ĐỐI TÁC GIẢM NHẸ THIÊN TAI
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
RÀ SOÁT LỒNG GHÉP QUẢN LÝ THIÊN TAI
VÀO LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Bình yên nơi mắt bão đi qua. Ảnh chụp ở Kỳ Anh đêm
3/10/2007.Ảnh: Chi Mai.(Vietnamnet.vn)
4.2 Kiến nghị các hoạt động cần được Đối tác GNTT tiếp tục hỗ trợ hoặc thực hiện: ....57
PHỤ LỤC ....................................................................................................................................58
5.1 Phụ lục 1 – Thuật ngữ sử dụng .................................................................................58
5.2 Phụ lục 2 – Tài liệu tham khảo..................................................................................62
5.3 Phụ lục 3 – Các văn bản pháp quy của chính phủ về PCBL và giảm nhẹ thiên tai
63
1Phụ lục bảng
Tên bảng Trang
Bảng số 1: Tình trạng xói lở vùng ven biển 12
Bảng số 2: Mức độ hiểm họa của các loại hình thiên tai ở các vùng 12
Bảng số 3: Tần suất của một số loại hiểm họa tại Việt Nam. 13
Bảng số 4: Thiệt hại do thiên tai gây ra trong các năm và % đối với GDP 13
Bảng số 5: Cơ sở để lồng ghép giảm nhẹ thiên tai vào KHPTKTXH 5 năm 2006-2010 17
Bảng số 6: Rà soát về QLRRTT trong định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực 26
Chữ cái viết tắt
BCHPCBL: Ban chỉ huy phòng chống bão lụt
BVMT: Bảo vệ môi trường
CT-DA: Chương trình, dự án
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GD: Giáo dục
GĐ: Giám đốc
GD- ĐT: Giáo dục và Đào tạo
GNTT: Giảm nhẹ thiên tai
HĐND: Hội đồng Nhân dân
KH&ĐT: Kế hoạch và Đầu tư
KT-XH: Kinh tế -Xã hội
KHPTKT-XH: kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
KHCN: Khoa học công nghệ
LDTBBXH: Lao động Thương binh và Xã hội
LLVT: lực lượng vũ trang
NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NDMP: Đối tác giảm nhẹ thiên tai
PN: Phụ nữ
PCBL: Phòng chống bão lụt
PCLBTW: Phòng chống lụt bão trung ương
PC&GNTT: Phòng chống và Giảm nhẹ thiên tai
QLRRTT: Quản lý rủi ro thiên tai
RMN: Rừng ngập mặn
SKSS: Sức khoẻ sinh sản
UBND: Uỷ ban Nhân dân
UNDP: Chương trình phát triển liên hiệp quốc
chính sách đầu tiên được xây dựng trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm.
Trong khung chính sách thể hiện rõ ràng mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, các giải
pháp, chính sách đề thực hiện mục tiêu đó, một số kết quả dự kiến sẽ đạt được và cơ
quan chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách và giải pháp đó.
- Một nội dung mới được đưa vào Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006-2010 là
vấn đề
giám sát đánh giá thực hiện kế hoạch. Được sự uỷ quyền của Thủ tướng chính
phủ, Bộ kế hoạch và Đầu tư đã ban hành khung theo dõi giám sát dựa trên kết quả tình
hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm. Đây là khung theo dõi đánh giá
được xây dựng khoa học và logic được thể hiện dưới dạng ma trận, bao gồm các mục
tiêu tổng quát, mục tiêu cụ cụ thể, các hoạt động đầu vào, các chỉ số đầu ra, kết qủa tác
động và cuối cùng là cơ quan chịu trách nhiệm theo dõi và đánh giá các chỉ tiêu, chỉ số
và tần suất báo cáo, đánh giá.
Đánh giá mức độ lồng ghép giảm nhẹ thiên tai
Tiền đề cho việc lồng ghép
- Phương pháp lập kế hoạch có nhiều đổi mới phù hợp cho việc lồng ghép giảm nhẹ thiên
tai
- Nội dung kế hoạch đã đề cập đến các vấn đề phát triển xã hội, môi trường tạo điều kiện
cho việc lồng ghép đầy đủ các chỉ số kinh tế, xã hội lẫn môi trường, đảm bảo sự phát
triển bền vững
- Quy trình lập Kế hoạch theo phương pháp tiến cận từ dưới lên, được chia ra thành nhiều
bước, cho nên có sự tham gia của hầu hết các ngành, các cấp, đặc biệt là sự tham gia của
người dân. Do vậy, nội dung kế hoạch sát với tình hình thực tiễn của địa phương, có tính
4
khả thi cao. Có các giải pháp chung và giải pháp riêng cho từng vùng lãnh thổ, phù hợp
với điều kiện tự nhiên - xã hôi của từng vùng, cho nên đã tạo cơ sở khoa học cho việc
lồng ghép các chỉ số kinh tế, xã hội, tự nhiên thích hợp giảm nhẹ thiên tai cho từng vùng,
từng vùng kinh tế và tiểu khí hậu (7 vùng) khác nhau
- Kế hoạch đã đề cập đến một cách cụ thể những thuận lợi, khó khăn thách thức về điều
pháp cụ thể thể hiện nội dung lồng ghép trong kế hoạch phát triển lĩnh vực đó, ngành đó.
Thậm chí chưa đề cập tới PC&GNTT và các rủi ro do thiên tai gây ra.
- Kế hoạch có những nội dung lồng ghép nhưng về tổ chức thực hiện chưa giao cho một tổ
chức cụ thể nào.
