mũi, lưỡi, thân
và ý với 6 cảnh (đặc trưng của thế giới hiện thực khách quan): sắc, thanh,
hương, vị, xúc và giác (những thứ có thể sờ thấy được).
* Xúc: Sự giao thoa của tất cả các yếu tố - tam giới .
- Các “căn”: mắt, tai, mũi, lưỡi và ý thức (thuộc chủ thể nhận thức).
- Các đối tượng của “ căn” hay “cảnh”: sắc, thanh, hương, vị, xúc, giác
(thuộc đối tượng nhận thức).
Sự sinh khởi của tri giác hay nhận thứ thông qua giao tiếp giữa chủ thể
nhận thức (căn) và đối tượng nhận thức (cảnh) hay còn gọi là “thức”.

“dục vọng” chừng nào “dục vọng” vẫn còn sinh thành và tồn tại thì vòng luân
hồi vẫn còn tiếp tục. Nó chỉ có thể ngừng khi nào sức mạnh điều khiển nó tức
chính nó - dục vọng - bị chặt đứt bằng sự thông tuệ, là cái nhìn thấy được hiện
thực, nhìn thấy được chân lý và nhìn thấy được Niết bàn.
Khi đã chỉ ra được bản chất của cuộc đời con người là khổ, chỉ ra được
các nguyên nhân dẫn đến các nỗi khổ ấy Đạo Phật cũng đồng thời đi đến
khẳng định con người hoàn toàn có thể thoát khỏi khổ đau Diệt Đế (Nirodha)
thông qua quá trình tụ tập loại trừ dục vọng, phải từ bi, nhẫn nhục hỷ xả và
nhận thức được tâm phật, để có thể giải thoát: Đó là sự xa lánh trọn vẹn, là sự
tận diệt cái ái dục, là sự khước từ thoát ly và sự tách rời khỏi tâm ái dục.
Qua các quan điểm Khổ đế, Tập đế, Diệt đế đạo Phật đã chỉ ra bản chất
của cuộc đời con người là khổ, nguyên nhân của sự khổ đau trong cuộc sống
của mỗi con người đó là do lòng “ái dục” của con người. Do nguyên nhân nội
tại từ trong chính bản thân mỗi con người chứ không phải do các nguyên nhân
khách quan: điều kiện kinh tế xã hội mang lại. Tuy cuộc đời con người là khổ
nhưng không phải vì thế mà chúng ta bi quan, con người hoàn toàn có thể loại

19
trừ mọi khổ đau bằng cách diệt trừ “ái dục”. Kết quả mà người diệt trừ được
“ái dục” có được là đạt tới Niết bàn (Nirvana); cái đích cuối cùng trong con
đường tu mà đức Phật đã chỉ ra. Nhưng làm thế nào để có thể diệt trừ được ái
dục? Trả lời cho vấn đề này Đạo Phật cũng đã đưa ra quan điểm về con đường
tu tập để thoát khổ: Đạo đế (Magga) - Chân lý về những con đường giải thoát.
Theo đạo Phật để có thể thoát khỏi nối khổ của cuộc đời, mỗi chúng ta
phải tu tập theo tám con đường thường được gọi là Bát chính Đạo
(AriyaAtthangikaMayga) đó là:
* Chính kiến: Là thấy, nghe hay biết một cách ngay thẳng công minh
đúng với sự thật khách quan, thấy như thế nào thì nhận thức đúng như thế ấy,
không lấy trắng làm đen, lấy xấu làm tốt Sự nhận xét của người có Chính
kiến không bị tập quán, thành kiến và dục vọng ngăn che hay làm sai lạc.

