luận văn vai trò của fdi trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở việt nam trong giai đoạn hiện nay và một số giải pháp để đạt được mục tiêu phát triển tương lai - Pdf 15



Luận văn

Vai trò của FDI trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay và
một số giải pháp để đạt được mục
tiêu phát triển tương lai
1

Phần mở đầu

I. Sự cần thiết phải nghiên cứu vai trò của FDI trong quá trình phát
triển kinh tễ xã hội
Đối với bất kỳ một quốc nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển
thì để phát triển đều cần có vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài
sản mới cho nền kinh tế. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy
động ở trong nước hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước
thường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam( có
tỷ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu tư cao nên cần có một số vốn lớn để phát triển
kinh tế).Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan

đó đưa ra các giải pháp cũng như các điều kiện đảm bảo vốn FDI cho quá
trình phát triển kinh tế ở Việt Nam.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những tác động của vốn FDI đến phát triển kinh tế
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và một số giải pháp để đạt được những
mục tiêu phát triển trong tương lai.

3

Chương I: Cơ sở lý luận

I. Những vấn đề cơ bản về FDI
1. FDI là gì
1.1. Một vài khái niệm về FDI.
-FDI là hình thức đầu tư quốc tế mà nhà đầu tư nước ngoài góp một
lượng vốn đủ lớn để thiết lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhờ đó cho phép
họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, cùng với các
đối tác nước nhận đầu tư chia sẻ rủi ro và thu lợi nhuận từ những hoạt động
đầu tư đó.
-Theo tổ chức thương mại thế giới đưa ra định nghĩa như sau về
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một
nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút
đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân
biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà
đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựơc gọi là "công ty mẹ"
và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
- Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2000)
quy định: FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo pháp luật.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual-Business-Cooperation) là
văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi là bên hợp doanh) quy định rõ
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư
sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà không thành lập một pháp
nhân. Và ở Việt Nam, hình thức này chỉ chiếm trên 3% số dự án và khoảng
9% số vốn đầu tư (đến tháng 5 năm 2005 chỉ có 181 dự án có hiệu lực với 4,5
tỷ USD vốn đầu tư).
 Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh ( Joint Venture interprise): là loại hình doanh
nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với các nước tiếp nhận

5

đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủ ro
theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước
tiếp nhận đầu tư.Ở Việt Nam, hình thức này chỉ chiếm trên 23% số dự án và
khoảng 44% số vốn đầu tư (đến tháng 5 năm 2005 có 1.269 dự án có hiệu lực
với 19,7 tỷ USD vốn đầu tư).
 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% Foreign Cantrerisce) là
doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài( tổ chức hoặc cá nhân
nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự
quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh. Ở Việt Nam,
hình thức này có xu hướng gia tăng cả về số dự án và vốn đăng ký. Hiện có
trên 73% số dự án và khoảng 47% số vốn đầu tư (đến tháng 5 năm 2005 có
3.956 dự án có hiệu lực với 22,8 tỷ USD vốn đầu tư). Hiện nay trong đó tổng
dự án và tổng vốn trên thì nhà đầu tư đăng ký dưới hình thức 100% vốn nước
ngoài chiếm 77,2% về số dự án (60,7% về tổng vốn), đăng ký dưới hình thức
liên doanh chiếm 19,5% về số dự án (31,2% về tổng vốn đăng ký). Số còn lại

quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công
ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia
sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai) cho phép họ phát huy các
lợi thế đặc thù nói trên.
3.4.Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột
thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu
phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt
thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường
đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay
tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang.
Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị
trường Bắc Mỹ và châu Âu.