Kiến nghị về lồng ghép giảm nhẹ thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Xây dựng lộ trình cho việc lồng ghép
Do những hạn chế nêu trên, trên tinh thần của Chiến lược phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
vừa mới được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, cần thiết phải có một lộ trình để thúc đẩy mạnh
mẽ hơn việc lồng ghép một cách triệt để hơn vào Chiến lược, Quy hoạch và Kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội tầm quốc gia. Đồng thời cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn việc lồng ghép
giảm nhẹ thiên tai cho các cấp các ngành (các tỉnh, ngành, và các chương trình phát triển,
chương trình xoá đói giảm nghèo, các dự án và Chiến lược đầu tư và hoạt động đầu tư của các
đối tác khác nhau trên lãnh thổ Việt nam…). Các kiến nghị cụ thể được trình bày tại phần
IV, trang 57 của Báo cáo này.
5
I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ
1.1 Bối cảnh
Trên phạm vi toàn cầu, trong vài thập kỷ gần đây, thiên tai xảy ra với mức độ ngày càng trầm
trọng, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với cuộc sống của người dân, đặc biệt là những người
nghèo. Thiên tai là hiện tượng tự nhiên, là vấn đề của toàn cầu. Trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội, các hoạt động của con người như phát triển công nghệ, đô thị hoá, bùng nổ dân số, suy
thoái tài nguyên môi trường đã làm gia tăng mức độ, hậu quả do thiên tai gây ra. Trong hai thập
kỷ qua, trên thế giới, trung bình mỗi năm có hơn 200 triệu người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi
những thảm hoạ do thiên tai gây ra.
Việt Nam là một nước còn nghèo, phải mất một thời gian dài để khôi phục lại sau những thiệt
hại do chiến tranh. Việt nam phải đối đầu với nhiều thách thức trong quá trình chuyển từ nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trong giai đoạn trước thập kỹ 90. Cùng với chính sách
Đổi mới, kinh tế Việt Nam dần dần được phục hồi và bắt đầu tăng trưởng mạnh. Cuộc cải cách
Để giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, việc lồng ghép các yêu cầu PCGNTT trong kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội được đặt ra trong Chiến lược PCGNTT như là điều kiện tiên quyết.
1.2 Mục tiêu nhiệm vụ
Mục tiêu chung: Tăng cường lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai vào Kế hoạch phát triển KT-
XH tại cấp tỉnh, cấp quốc gia ở Việt Nam nhằm phát triển một cách bền vững
6
Để đạt được mục tiêu chung, báo cáo của tư vấn phải đề cập đến các vấn đề như sau:
- Rà soát Kế hoạch phát triển KT-XH quốc gia đến năm 2010 để có đánh giá tổng thể về
lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai vào kế hoạch phát triển tại cấp quốc gia;
- Đưa ra khuyến nghị cho các nhà lập kế hoạch liên quan để lồng ghép quản lý thiên tai
vào kế hoạch phát triển của những vùng bị thiệt hại do thiên tai (khuyến nghị để khắc
phục những bài học kinh nghiệm và những khó khăn nêu trên): Những khuyến nghị đó
phải thực tế, khả thi và chấp nhận được với chính quyền địa phương để đảm bảo có thể
áp dụng ngay được vào quá trình lập kế hoạch ở địa phương cho những vùng bị ảnh
hưởng.
- Đánh giá mức độ lồng ghép phòng chống thiên tai (bão và lũ) trong kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội hiện nay của 2 tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình.(được xem như nghiên cứu
điển hình bao gồm: Xác định khoảng trống và nhu cầu của lồng ghép quản lý thiên tai
vào kế hoạch phát triển của những địa phương sau được lũ đầu tháng 8 năm 2007 tại 2
tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình).
- Dựa vào các bài học kinh nghiệm về lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai vào kế hoạch phát
triển KH-XH cấp tỉnh, rà soát về quy hoạch, kế hoạch, chính sách, và các tài liệu liên
quan và đưa ra khuyến nghị liên quan đến lồng ghép quản lý thiên tai ở cấp quốc gia.
- Đánh giá phạm vi tiên liệu các rủi ro thiên tai trong kế hoạch hiện thời của cấp tỉnh;
- Đánh giá phạm vi các biện pháp phòng chống thiên tai được kết hợp trong kế hoạch hiện
thời;
- Đánh giá phạm vi thực hiện kế hoạch phòng chống thiên tai ở một số vùng (huyện hoặc
xã) bị ảnh hưởng nặng của trận lụt vừa qua;
- Phân tích những lợi ích của kế hoạch được lồng ghép với quản lý rủi ro thiên tai thông
Việt Nam có tổng diện tích đất liền là 329.241 km
2
, bờ biển dài 3260 km, nơi có chiều rộng lớn
nhất khoảng 600 km, nơi có chiều rộng hẹp nhất khoảng 50km. Vùng đặc quyền kinh tế biển
rộng khoảng 1 triệu km
2
, gấp 3 lần lãnh thổ trên đất liền. Vùng biển là nơi tập trung cao các hoạt
động kinh tế và xã hội, nơi đây tập trung gần 60% dân số, khoảng 50% đô thị lớn và quan trọng
và hấu hết các khu công nghiệp của cả nước
1
.
Địa hình Việt Nam tương đối đa dạng: núi, sông, cao nguyên, đồng bằng, bờ biển, bán đảo, đảo.
Đồi núi và cao nguyên chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ. Các dãy núi thường có hướng Tây Bắc -
Đông Nam gần vuông góc với hướng gió mùa Đông Bắc- Tây Nam. Nhiều dãy núi song song
chia cắt lãnh thổ tạo thành những sông có hướng Tây Bắc - Đông Nam. Phần lớn các sông đều
đổ ra biển Đông. Địa hình núi cao, sườn dốc lớn, độ chia cắt mạnh, phân bố rải rác khắp lãnh thổ
với mạng lưới sông, ngòi dày đặc.
Diện tích đồng bằng cả nước chỉ chiếm 1/4 diện tích lãnh thổ, bao gồm các khu vực như: Đồng
bằng sông Hồng, đồng bằng Trung bộ, đồng bằng Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
Việt Nam được phân chia thành 7 vùng kinh tế và tiểu khí hậu, gồm: miền núi phía Bắc, đồng
bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông
Cửu Long.