với chân lý, có lợi ích cho mình và cho người.
Đấy chính là “tám con đường ngay thẳng hay tám phương tiện màu
nhiệm đưa chúng sinh đến đời sống chí diệu”.[30, tr 540].
Như vây, ta có thể dễ dàng nhận thấy toàn thể các tư tưởng giáo lý của
đạo Phật về nhân sinh quan đều hướng tới việc giúp con người nhân thức ra
bản chất thật sự của cuộc đời con người và từ đó giúp con người thoát khỏi
những khổ đau đó. Cũng giống như tất cả các tôn giáo khác đạo Phật cũng đã
luôn đề cao yếu tố “đạo đức” luôn tìm cách khuyên răn mọi người sống một
cuộc sống hướng Thiện tránh Ác coi đó là con đường để con người tự giải
thoát cho mình.
Toàn bộ các các tư tưởng giáo lý của nhà Phật (cả mặt thế giới quan và
nhân sinh quan) đều chỉ nhằm đến một mục tiêu cao nhất là lý giải về những
nỗi khổ trong cuộc đời con người và tìm cách giải thoát con người khỏi mọi
khổ đau, khỏi vòng luân hồi nghiệp báo.
1.1.3. "Tam học" (Giới - Định - Tuệ) là cách thức thực hiện con
đường giải thoát.
Khi nghiên cứu về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng chúng ta
nhận thấy rằng Phật giáo không phải là tôn giáo duy nhất quan tâm đến số
phận của những con người đau khổ. Tuy nhiên điểm khác biệt giữa Phật giáo
và các tôn giáo khác là ở phương thức giải thoát khỏi sự đau khổ: con đường

21
tu học, trau dồi trí tuệ phá vỡ "Vô minh". Giáo lý nhà phật luôn nhất quán một
tinh thần: Con người hoàn toàn có khả năng nhận thức được thế giới khách
quan, có trí tuệ để hoạt động tự giải thoát, lấy mình làn chủ tự nhiên và xã hội,
việc giải thoát của mỗi người phải tự mỗi người đảm nhiệm, không ai làm
thay hoặc cứu giúp được. Biện pháp để có thể giúp con người thực hiện sự
giải thoát là phát huy trí tuệ, tu dưỡng đạo đức để trở về với "Phật tính" của
mình; Con đường tam học: Giới - Định - Tuệ.
Giới: (Si la) là những điều răn cấm không phạm phải để thực hiện được

được hoan hỷ, tránh được nghiệp báo luân hồi và tiến tới Niết bàn.
Định: Là trạng thái tinh thần chuyên chú, tập trung vào một điều mình
tin, vào một cảnh giới nhất định. Nó là một pháp môn nhằm điều phục, huấn
luyện tâm linh cho "tâm an" từ đó làm khởi sinh trí tuệ "tâm an thì trí sáng"
nhờ đó tiến gần tới niết bàn.
"Không thiền không trí tuệ
Không trí tuệ không thiền
Người có thiền có tuệ
Nhất định gần niết bàn" (Pháp cú 372)
Trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người chúng ta, chúng ta
thường khó mà làm chủ được tâm mình, giữ cho tâm của mình an lạc. Điều
đáng suy nghĩ thì tất nhiên chúng ta phải suy nghĩ nhưng cả những chuyên
không đâu cũng luôn làm chúng ta suy nghĩ vẩn vơ… điều đó làm cho chúng
ta khó có thể gạn lọc những tâm niệm hay gạt bỏ những tâm niêm dở không
làm chủ được tâm của mình. Không chắt lọc lấy những tâm niệm hay và loại
bỏ lấy những tâm niệm dở thì làm sao có thể phát sinh "đạo đức", trí tuệ… Vì
vậy Đức Phật luôn khuyên các đệ tử của mình cả phật tử tại gia lẫn xuất gia
phải "Thiền định"
"Dẫu sống một trăm năm
Ác tuệ không thiền định
Tốt hơn sống một ngày
Có tuệ tu thiền định" (Pháp cú 111)
Để tự chế ngự điều phục thân tâm, từ đó làm sinh khởi "đạo đức" hướng
thiện lánh ác. Điều phụ thân tâm, chứng đắc cảnh thiền, cùng với Giới, Định
cũng là biện pháp đưa người tu đạt tới cảnh giới an lạc niết bàn.
Tuệ: Là sự hiểu biết của con người về bản chất của tôn giáo và nhân
sinh. Thế giới là "vô thường", "Vô ngã" nhân sinh là khổ ải… Tuệ là sự thấy,

23
biết đúng với bản chất của sự vật không bị hình bóng giả dối đánh lừa, không

Trích đoạn Đạo đức con người Việt Nam hiện nay do mục tiêu xây dựng đất nước hiện nay quy định. Kế thừa và phát huy đạo đức Phật giáo trong việc xây dựng đạo đức con người Việt Nam hiện nay.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status