1
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Ngày nay, sự phát triển của mỗi quốc gia không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào
mức độ tăng trưởng kinh tế, sự phát triển khoa học-kĩ thuật mà còn phụ thuộc vào
chất lượng cuộc sống,vào sự giàu có cả vật chất lẫn tinh thần. Do đó,văn hóa
không thể thiếu trong chiến lược phát triển lâu bền của mỗi quốc gia.
Văn hóa với tư cách là động lực mục tiêu và hệ điều tiết của sự phát triển kinh tế-
xã hội.Văn hóa do con người sáng tạo ra, hướng con người đến sự phát triển toàn
diện về cái Chân-Thiện-Mỹ. Chính văn hóa làm cho con người nâng cao chất
lượng cuộc sống,làm cho con người thực sự có cuộc sống xứng đáng với con
người.Cùng với sự phát triển kinh tế và mức thu nhập bình quân đầu người tăng
cao,sức lao động và giá trị sản xuất đã chuyển dịch từ nông nghiệp sang công
nghiệp,rồi từ công nghiệp sang dịch vụ. Để thích ứng với điều đó,các loại hình
nguồn lực mà phát triển kinh tế trông chờ vào cũng thay đổi.Động lực chủ yếu để
thúc đầy phát triển kinh tế giờ đât không chỉ là sức lao động và tư bản nữa,bao
gồm cả tri thức,khoa học kĩ thuật và công nghệ Những tri thức đó mang sức
mạnh của nguồn lực trí tuệ,do đó không tách rời mà gắn liền với con người,với
năng lực và trình độ của chủ thể người -chủ thể sáng tạo văn hóa.Vấn đề văn hóa
đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm khi
khẳng định rằng : “Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự
phát triển kinh tế”.
Điều này đã khẳng định ở các kỳ đại hội IV,VII,VIII,IX ,X,XI của Đảng. Đại
hội IX khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,đây
vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”. Đại hội X
của Đảng đã nêu rõ: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa. Văn hóa
được kết tinh và thể hiện trong mọi yếu tố của hoạt động kinh tế. Đó là tri thức và
2
kiến thức,các quy tắc văn hóa-đạo đức, thói quen và tập quán, tôn giáo và tín
ngưỡng Thực chất của hoạt động kinh tế là con người sử dụng toàn bộ những tri
thức đã tích lũy được để tạo ra các giá trị vật chất mới.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề “ Nghiên cứu văn hóa Cồng chiêng Tây nguyên và ý
nghĩa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khoa học này đi sau vào tìm hiểu khái niệm: Văn hóa,phát triển,vai trò
của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đề tài khoa học này lý giải dưới
góc độ triết học về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế - xã hội trong tình hình
hiện nay.
4.Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nêu trên, đề tài khoa học đã dựa vào một
số cơ sở lý luận,phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử đó là: Phương pháp lịch sử - cụ thể, phân tích –tổng hợp, hệ thống
hóa – khái quát hóa
5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực
tiễn của đề tài: vai trò của nghiên cứu văn hóa Cồng chiêng Tây nguyên đối với sự
phát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong việc tìm hiểu và
nghiên cứu các vấn đề của văn hóa - xã hội.
6.Kết cấu của bài khoa học
4
Ngoài phần mở đầu,kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,nội dung của khóa
luận bao gồm 2 chương:
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA.
Chương II:ẢNH HƯỞNG ĐẾNSỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
CẢ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
5
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA
bon, làng có đông đồng bào các DTTS sinh sống.