Với đặc điểm như trên, Việt Nam thường xuyên chịu tác động của bão, lũ và các loại thiên tai
khác.
1.3.2 Địa chất thổ nhưỡng và lớp phủ thực vật
Bắc bộ là vùng có cấu tạo địa chất phức tạp nhất so với các vùng khác trong cả nước. Miền núi
phía Bắc có 1/3 diện tích là đá với tầng phong hoá mỏng, nghèo dinh dưỡng, ít hấp thụ nước.
Loại đất đen thường phân bổ ở các vùng đá vôi nhiều can xi và magiê. Đồi núi chiếm 80% diện
tích Bắc bộ. Tỷ lệ rừng bao phủ ở khu vực này thấp nhất trong toàn quốc. Riêng vùng núi và
trung du Bắc bộ hiện còn nhiều diện tích đất trống đồi núi trọc. Diện tích đất phù sa của đồng
1.3.3 Khí hậu
Nhiệt độ có sự chênh lệch cao giữa các vùng, các mùa trong từng vùng cũng nh giữa các thời
điểm trong ngày của mỗi vùng... ở miền Bắc phân làm 4 mùa rõ rệt, phía Nam chỉ có mùa khô
và mùa mưa, ở Trung bộ chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam.
Lượng bốc hơi lớn, không đều giữa các vùng của Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long là
những khu vực có lượng bốc hơi cao nhất.
Độ ẩm cao và có sự chênh lệch giữa các vùng, các mùa. Vùng Nam bộ thường có độ ẩm thấp
hơn so với các vùng khác trong cả nước.
Mưa: Việt Nam nằm ở rìa Đông Nam Á, tiếp cận với hai đại dương lớn là Ấn Độ Dương và
Thái Bình Dương, chịu sự chi phối của các khối không khí lục địa và đại Dương. Lượng mưa
hàng năm lớn, phân bố không đều, 70-80% tập trung vào mùa mưa, ở Miền Bắc từ tháng 5 đến
tháng 9, miền Trung từ tháng 9 đến tháng 12 và Nam Bộ từ tháng 10 đến tháng 12. Lượng mưa
trung bình hàng năm khoảng 2.500 mm. Trung Trung bộ là nơi có lượng mưa bình quân/năm lớn
nhất, thấp nhất là vùng Nam Trung bộ.
1.3.4 Thuỷ văn
Do địa hình đồi núi chia cắt nên lãnh thổ Việt Nam có mạng lưới sông dày đặc. Có 2.360 con
sông có chiều dài từ 10 km trở lên, có 13 hệ thống sông có diện tích lưu vực từ 3.000 km
2
trở
lên, trong đó 9 hệ thống sông có diện tích lưu vực trên 10.000 km
2
là các sông: Mê Kông, sông
Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Ba, sông Bằng Giang - Kỳ
Cùng và sông Thu Bồn.
Mạng lưới sông Việt Nam có tổng diện tích lưu vực hứng nước là 1.167 triệu km
2
, trong đó có
835.000 km
2
nằm ngoài lãnh thổ (71,5%), có tổng lượng nước trung bình nhiều năm 835 tỷ m
triều cường nước biển dâng cao, kèm theo mưa lớn kéo dài, gây lũ lụt. Có tới 80 - 90% dân số
Việt Nam chịu ảnh hưởng của bão. Nhiều năm qua, Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp của 4
đến 6 cơn bão đổ bộ một năm. Theo thời gian thì tần suất đổ bộ của bão dịch chuyển dần vào
phía nam. Bão xuất hiện với tần suất cao nhất trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 và
rất khó dự đoán.
Năm 2006 là năm xuất hiện nhiều trận bão mạnh: bão Chanchu (5/2006), bão Xangsane và
Cimaron (10/2006), Chebi (11/2006), bão Durian và Utor (12/2006). Các cơn bão gây thiệt hại
lớn cho người dân (đặc biệt là các khu vực gần biển). Chỉ tính thiệt hại do bão Xangsane gây ra
vào tháng 10/2006 đã lên tới hơn 10 nghìn tỷ đồng
3
.
Bão - Lũ từ biển
Bão thường kết hợp với hiện tượng nước dâng do bão, tạo thành gió và sóng. Gió bão mạnh sẽ
tạo ra sóng lớn và làm tăng cao mực nước biển. Trong thời gian 30 năm qua, người ta ghi nhận
được có một nửa trong số các cơn bão đổ bộ vào Việt Nam đã làm dâng cao mực nước trên 1
mét và có 11% số cơn bão làm dâng cao mực nước biển trên 2 mét. Một số trường hợp rất đặc
biệt, bão có thể tạo thành nước dâng cao đến vài mét.
1.4.2 Lũ
Lũ các sông Bắc bộ
Sông Hồng và sông Thái Bình có diện tích lưu vực 164.300 km
2
trong đó phần lưu vực thuộc
lãnh thổ Việt Nam là 87.400 km
2
bao gồm 23 tỉnh, thành phố, chiếm 75,7% diện tích tự nhiên
của toàn Bắc bộ. Mùa lũ trên hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình thường xuất hiện sớm so
với các vùng khác, từ tháng 5 đến tháng 9. Trung bình mỗi năm có từ 3 đến 5 trận lũ xuất hiện
trên lưu vực này. Tùy theo quy mô của trận lũ mà có thời gian kéo dài từ 8 - 15 ngày. Biên độ
mực nước lũ trên hệ thống sông Hồng dao động mạnh, tại Hà Nội dao động ở mức trên 10m.
Dao động mực nước trên sông Thái Bình tại Phả Lại ở mức trên 6m.