7

3.5. Khai thác chuyên gia và công nghệ
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước
kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật
Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia
ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở
Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản
cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát
triển khác cũng có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia
quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của
công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược
để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc
TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-

K,l,r: tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên
T phần dư còn lại, phản ánh tác động khoa học kĩ thuật A, b, c: các hệ
số, phản ánh tỉ trọng của các yếu tố đầu vào trong tổng sản phẩm: a+b+c=1
1.2 Ý nghĩa
Các nhà kinh tế học tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự
tăng trưởng thông qua hàm sản xuất. Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa sự
tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài
nguyên, khoa học- công nghệ. Với hàm sản xuất Cobb-douglas cho biết có 4
yếu tố cơ bản tác động đến tăng trưởng kinh tế và cách thức tác động của 4
yếu tố này là khác nhau giữa các yếu tố K, L, R và T. Họ cũng cho rằng khoa
học - công nghệ có vai trò quan trọng nhất với sự phát triển kinh tế. Yếu tố
khoa học công nghệ phụ thuộc rất lớn vào yếu tố vốn, sự đầu tư của các chủ
thể trong nền kinh tế. Với việc thu hút FDI,Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận với
những tiến bộ khoa học công nghệ mới nhất trên thế giới, đồng thời các DN
nước ngoài khi đầu vào Việt Nam sẽ mang những kiến thức, khoa học công
nghệ trên thế giới để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
2. Mô hình Harrod- domar

9

2.1 Mô tả về mô hình
Hàm sản xuất : Y =1/k * K (1)
Tiết kiệm S = s * Y (2)
Vốn đầu tư : I = S (3)
Lượng vốn gia tăng : K = I - d*K ( d là tỷ lệ khấu hao) (4)
Từ (2),(3),(4) ta có : K = s*Y - d*K (5)
Hệ số tư bản - đầu ra: k=K/Y (6)
Từ (1) ta có : Y= K/k (7)
Tỷ lệ tăng trưởng đầu ra : g = Y /Y = (s/k)-d
2.2 Ý nghĩa :

một cách có hiệu quả tiềm năng, làm thay đổi cơ cấu kinh tế địa phương cũng
như vùng lãnh thổ, tạo cơ hội đẩy mạnh sự hợp tác, liên kết kinh tế trong
phạm vi tỉnh, thành phố. Vai trò của FDI với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
được thể hiện ở những khía cạnh sau đây
1. Góp phần tăng nguồn vốn, giải quyết vấn đề thiếu vốn cho phát
triển KTXH
- FDI giải quyết tình trạng thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội do tích
luỹ nội bộ thấp, cản trở đầu tư và đổi mới kỹ thuât trong điều kiên khoa học ,
kỹ thuật thế giới phát triển mạnh.
- Mặc dù FDI thường chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng mức đầu tư của
nước chủ nhà nhưng điều đàng chú ý là vốn FDI cho phép tạo ra các ngành
mới hoàn toàn hoặc thúc đẩy sự phát triển của một số ngành quan trọng đối
với quá trình công nghiệp hoá đất nước.

11
- Đối với Việt Nam , sau hơn 17 năm đổi mới , nguồn vốn đầu tư nước
ngoài đã đóng góp giúp bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng tiềm
lực kinh tế để khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong
nước như dầu khí, điện Tính từ năm 1998 đến hết năm 2003, trên phạm vi
cả nước đã có trên 4500 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 46 tỷ
USD. Đến 2004, Việt Nam đã thu hút được vốn đầu tư trên 65 quốc gia và
vùng lãnh thổ. Tỷ trọng đóng góp của FDI vào GDP có xu hướng tăng lớn
qua các năm: năm 1992 là 2%, năm 1996 là 7,6%, năm 1999 là 10,3%, năm
2000 chiếm 13.3% GDP, năm 2002 chiếm 13,5% , năm 2003 chiếm 14%.
Nguồn vốn này cũng góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ
và tốt hơn hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thộng vận tải, bưu chính viễn thông ,
hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, góp phần
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hình thành các khu dân cư
mới, tạo việc làm cho hàng vạn lao động tại các địa phương. Những vấn đề
trên cho thấy tác dụng và ảnh hưởng quan trọng của FDI đối với sự phát triển