Ở vào vị trí trung tâm của miền núi Nam Đông Dương, có những hành lang tự
nhiên thông với Nam Lào, Đông Bắc Campuchia; có hệ thống đường giao thông
liên hoàn nối với các tỉnh duyên hải miền Trung và Đông Nam bộ; có các cửa khẩu
quốc tế trên tuyến hành lang Đông - Tây và không quá xa các cảng biển nước sâu
như Dung Quất, Chân Mây, Nhơn Hội
Trong 5 tỉnh Tây Nguyên, 4 tỉnh có đường biên giới giáp với hai nước Lào và
Campuchia dài 554km (biên giới giáp với CHDCND Lào dài 135km, biên giới
giáp với Vương quốc Campuchia dài 419km). Nằm dọc trên toàn tuyến biên giới
có 29 xã thuộc 12 huyện của 4 tỉnh, với tổng số dân 124.000 người. Toàn tuyến
biên giới có năm cửa khẩu chính đi sang hai nước Lào, Campuchia; trong đó cửa
khẩu Bờ Y, thuộc huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum đi sang tỉnh Atôpư (Lào) và cửa
khẩu Lệ Thanh (huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai) sang tỉnh Rattanakiri (Campuchia) đã
được đầu tư xây dựng thành cửa khẩu quốc tế. Ba cửa khẩu khác đã khai thông
thành cửa khẩu quốc gia, gồm: Bu Prăng, Đăk Peur (tỉnh Đắk Nông) và Đăk Ruê
(tỉnh Đắk Lắk) đi sang tỉnh Mondulkiri (Campuchia) Hệ thống giao thông đã và
đang hình thành rộng khắp, vừa liên kết 5 tỉnh trong vùng, vừa nối Tây Nguyên với
các vùng khác trên tuyến hành lang Đông-Tây. Trong đó, có 10 tuyến quốc lộ với
tổng chiều dài gần 2.000km, 59 tuyến tỉnh lộ đã được nhựa hóa và cứng hóa. Có 3
sân bay đang hoạt động (Buôn Ma Thuột, Gia Lai, Liên Khương) được đầu tư,
7
nâng cấp, có thể tiếp nhận máy bay tầm trung (Airbus A320, A321) nối với các
trung tâm kinh tế lớn của đất nước là Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí
Minh.Sắp tới, đã có chủ trương của Chính phủ mở các tuyến đường sắt từ Bảo Lộc,
Gia Nghĩa đi cảng Thị Vải và từ Tuy Hòa (Phú Yên) lên Buôn Ma Thuột
Tây nguyên sinh vật là một trong những vùng có tính đa dạng sinh học rất cao
của Việt Nam.Rừng Tây Nguyên giàu về trữ lượng, đa dạng về chủng loại Trữ
lượng rừng gỗ chiếm tới 45% tổng trữ lượng rừng gỗ của cả nước. Diện tích rừng
Tây Nguyên là 3.015,5 nghìn ha chiếm 35,7% diện tích rừng cả nước. Các cây
dược liệu quí được tìm thấy ở đây như sâm bổ chỉnh, sa nhân, địa liền, thiên niên
nhau. Tài nguyên đất là yếu tố quan trọng để Tây Nguyên trở thành một vùng sinh
thái đặc thù có ưu thế lớn về nông nghiệp, rất thuận lợi để phát triển một nền nông
nghiệp đa dạng, với nhiều sản phẩm chủ lực như: cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, ngô
lai, bông vải, chè, rau, hoa, cây ăn trái.
Tuy nhiên diện tích đất trống đồi núi trọc chiếm tới 1,4 triệu ha và đang bị
thoái hoá nghiêm trọng (đất bazan thoái hoá tới 71,7%; diện tích đất bị thoái hoá
nặng chiếm tới 20%).
Tài nguyên khoáng sản ở Tây Nguyên khá đa dạng. Một số loại đã được điều
tra có trữ lượng lớn như: than bùn, than nâu, sét cao lanh, puzơlan. Đặc biệt là bô-
xít có trữ lượng rất lớn (dự báo khoảng 4,5 tỷ tấn) chiếm 91% trữ lượng bô-xít của
cả nước, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng. Theo đánh giá của hầu
hết các nghiên cứu về bô xít ở Tây Nguyên thì chất lượng quặng thuộc loại tốt nhất
ở nước ta và tương đối tốt so với các mỏ đang khai thác trên thế giới. Ở dạng
quặng nguyên khai, hàm lượng alumin (Al2O3) trung bình, các tạp chất bất lợi
(như SiO2, Fe2O3, TiO2) khá nhiều; nhưng sau khi đã tuyển rửa, chất lượng quặng
9
được nâng lên và hàm lượng Al2O3 trong quặng tinh tăng từ 48% lên 53%, thuận
lợi cho việc hòa tác ở nhiệt độ thấp theo công nghệ Bayer. Vì vậy, bô-xít ở Tây
Nguyên được đánh giá là có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp
nhôm-alumin. Nhóm khoáng sản kim loại có giá trị như sắt, wonfram, antimon,
chì, kẽm, vàng; nhóm đá quý như saphia, xircon, corindon, thạch anh hồng và
thạch anh tinh thể khá nhiều và phân bố đều ở các tỉnh. Vàng có 21 điểm vàng
trữ lượng khoảng 8,82 tấn phân bố ở Kon Tum, Gia Lai. Ngoài ra còn các loại đá
quí, các mỏ sét gạch ngói phân bố ở Chưsê - Gia Lai và Bản Đôn - Đắc Lắc, than
bùn và than nâu phân bố ở Biển Hồ, làng Bua, làng Vệ - Gia Lai, Chư Đăng - Đắc
Lắc. [theo atlat Việt nam xuất bản 2012]
Tây Nguyên còn là vùng đất lý tưởng để làm du lịch, bởi có những điều kiện
thuận lợi để tạo nên những sản phẩm đặc trưng, riêng biệt, hấp dẫn, thông qua khai
thác cảnh quan thiên nhiên, di tích văn hoá, lịch sử và di sản văn hóa tộc người. Về
du lịch sinh thái, có một hệ thống thắng cảnh và khu hệ động, thực vật rất hấp dẫn
và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát
mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao.