đến 4 trận lũ quét xảy ra trong mùa lũ hàng năm. Có những nơi lũ quét xảy ra nhiều lần ở cùng
một địa điểm. Lũ quét thường phát sinh bất ngờ, xảy ra trong phạm vi hẹp nhưng rất khốc liệt và
thường gây những tổn thất nghiêm trọng về người và của. Các trận lũ quét điển hình như: trận lũ
quét ngày 27/7/1991 tại thị xã Sơn La; trận năm 1994 tại Mường Lay, Lai Châu; trận lũ quét tại
à Tĩnh ngày 20/9/2002; trận lũ quét năm 2005 tại Yên Bái... H1.4.3 Ngập úng
Ngập úng thường do mưa lớn gây ra, ở một số vùng thời gian ngập úng kéo dài. Những năm gần
đây xẩy ra tình trạng ngập úng cục bộ do triều cường tại một số quận của Thành phố Hồ Chí
Minh. Ngập úng tuy ít gây tổn thất về người nhưng ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và
môi trường sinh thái. Ngập do triều cường tại thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng lớn đến việc đi
lại và giảm hiệu quả làm việc của cán bộ và nhân dân.
1.4.4 Hạn hán và sa mạc hoá
Vùng Tây Nguyên có chỉ số hạn hán cao. Kể từ năm 1980, hạn hán xẩy ra hàng năm, với tần
suất 5 năm lại diễn ra những được hạn hán khốc liệt (năm 1083, 1988, 1993, 1998 và 2003. Năm
2003 lưu lượng nước trong tất cả các sông và suối ít hơn 20-25% so với mức cuối kỳ năm 2002.
mực nước của các hồ chứa xuống dưới mực nước chết. Các mặt nước ngầm giảm trung bình
khoảng 1,5 đến 2 m ở nhiều nơi giảm 3-4 m), gây thiếu nước cho 100.000 hộ dân.
Tháng 4 năm 2003, hạn hán đã gây hại cho khoảng 300ha lúa ở Kon Tum và 3000 lúa ở Gia Lai
và 50.000 ha đất canh tác ở Đắc Lắc tổng thiệt hại ước tính 250 tỷ đồng
4
Ninh Thuận là một tỉnh điền hình về khô hạn. Những tháng mùa khô không chỉ người mà gia
súc cũng thiếu nước uống và thức ăn nghiêm trọng. Người dân đã thử nghiệm và thành công
trong việc sử dụng cây Xương rồng làm thức ăn cho bò và cừu.
Hạn hán là loại hình thiên tai thường xảy ra ở Việt Nam và đứng thứ 3 về mức độ thiệt hại sau
bão và lũ. Trong những năm gần đây, hạn hán liên tiếp xảy ra ở khắp các vùng trong cả nuớc.
Hạn hán có năm làm giảm từ 20-30% năng suất cây trồng, giảm sản lượng lương thực ảnh
làm mất đi số lượng đáng kể diện tích đất ở, đất canh tác; phá huỷ nhiều làng mạc ven sông.
Hàng năm Chính phủ đã đầu tư một khoản tiền khá lớn cho công việc di dời, kề sông, nhưng
tình trạng sạt lở vẫn chứa khắc phục được bao nhiêu, bởi diện ảnh hưởng quá lớn.
Sạt lở bờ sông do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc khai thác cát trên lòng sông bừa bãi, làm
ảnh hưởng đến dòng chảy hoặc việc xả nước đột ngột của các công trình thủy điên trên thượng
lưu cũng có nguy cơ làm sạt lở bờ sông ở hạ lưu. Hiện nay ở hầu hết các con sông đều có hiện
tượng sạt lở, việc di dời dân hoặc làm kè sông vô cùng tốn kém.
Sạt lở, xói lở bờ biển do sóng, thuỷ triều, nước biển dâng và dòng hải lưu gây ra. Sạt lở bờ biển
dẫn đến hậu quả biển xâm thực vào đất liền, mất nhà ở, phá huỷ môi trường... . Sạt lở bờ biển
thường đi đôi với bão. Việt nam có chiểu dài bờ biển hơn 3.260km đường biển, do vậy việc sạt
lở bờ biển là hiện tượng thiên tai khá phổ biến, đặc biệt là các tỉnh miền Trung, và một số tỉnh
Bắc Bộ. Theo báo cáo diễn biến môi trường nước Việt Nam năm 2003 (tr. 27) thì ước tính
khoảng 300km bờ biển Việt Nam hiện đang bị xói lở, và hiện tượng xói lở, sạt lở đang xẩy ra ở
hầu hết 20 tỉnh ven biển
Bảng số 1: Tình trạng xói lở vùng ven biển
6
Thời kỳ 1930-1945 1975-1992 1998 2001
Số các khúc bờ biển bị xói lở 35 61 243 249 với tổng chiều
dài xói lở là 300km
Trợt lở đồi núi, sườn dốc thường do mưa lớn tập trung, kết hợp với nơi có cấu tạo địa chất yếu,
tác động của con người như: bạt núi mở đường, chặt phá rừng... Trượt lở đồi núi thường kèm
theo lũ bùn đá, gây tổn thất nghiêm trọng đối với tính mạng và tài sản của người dân trong
vùng. Việc trượt lở đồi núi, sờn dốc thường xẩy ra nhiều ở các tỉnh miền núi như Lai Châu,
Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Hoà Bình, và dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh. Sạt lở
đã làm ách tắc giao thông, thậm chí gây chết người, phá huỷ phương tiện giao thông. Việc khắc
phục sạt lở đồi núi, sờn dốc thường rất tốn kém, có một số biện pháp như kè vách ta luy, kiên cố
hoá bằng đá, bê tông. Giải toả ách tắc đường do sạt lở thường phải có các phương tiện điện đại
như xe ủi, máy xúc và rất tốn kém...
Bảng số 2: Mức độ hiểm họa của các loại hình thiên tai ở các vùng
Các vùng Hiểm hoạ chính
1.5.1 Hậu quả về kinh tế - xã hội
Thiên tai ở Việt Nam là tác nhân gây cản trở trực tiếp tới sự phát triển kinh tế, phát triển bền
vững, gia tăng đói nghèo; là trở lực lớn trong quá trình phấn đấu đạt các Mục tiêu Phát triển
Thiên niên kỷ. Việt Nam có hơn 80% dân số có nguy cơ chịu ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai.