vậy sẽ mang lại lợi ích hiệu quả phân bổ được cải thiện. Tuy vậy, sự thu hẹp
của khu vực sản xuất trong nước thường gây ra nhiều hậu quả về xã hội và kết
quả mà mọi chính phủ đều không mong muốn.
Cùng với việc cung cấp vốn, thông qua FDI các công ty nước ngoài đã
chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác sang cho Việt Nam.
Chuyển giao công nghệ là một trong 4 kênh làm xuất hiện “tác động tràn” đối
với doanh nghiệp do đó nước ta có thể nhận đựợc những công nghệ kỹ thuật
tiên tiến, hiện đại( thực tế, có những công nghệ không thể mua đựơc bằng
quan hệ thương mại đơn thuần), những kinh nghiệp quản lý, năng lực
marketting, độ ngũ lao động được đào tạo, rèn luyện về mọi mặt( trình độ kỹ
thuật, phương pháp làm việc, kỷ luật lao động.
4. Tác động tới xuất khẩu và cán cân thanh toán
FDI thúc đẩy hoạt động thương mại, tạo hành lang cho hoạt động xuất
khẩu và tiếp cận nhanh nhất với thị trường thế giới. Xuất khẩu là một trong
những giải pháp tăng trưởng kinh tế, góp phần tăng thu nhập cho nền kinh tế,

13
từ đó giải quyết các vấn đề xã hội. Theo quy luật của các nước đang phát
triển, cán cân thanh toán của các nước này luôn ở tình trạng thâm hụt. Do vậy,
hoạt động FDI đã góp phần vào việc hạn chế một phần nào đó tình trạng thâm
hụt của cán cân thanh toán thông qua thặng dư xuất khẩu và chuyển vốn đầu
tư vào nước tiếp nhận FDI. Thông qua FDI, hoạt động xuất nhập khẩu của
các nền kinh tế chủ nhà được kích hoạt, trở nên hết sức sôi động. Khởi đầu là
xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng, tiếp đến là
các sản phẩm thuộc các ngành công nghiệp cần nhiều lao động như dệt may,
công nghiệp chế biến và sau đó là các sản phẩm có hàm lượng tư bản cao như
sản phẩm điên, điện tử, cơ khí
Theo số liệu thống kê, các doanh nghiệp FDI đã chiếm tỷ trọng 13 –
14% GDP, 35,5% tổng sản lượng công nghiệp và 18,6% tổng vốn đầu tư xã
hội; ngoài dầu thô, chiếm tỷ trọng 33,8% kim ngạch xuất khẩu; Hoạt động

công lao động quốc tế. Trong xu thế quốc tế hoá và khu vực hoá các hoạt
động kinh tế hiện nay, mức độ thành công của mở cửa và hội nhập kinh tế với
thế giới có tác động chi phối mạnh mẽ tới sự thành công của công cuộc đổi
mới, đến kết quả của sự nghiệp CNH-HĐH cũng như tốc độ phát triển của
nền kinh tế Việt Nam.
Đầu tư nước ngoài cũng như khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và đặc
biệt là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đã trở thành một động lực
quan trọng thức đẩy quá trình phát triển, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
của tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, là nhân tố cơ bản có
vai trò đặc biệt quan trọng tác động tới quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại
và hội nhập kinh tế quốc tế.
II. Vai trò của FDI với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
FDI góp phần tái cấu trúc nền kinh tế, FDI làm thay đổi cơ cấu kinh tế
theo hướng phù hợp với chiến lược công nghiệp hoá của các nước chủ nhà.
1. Huy động vốn để thay đổi cơ cấu kinh tế với tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ tăng lên.
Cơ cấu vốn FDI ngày càng thay đổi phù hợp hơn với yêu cầu dịch
chuyển cơ cấu kinh tế của đất nước. Những năm đầu, vốn FDI tập trung phần
lớn vào thăm dò, khai thác dầu khí (32,2%) và khách sạn du lịch, căn hộ cho
thuê (20,6%). Nhưng những năm gần đây, đầu tư vào khu vực sản xuất vật