Thiên tai xảy ra và đã làm mất đi nhiều thành quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong
cả nước. Chỉ tính riêng trong 12 năm qua (1995-2006) thiên tai đã làm khoảng 9.416 người chết
và mất tích, bị thương 7.622 người, thiệt hại vật chất ước tính khoảng 61.479 tỷ đồng.
Bảng số 4: Thiệt hại do thiên tai gây ra trong các năm
7
và % đối với GDP
8
Thiệt hại về người
Năm
Bị chết/mất
tích (người)
bị thương
(người)
Nhà đổ, trôi,
ngập, hư hại
(cái)
Tổng thiệt
hại vật chất
(tỷ đồng)
GDP
(tỷ đồng)
% so với
GDP
1995 399 315 501.302 1.129 228892 0,49
1243
3083
399
612
399
186
522
2,098
907
315
1617
262
190
191
275
288
413
544
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
3500
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
người
Số người bị chết/mất tích Số người bị thương
14,000
16,000
18,000
20,000
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tỷ Việt Nam đồng
Tổng thiệt hại vật chất từ
năm 1995-2006 khoảng
61.479 tỷ đồng, trong đó
năm 2006 thiệt hại lớn
nhất: 18.565 tỷ đồng.
Thiệt hại do cơn bão
Xangsane vào tháng
10/2006 lên tới hơn 10
nghìn tỷ đồng
Đồ thị số 3 : Thiệt hại do thiên tai gây ra so với GDP: từ năm 1995 đến 2006
0.49%
2.94%
2.46%
0.50%
1.36%
1.15%
0.70%
0.37%
0.26%
0.14%
0.69%
cuốn trôi. Như vậy có thể thấy thiên tai, thảm hoạ đã làm giảm tốc độ phát triển kinh tế
Thiên tai ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục: Bão, lũ đã phá huỷ hàng trăm ngôi trường, hàng
nghìn thiết bị giáo cụ giảng dạy. Làm gián đoạn việc dạy và học. Học sinh và giáo viên thường
phải nghỉ học hàng tuần, thậm chí hàng tháng sau bão lũ. Làm sang chấn tâm lý học sinh khi có
người thân bị chết, hoặc thậm chí hàng năm đã có nhiều học sinh bị nước lũ cuốn trôi, đặc biệt là
đồng bằng sông Cửu Long. Trận lũ năm 200 đã làm chết mất 762 người, trong đó có tới 352 trẻ
13
14
em, chủ yếu tại đồng bằng sông Cửu Long, chiếm hơn 46% số người bị chết. Thiên tai đã làm
tăng sự tụt hậu của các tỉnh miền núi, miền trung và đồng bằng sông Cửu Long về giáo dục
Thiên tai làm gia tăng sự phân hoá mức sống dân cư, làm cản trở và làm chậm quá trình xoá đói
giảm nghèo, đặc biệt ở những vùng thường xuyên phải đối mặt với thiên tai. Trung bình mỗi
năm có hàng triệu lượt người cần cứu trợ do bị thiên tai. Nhiều người trong số họ vừa mới thoát
khỏi nghèo đói thì lại bị tái nghèo bởi thiên tai.
Thiên tai ảnh hưởng đến ngành du lịch và văn hoá: Thiên tai phú huỷ các công trình di tích lịch
sử và các danh lam thắng cảnh, làm giảm lượng khách du lịch vào Việt nam vào mùa mưa bão.
Các công trình di tích lịch sử sau mỗi mùa mưa bão xuống cấp nghiêm trọng và số tiền cần cho
việc tôn tạo lại là rất lớn (Huế, 2007)
Thiên tai còn gây nhiều ảnh hưởng bất lợi đối với các nhóm dân cư dễ bị tổn thương như người
già, yếu, người tàn tật, phụ nữ và trẻ em. Thiên tai làm gia tăng dịch bệnh, và chi phí cho khám
chữa bệng cũng như điều trị các bệnh do ô nhiễm nguồn nước ngày càng nhiều hơn. Trong vòng
5 năm 2000-2005, theo cơ sở dữ liệu của Văn phòng hỗ trợ quốc tế về thảm hoạ thiên tai/Trung
tâm nghiên cứu dịch tể về thảm hoạ, số người bị ảnh hưởng do thiên tai là 11.135.497. Có tới
1.815 người chết, 594 người bị thương. Có tới 76.045 người mất nhà
9
. Tuy vậy, so với 5 năm
trước (1996-2000), mặc dù thiên tai bão lũ, lốc xoáy có chiều hướng ác liệt hơn, nhưng thiệt hại
bị ngập lụt hàng năm. (Zeidler, 1998)
12
.
9
Bộ Y tế: Báo cáo y tế Việt Nam năm 2006: Công bằng, hiệu quả, phát triển trong tình hình mới, NXBYH. Tr104
10
Bộ Y tế: Báo cáo y tế Việt Nam năm 2006: Công bằng, hiệu quả, phát triển trong tình hình mới, NXBYH. Tr104
11
Cục Bảo vệ Môi trường: Hiện trạng môi trường Việt Nam, 2005. tr 33
12
UE và MWH: Báo cáo quốc gia: Gắn thích ứng khí hậu với quản lý rủi ro thiên tai cho mục đích giảm nghèo bền
vững, tr.14
15
1.6 Tính cấp thiết của việc lồng ghép giảm nhẹ thiên tai vào KH PTKTXH
Với đặc điểm tự nhiên và hậu quả do thiên tai như đã trình bày trên đây, nỗ lực quản lý rủi ro
thiên tai và lồng ghép giảm nhẹ rủi ro thiên tai vào quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội và phát triển ngành ở mọi cấp là điều vô cùng quan trọng và cấp thiết. Thông qua phân bổ
mục tiêu và ngân sách, những nỗ lực quản lý rủi ro thiên tai đó đang được thực hiện nhờ sự quan
tâm thúc đẩy của cả Chính phủ và sự hỗ trợ của quốc tế. Ở các quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng
của thiên tai như Việt Nam, những cú sốc thiên tai là nhân tố chính gây ra tính dễ bị tổn thương
cho người dân, cản trở những nỗ lực phát triển, và làm suy biến môi trường. Do vậy, kế hoạch
phát triển sẽ không thể thành công và bền vững nếu không tính đến việc lồng ghép giảm nhẹ rủi
ro thiên tai vào Kế hoạch phát triển Kinh tế- Xã hội của Quốc gia và kế hoạch của tất cả các
ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Lồng ghép rủi ro thiên tai vào lập kế hoạch phát triển KT-XH được hỗ trợ mạnh mẽ bởi khung
hành động Hyogo giai đoạn 2005 – 2015, trong đó nêu bật: “Các giai đoạn về cứu trợ, phục hồi
và tái thiết sau thiên tai là cơ hội để xây dựng lại sinh kế, lập kế hoạch và tái thiết các công trình
Cấp
1. Công ước Khung về Biến đổi khí hậu của UNDP 16/11/1994 Toàn cầu
2. Công ước biến đổi khí hậu toàn cầu Công ước quốc tế
3. Công ước Ramsar 1990 Công ước quốc tế
4. Chiến lược phòng chống giảm nhẹ thiên tai 11/2007 Quốc gia
5. Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững 2004 Quốc tế
6. Luật tài nguyên Môi trường 1998 Quốc gia
7. Luật bảo vệ môi trường Quốc hội thông qua năm 1993; 27/12/1993
8. Luật đê điều 2006 Quốc gia
9. Luật bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội thông
qua 2001
12/8/2001
Quốc gia
10. Luật tài nguyên nước được Quốc hội thông qua năm
1998;
20/5/1998; Quốc gia
11. Pháp lệnh số 26/2000/PL-UBTVQH10 của UBTVQH
về Đê điều
24/8/2000 Quốc gia
12. Pháp lệnh phòng chống bão lụt13 20/3/1993 Lệnh số 09/L-CTN
13. Pháp lệnh về Tình trạng khẩn cấp được UBTVQH ban 23/3/2000; Quốc gia
13
Pháp lệnh này đã được sữa đổi bổ sung một số điều đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 24
tháng 8 năm 2000
17
hành 2000
14. Nghị định số 08/2006/NĐ-CP14 Quốc gia
hướng dẫn việc thực hiện các văn bản pháp quy cũng như hướng dẫn đưa ra cơ chế phối hợp
giữa các bộ ngành trong việc phòng chống, giảm nhẹ thiên tai trong nhiều lĩnh vực khác nhau
như thuỷ lợi, đê điều, quản lý lưu vực sông, bảo vệ môi trường biển, đất ngập nước, bảo vệ tài
nguyên rừng.
Các chính sách xã hội nhằm giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương: Đảng và Chính phủ Việt
Nam luôn luôn quan tâm đến người nghèo, nhóm yếu thế, nhóm dễ bị tổn thương. Trong những
năm qua đã ban hàng nhiều văn bản chính sách về xoá đói giảm nghèo, về tăng cường công tác
chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo, phát triển hệ thống an sinh xã hội cho người nghèo, đặc
biệt là Chính sách bảo hiểm y tế toàn dân, với phương châm người khoẻ giúp người yếu, người
giàu giúp người nghèo, người trẻ giúp người già. Nhà nước có chính sách bao cấp hỗ trợ cho
người nghèo, người cao tuổi, người tàn tật gia đình chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.
Năm 2007, chính phủ đã có chính sách hỗ trợ 50-70% giá trị BHYT cho nhóm cận nghèo. Đồng
thời với:« Chính sách xoá nhà tranh tre dột nát » cũng góp phần giảm tình trạng dễ bị tổn
thương, nâng cao khả năng đối phó với thiên tai của người nghèo.
Chương trình 135, chương trình 134 là những chương trình Quốc gia nhằm giảm nghèo đã được
thực hiện trong suốt gần hai thập kỷ qua. Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc
gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010: Chương trình có ngân sách gần 3.500 tỉ đồng này đặt mục
tiêu giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 22% năm 2005 xuống còn 10-11% năm 2010. Mới đây, Thủ tướng
yêu cầu Ban chỉ đạo chương trình thực hiện quyết liệt mục tiêu trên ngay trong năm 2009.
Ngoài ra, đối với dân tộc thiểu số, Chính phủ đã có chính sách cấp đất sản xuất cho dân, để mỗi
hộ gia đình đều có đất canh tác.
Ngoài ra, để tăng cường sự tham gia của người dân, chính phủ đã ban hành nghị định 29, 76
(1998, 2003) về dân chủ cơ sở, tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình quản lý nhà
nước
Các tổ chức quốc tế cũng tham gia tích cực vào công cuộc xáo đói giảm nghèo, giúp nhân dân
Việt Nam tăng cường khả năng ứng phó với thiên tai qua nhiều dự án, chương trình phát triển
nông thôn khác nhau tại khu vực miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long
14
Quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh PCBL đã được bổ sung ngày 24 tháng 8 năm 2000
người già cô đơn, nữ chủ hộ, người khuyết tật, cũng như quan tâm đến vị trí cư trú: nhóm cư trú
gần những nơi nguy hiểm như dọc theo các con sông lớn, dọc theo ven biển, dọc theo những con
suối lớn…, hoặc đặc điểm nghề nghiệp như các nhóm có nghề nghiệp nguy hiểm như khai thác
đánh bắt thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản ven biển…
a. Dễ bị tổn thương về vật chất, gồm:
- Cộng đồng dân cư, nhà cửa, đất canh tác, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ cơ bản.v..v... xây
dựng/thực hiện không phù hợp tại các vùng thường bị ảnh hưởng của thiên tai/thảm hoạ.
- Thiếu các phương tiện sản xuất (đất đai, vật nuôi, cây trồng...).