15
chất của nền kinh tế (nhất là lĩnh vực công nghiệp) ngày càng gia tăng hiện
chiếm 2/3 tổng nguồn vốn đầu tư chung. Trong đó, trên 60% số dự án là đầu
tư khai thác và nâng cấp các cơ sở kinh tế hiện có. Cơ cấu ngành nghề được
điều chỉnh theo hướng ngày càng hợp lý, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất
hàng xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng và các cơ sở sản xuất công nghiệp,
chế biến nông, lâm, thuỷ sản và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, sử
dụng nhiều lao động; ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại Sự xuất
hiện của nhiều công trình lớn như các nhà máy xi măng Tràng Kênh, Nghi

2. Hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong các lĩnh
vực kinh tế
Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta đã du nhập những
công nghệ hiện đại trong các lĩnh vực viễn thông, khai thác dầu khí, hoá chất,
điện tử, phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước. Một
số ngành sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu trong nước như dệt, may, sản
xuất giầy dép cũng có công nghệ thuộc loại trung bình tiên tiến ở khu vực.
Nguồn vốn ĐTNN cùng các phương thức kinh doanh mới đã tạo ra sự cạnh
tranh ngay tại thị trường trong nước, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phải
đổi mới chất lượng sản phẩm và áp dụng phương pháp kinh doanh hiện đại.
ĐTNN góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và mở rộng nguồn
thu ngân sách. Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài bằng gấp 50 lần so với năm 1991, chiếm 22,5% tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả nước. Các khoản nộp ngân sách từ các hoạt động ĐTNN
tăng nhanh trong những năm qua: năm 1994 là 128 triệu USD, năm 1996 là
263 triệu USD, từ 1997 đến nay khoảng trên 315 triệu USD, riêng năm 1999
giảm còn 260 triệu USD. Khu vực ĐTNN đã giải quyết việc làm trực tiếp cho
khoảng 29 vạn lao động, ngoài ra, còn gián tiếp tạo ra việc làm cho gần 1
triệu lao động trong các ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ liên quan đến
ĐTNN. Thu nhập bình quân của lao động Việt nam trong doanh nghiệp
ĐTNN cao hơn cùng ngành nghề ở khu vực khác từ 30% đến 50%, bình quân

17
tháng khoảng 70USD và tổng thu nhập của lao động hàng năm lên tới 300-
350 triệu USD.
3. Thực hiện công nghiệp hoá nông thôn.
Mặc dù nguồn vốn đầu tư còn hạn chế song, các dự án FDI đã góp phần
không nhỏ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển sản
xuất hàng hoá quy mô lớn, nâng cao giá trị xuất khẩu cho nông sản Việt Nam,
trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh và áp dụng các công nghệ mới, công

- Cần chú trọng xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích phát triển
nông lâm sản theo hướng hiện đại nhằm mở rộng thị trường trong nước và
vươn ra thị trường quốc tế, hoàn thiện các chính sách về sử dụng đất, thuế và
các chế độ ưu đãi đầu tư, đặc biệt là đầu tư trong nông nghiệp và ở các vùng
nông thôn;
- Cơ sở hạ tầng và tay nghề lao động ở khu vực nông thôn tuy đã được
cải thiện nhiều nhờ thành tựu xoá đói giảm nghèo, song chưa đủ để hấp dẫn
các nhà đầu tư nước ngoài;
- Rủi ro khi đầu tư vào nông nghiệp và khu vực nông thôn cao hơn
nhiều so với các ngành khác. Nông nghiệp Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn
chủ yếu dựa vào sản phẩm nguyên liệu thô, thời gian đầu tư và thu hồi vốn
dài, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết và thiên tai, đặc biệt là giá nguyên
liệu thô trên thị trường thế giới luôn biến động bất lợi. Trong khi đó các nông
sản có chất lượng tiêu dùng cao, nhãn hiệu nổi tiếng và hàm lượng giá trị gia
tăng cao chưa được tạo dựng;
- Đa số dự án có qui mô nhỏ, phân bố không đồng đều giữa các vùng,
miền trong nước.
- Chưa hình thành một cơ chế gắn kết thường xuyên giữa Bộ và địa
phương (Tỉnh) để chọn lựa giới thiệu với các nhà đầu tư nước ngoài các dự án
FDI ưu tiên trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn;

19
- Cần có chính sách thu hút đầu tư mạnh hơn nữa vào công nghệ chế
biến nông lâm sản, bảo quản sau thu hoạch, tạo cây, con giống có chất lượng
cao để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu;
- Các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn chưa đủ
năng lực để chủ động kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài theo ý đồ chiến lược
phát triển sản phẩm và thị trường của riêng mình.
III. Vai trò của FDI với đảm bảo phúc lợi xã hội cho con người
1. Tác động tới việc làm và chất lượng nguồn lao động

tú từ các doanh nghiệp nhà nước. Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến năng
suất của các doanh nghiệp nhà nước, tạo thêm nhiều doanh nghiệp thua lỗ, và
do đó, làm gia tăng thất nghiệp và bất bình đẳng ở thành thị. Số liệu từ các
cuộc khảo sát cũng cho thấy các doanh nghiệp nhà nước có năng suất thấp so
với các doanh nghiệp khác, đặc biệt so với doanh nghiệp FDI. Theo một báo
cáo của Mekong Economics năm 2002, một lao động trong doanh nghiệp FDI
tạo ra 110 triệu đồng giá trị gia tăng năm 2000, so với 36 triệu đồng ở doanh
nghiệp nhà nước và 40 triệu đồng ở doanh nghiệp tư nhân. Nếu xét về chỉ tiêu
kinh doanh khác như tỷ suất lợi nhuận/tiền lương mà Bộ Lao động -Thương
binh và Xã hội tiến hành năm 2005 thì kết quả cũng tương tự, với con số 1,1 ở
doanh nghiệp FDI, 0,3 ở doanh nghiệp nhà nước, và 0,5 ở doanh nghiệp tư
nhân.
Qua các con số minh họa trên, có thể nói là lao động ở các doanh
nghiệp FDI có năng suất lao động và tiền lương cao hơn lao động ở doanh
nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp FDI đã trở thành đối thủ cạnh tranh với
doanh nghiệp nhà nước trên thị trường lao động, đặc biệt là lao động có trình
độ.
2. Nâng cao mức sống, mức thu nhập của người dân
Số liệu công bố qua các cuộc điều tra gần đây về tiền lương cho thấy
các doanh nghiệp FDI đang thắng thế trong cạnh tranh thu hút nhân lực cấp
cao, như các chức danh quản lý doanh nghiệp. Mức lương trả cho lao động
quản lý trong các doanh nghiệp FDI trung bình là 12 triệu đồng/tháng (năm

21
2005), cao hơn nhiều so với mức lương tương ứng ở các doanh nghiệp nhà
nước (4,3 triệu) và doanh nghiệp tư nhân (3 triệu). Nếu tính bình quân lương
tháng của toàn bộ lao động trong doanh nghiệp qua các cuộc khảo sát tiền
lương do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành từ đầu thập kỷ này
thì người lao động trong doanh nghiệp FDI vẫn được hưởng mức lương cao
hơn so với ở các doanh nghiệp trong nước khác (thấp nhất là ở doanh nghiệp

hiện những nội dung chủ yếu sau.
Thứ nhất, thu hút và sử dụng có hiệu quả FDI nhằm phát huy cao độ
nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và phát huy nộ lực là hai mặt
của một vấn đề có quan hệ hữu cơ với nhau,chúng không đối lập nhau, ngược
lại có thể kết hợp, bổ sung cho nhau một cách biện chứng, tạo thành sức mạnh
tổng hợp theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng đã chỉ ra là: phát huy nội lực
để thu hút mạnh hơn ngoại lực, thu hút ngoại lực để khai thác, sử dụng tốt hơn
các nguồn nội lực theo tinh thần “ Nội lực là quyết định, ngọai lực là quan
trọng, gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước.
Thứ hai, gắn chặt việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và thực hiện chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế

23
Thứ ba, phải đặt nhiệm vụ thu hút và sử dụng có hiệu quả FDI là bộ
phận khăng khít của chính sách phát triển kinh tế đối ngoại và chiến lược phát
triển KT-XH; trong đó, FDI đóng vai trò là động lực, nguồn lực quan trọng
thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ tư, đẩy mạnh việc thu hút nguồn vốn FDI gắn với việc nâng cao
hiệu quả trong phân bổ, sử dụng một cách toàn diện và hợp lý để phát huy cao
nhất vai trò, tác dụng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển
nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế nước ta.
Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài phải góp phần thúc đẩy tiến bộ xã
hội, bảo đảm an ninh- quốc phòng và bảo vệ môi trường.
1. Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thu hút FDI
Một là, cải thiện môi trường đầu tư, tăng sự hấp dẫn đối với đầu tư
trực tiếp nước ngoài bằng các giải pháp sau: Đơn vị %

việc làm, giới thiệu công nhân có tay nghề, cán bộ kỹ thuật, các trung
tâm cung ứng vật tư, các trung tâm điều hoà ngoại hối…Đồng thời coi
trọng việc nâng cao chất lượng các mạng lưới dịch vụ (ăn, ở, đi lại, giải
trí…) để các nhà đầu tư nước ngoài an tâm làm việc lâu dài với Việt
Nam.
(2) Cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho đàu tư trực tiếp nước ngoài, đẩy
mạnh công cuộc xây dựng các đặc khu kinh tế, khu chế xuất…
(3) Đẩy mạnh việc chống tham nhũng trong những số cán bộ, nhân viên
trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến việc xét duyệt, thẩm định, thực
hiện dự án đầu tư vốn trực tiếp nước ngoài… Điều này tạo nên sự yên
tâm cho các nhà đầu tư khi họ muốn đầu tư tại Việt Nam.
Hai là, cải cách thủ tục hành chính. Các thủ tục hành chính rắc rối,
phiền hà được xem như là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm
tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam. Vì vậy, muốn thu hút được
dòng vốn FDI cần phải tiến hành cấp giấy phép đàu tư, đẩy nhanh tiến độ cải
cách thủ tục hành chính, khắc phục những trì trệ trong những cơ quan nhà
nước, đơn giản hoá các thủ tục hành chính theo nguyên tắc ''một cửa'', ''một
đầu mối''. Các cơ quan phụ trách hợp tác và đầu tư là cơ quan duy nhất tiếp
nhận hồ sơ và giải quyết các công việc tiếp theo, đồng thời thay mặt nhà đầu
tư đi liên hệ với các cơ quan hữu quan rồi trả lời cho các nhà đầu tư, tạo điều
kiện cho họ đăng ký về hồ sơ, cấp giấy phép đầu tư, các cơ quan chức năng
phải thông báo công khai các loại giấy tờ cần thiết.
Ba là, cần phải triển khai hệ thống dịch vụ hỗ trợ hiệu quả. Thực tế
cho thấy các dịch vụ hỗ trợ cho nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
còn ở mức thấp và kém hiệu quả, mặc dù so với những năm 90 nó đã được cải
thiện rất nhiều song vẫn còn rất chậm so với các nước trong khu vực nhất là
trong lĩnh vực giao thông, viênc thông và cơ sở hạ tầng. Giá hàng hoá và dịch
vụ, đặc biệt là các yếu tố đóng vai trò là chi phí đầu vào của sản xuất như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status