- Thường xuyên thiếu lương thực.(nghèo đói)
- Thiếu các dịch vụ cơ bản như: giáo dục, y tế, nước sinh hoạt, thông tin liên lạc, đường
giao thông, nhà cửa...
b. Dễ bị tổn thương về mặt xã hội - tổ chức, gồm:
- Các mối quan hệ gia đình, họ hàng lỏng lẻo.(nhóm ly hôn, goá,bạo lực gia đình…)
- Thiếu bình đẳng trong sự tham gia vào các công việc của cộng đồng: bất bình đẳng giới
- Chia rẽ hoặc có sự xung đột vì lý do sắc tộc, địa vị xã hội, tôn giáo: các xã hội bất ổn về
chính trị, có xung đột, thiếu minh bạch về tài chính, tham nhũng....
- Người dân ít có cơ hội tham gia các hoạt động do thói quen, tập tục, hay thiếu cơ chế
tham gia...
- Thiếu các tổ chức, đoàn thể quần chúng tại cộng đồng hay có nhưng hoạt động kém hiệu
quả.
18
19
c. Dễ bị tổn thương về thái độ, động cơ, gồm:
- Có tư tưởng thụ động, phụ thuộc: Một bộ phận đáng kể phụ nữ nông thôn, phụ nữ dân
tộc thiểu số.
- Tư tưởng bi quan: Những người bị nhiễm HIV/AIDS, bị các căn bệnh hiểm nghèo, hoặc
những người sống trong những gia đình thường xuyên xẩy ra xung đột, bạo lực
hoạch, từ mục tiêu, chính sách, giải pháp, phân bổ ngân sách (chi đầu tư và chi thường xuyên),
tổ chức thực hiện đến theo dõi-đánh giá. Cốt lõi của việc lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai vào
chu trình lập kế hoạch phát triển KT-XH là phân bổ các nguồn lực hợp lý, đồng bộ giữa các
cấp các ngành và các địa phương cho mục tiêu phát triển có tính đến việc đáp ứng các yêu
cầu về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Tuy nhiên, bản thân kế hoạch là một văn kiện có
tính vĩ mô tổng hợp, chủ yếu gồm các chỉ tiêu định hướng kế hoạch và giải pháp lớn, nên không
thể hàm chứa hết các chi tiết của một chủ đề cụ thể như lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai (cũng
như nhiều chủ đề xuyên suốt khác cần có sự lồng ghép). Đây thực sự là một thách thức của việc
thực hiện lồng ghép.
Bất cứ động thái nào, của bất cứ ngành nào đều phải đưa vấn đề giảm nhẹ rủi ro thiên tai vào.
Các dự án, chương trình đều phải có thẩm định rủi ro thiên tai, kể cả về phương diện kinh tế lẫn
xã hội. (Trần Đình Dũng, chi cục trưởng chi cục thuỷ lợi Hà Tĩnh) 15
GS.TS Tô Duy Hợp An sinh xã hội tam nông- Một số vấn đề xã hội cơ bản. Tạp chí Xã hội học số 1-2006, tr.25
20
III. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ
Chiến lược Quốc gia về Phòng chống và Giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 đã thể hiện rõ quan
điểm, nhiệm vụ và giải pháp, đánh giá và tổ chức thực hiện về việc lồng ghép phòng, chống và
giảm nhẹ thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tê- xã hội:
• Một trong những quan điểm của Chiến lược là "nội dung phòng, chống và giảm nhẹ thiên
tai phải được lồng ghép trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của từng
vùng, từng lĩnh vực, quốc gia” (Điều 1, mục I.4)
• Chiến lược đã nêu rõ nhiệm vụ và giải pháp ”đảm bảo các yêu cầu về phòng, chống và
giảm nhẹ thiên tai trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội”
(Điều 1, mục IV.1.a)
• Chiến lược đã đề ra danh mục các chỉ tiêu đánh giá thực hiện, trong đó có chỉ tiêu «lồng
ghép nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch tổng thể, từng dự án cụ thể về phát
lược) được giao cho “Ban chỉ huy PCLB các cấp, Ban chỉ đạo PCLBTW” chủ trì, phối hợp với
“các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước”. Điều này dễ bị hiểu nhầm rằng đây là một loại hình
tập huấn chuyên biệt, cần có ngân sách riêng để thực hiện. Thực tế hiện nay đang có rất nhiều
chương trình đào tạo và tập huấn được triển khai tại các cộng đồng thường xuyên bị ảnh hưởng
của thiên tai do các cơ quan khác nhau thực hiện, như NN & PTNT (khuyến nông-lâm-ngư),
LĐTBXH (xóa đói giảm nghèo), GD-ĐT (chương trình giáo dục cho người lớn, thông qua các
Trung tâm học tập cộng đồng ở tất cả các xã)… Do đó, cần làm rõ yêu cầu đưa kiến thức về
quản lý rủi ro thiên tai vào các chương trình đào tạo tập huấn do các cơ quan này thực hiện tại
cộng đồng (chứ không chỉ đưa vào chương trình cho học sinh phổ thông).
213.1 Rà soát lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai vào KH PT KT-XH 5 năm
2006-2010 của quốc gia
Đánh giá mức độ lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai vào Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2006-
2010 của Việt nam (sau đây gọi là Kế hoạch 5 năm) quan tâm đến các khía cạnh (các bước) sau:
• Quy trình, phương pháp và các định hướng chủ yếu của kế hoạch - tiền đề cho sự lồng
ghép quản lý rủi ro thiên tai
• Đánh giá bối cảnh - tiên liệu những rủi ro thiên tai
• Mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu – yêu cầu lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai
• Các giải pháp và chính sách - mức độ lồng ghép các giải pháp, biện pháp quản lý rủi ro
thiên tai vào các giải pháp chính sách cho các ngành, lĩnh vực và các vùng lãnh thổ
• Phân bổ nguồn lực – định hướng đầu tư và danh mục các dự án ưu tiên đầu tư/kêu gọi
đầu tư có tính đến các yêu cầu quản lý rủi ro thiên tai
• Giám sát, đánh giá – các chỉ tiêu liên quan đến quản lý rủi ro thiên tai, tổ chức thực hiện
3.1.1 Quy trình, phương pháp và các định hướng chủ yếu của kế hoạch
Tiền đề cho việc lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai vào Kế hoạch 5 năm (hay nói cách khác là tạo
môi trường thuận lợi cho việc lồng ghép) xuất phát từ quy trình, phương pháp xây dựng kế
22
Bước 8: Xin ý kiến Quốc hội và tham vấn cộng đồng
Bước 9: Tiếp tục hoàn thiện dự thảo KHPTKTXH 5 năm 2006-2010
Bước 10: Trình quốc hội thông qua KHPTKTXH 5 năm 2006-2010.
Nguồn: TS. Hà Xuân Từ, Phó vụ trưởng Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Quá trình xây dựng văn kiện Kế hoạch 5 năm đã thu hút được sự đóng góp của nhiều cấp, nhiều
ngành, các chuyên gia, các tổ chức đoàn thể, hội nghề nghiệp và đại diện doanh nghiệp, người
Việt nam ở nước ngoài, sự đóng góp của các tổ chức tài trợ, tổ chức phi chính phủ trong nước và
quốc tế, cũng như lấy ý kiến tham vấn của người dân tại cộng đồng (do các tổ chức quốc tế tài
trợ, do tư vấn trong nước cùng với các đối tác địa phương đảm nhiệm thực hiện). Bộ KH&ĐT đã
tổ chức các hội thảo cấp vùng và cấp quốc gia, và đặc biệt là hội thảo về vấn đề Giới trong kế
hoạch 5 năm. Quá trình xây dựng Kế hoạch 5 năm được tất cả các bên đánh giá cao và đóng góp
nhiệt tình. Các nhà tài trợ đã lấy nội dung của Kế hoạch 5 năm làm cơ sở để xây dựng chiến
lược tài trợ cho Việt nam.
Tham vấn cộng đồng đối với dự thảo Kế hoạch 5 năm lần đầu tiên được thực hiện ở cấp quốc
gia. Đây là cơ hội cho người dân và cán bộ cơ sở tại các tỉnh nghèo, thường xuyên bị thiên tai
(Ninh Thuận, Thừa Thiên-Huế, Gia Lai, Quảng Trị, Hà Giang, Hòa Bình, Bến Tre…) trực tiếp
nói lên tiếng nói của mình về những mục tiêu, giải pháp nhằm phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói
giảm nghèo. Tổng hợp kết quả tham vấn tại các tỉnh đã nêu lên nhiều ý kiến thiết thực về các
biện pháp an sinh xã hội nhằm giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương do thiên tai gây ra.
Hộp số 2: Kết quả tham vấn dự thảo Kế hoạch 5 năm tại tỉnh Nỉnh Thuận
Các ý kiến đóng góp chính về mặt An sinh xã hội:
•
Bổ sung giải pháp Kết hợp giữa các biện pháp hỗ trợ sản xuất (về giống, vốn, kỹ thuật, thuỷ
lợi, cơ sở hạ tầng…), phòng tránh rủi ro trước khi xảy ra thiên tai, với các biện pháp cứu trợ
thường xuyên và cứu trợ đột xuất kịp thời khi đã xảy ra thiên tai (trên cơ sở xây dựng và
23
n tai.
ồng ghép quản lý rủi ro thiên tai bao gồm việc tiên lịệu những rủi ro
a, tần suất và mức độ ảnh hưởng, đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương
. Trong mục “khó khăn,
tin chi tiết về bối cảnh. Việc tiên liệu các rủi ro thiên tai, nếu có, sẽ
chuyên đề nhằm
ếu của Kế hoạch 5 năm cần tính
ng cho các giải pháp và phân bổ
phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời pháp phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường đi liền với tăng trưởng cao về kinh tế,
dành tỷ lệ đầu tư cao hơn cho các lĩnh vực xã hội và môi trường so với giai đoạn trước. Kế
hoạch đã tập trung hơn vào yêu cầu nâng cao chất lượng phát triển, đưa các chỉ tiêu dựa vào
kết quả của các Mục tiêu Thiên niên kỷ của Việt Nam (VDGs) đến 2010 vào trong bản kế hoạch.
Văn kiện kế hoạch xoay quanh ba trục “kinh tế - xã hội – môi trường” (trong đó các vấn đề xã
hội như xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, phát triển thanh niên, bảo vệ trẻ em và trợ giúp các
đối tượng yếu thế, và xây dựng hệ thống an sinh xã hội; các vấn đề phát triển môi trường và phát
triển bền vững… được bổ sung và bao quát hơn nhiều so với các kế hoạch trước đó), hoàn toàn
phù hợp với cách tiếp cận tổng thể về quản lý rủi ro thiên tai thông qua việc giảm nhẹ tình trạng
dễ bị tổn thương và nâng cao năng lực ứng phó của người dân và cộng đồng.
Tóm lại, quy trình, phương pháp và các định hướng chính của kế hoạch 5 năm 2006-2010, về
nguyên tắc, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc lồng ghép quản lý rủi ro thiê
3.1.2 Đánh giá bối cảnh
Đánh giá bối cảnh trong l
thiên tai có khả năng xảy r
để làm cơ sở cho việc đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp.
Trong văn kiện Kế hoạch 5 năm, phần đánh giá bối cảnh được viết vắn tắt dưới dạng “những
thuận lợi, cơ hội và khó khăn, thách thức trong bước phát triển mới”
Lưu ý rằng Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 ra đời muộn hơn nhiều so với
thời điểm xây dựng và thông qua Kế hoạch 5 năm. Trong Chiến lược có riêng một Phụ lục nêu đặc điểm các loại
hình thiên tai, các thành tựu và tồn tại trong công tác phòng chống thiên tai.