1.1.2 Kinh tế, xã hội và môi trường
1.1.2.1 Kinh tế
So với các vùng khác trong cả nước, điều kiện kinh tế - xã hội của Tây Nguyên
có nhiều khó khăn, như là thiếu lao động lành nghề, cơ sở hạ tầng kém phát triển,
sự chung đụng của nhiều sắc dân trong một vùng đất nhỏ và với mức sống còn
thấp. Tuy nhiên, Tây Nguyên có lợi điểm về tài nguyên thiên nhiên. Tây Nguyên
11
có đến 2 triệu hecta đất bazan màu mỡ, tức chiếm đến 60% đất bazan cả nước, rất
phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, tằm, trà. Cà phê là
cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên.Diện tích cà phê ở Tây Nguyên
hiện nay là hơn 290 nghìn ha, chiếm 4/5 diện tích cà phê cả nước. Đắk Lắk là tỉnh
có diện tích cà phê lớn nhất (170 nghìn ha) và cà phê Buôn Ma Thuột nổi tiếng có
chất lượng cao. Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam
Bộ, chủ yếu tại Gia Lai và Đắk Lắk. Tây Nguyên còn là vùng trồng dâu tằm, nuôi
tằm tập trung lớn nhất nước ta, nhiều nhất là ở Bảo Lộc Lâm Đồng. Ở đây có liên
hiệp các xí nghiệp ươm tơ xuất khẩu lớn nhất Việt Nam.
Việc phân bổ đất đai và tài nguyên không đồng đều cũng gây ra nhiều tranh
chấp. Trước đây, chính quyền có chủ trương khai thác Tây Nguyên bằng hệ thống
các nông lâm trường quốc doanh (thời kỳ trước năm 1993 là các Liên hiệp xí
nghiệp nông lâm công nghiệp lớn, đến sau năm 1993 chuyển thành các nông, lâm
trường thuộc trung ương hoặc thuộc tỉnh). Các tổ chức kinh tế này trong thực tế
bao chiếm gần hết đất đai Tây Nguyên. Ở Đắk Lắk, đến năm 1985, ba xí nghiệp
Liên hiệp nông lâm công nghiệp quản lý 1 058 000 hecta tức một nửa địa bàn toàn
tỉnh, cộng với 1 600 000 hecta cao su quốc doanh, tính chung quốc doanh quản lý
90% đất đai toàn tỉnh. Ở Gia Lai-Kon Tum con số đó là 60%. Tính chung, đến năm
1985, quốc doanh đã quản lý 70% diện tích toàn Tây Nguyên. Sau năm 1993, đã có
sự chuyển đổi cơ chế quản lý, nhưng con số này cũng chỉ giảm đi được 26% . Tài
nguyên rừng và diện tích đất lâm nghiệp ở Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ
nền văn hóa bản địa .
1.1.2.2 Xã hội
Nét nổi bật của các DTTS là đời sống xã hội mang tính cộng đồng cao. Trong
thiết chế cổ truyền, buôn làng của đồng bào là những đơn vị cơ sở xã hội duy nhất
và cao nhất (trên nó không còn một thiết chế nào khác), có nơi cư trú và nơi canh
tác riêng, có bến nước và nghĩa địa riêng, mặc nhiên được các buôn làng khác thừa
nhận. Do đó, mỗi buôn làng của đồng bào DTTS có thể coi là một đơn vị tự quản
13
riêng biệt và tương đối hoàn chỉnh. Chẳng hạn như trong cộng đồng tộc người Ê-
đê, đứng đầu buôn là Khoa pin ea, người được coi là chủ bến nước.
Ngoài việc quản lý bến nước, Khoa pin ea còn có nhiệm vụ quản lý, điều hành
mọi công việc về mặt dân sự, an ninh, thần quyền, đối ngoại. Ngoài ra, trong buôn
làng còn có những người điều hành toà án phong tục, phụ trách việc cúng bái, tế tự
và tầng lớp già làng - là những người có kinh nghiệm và uy tín về đạo đức, được
trưởng làng coi trọng. Bên cạnh đó, còn phải kể đến vai trò của những người am
hiểu về luật tục, người hoạt động tín ngưỡng hoặc chủ đất của các dòng họ.
Một trong những đặc trưng quan trọng, cơ bản nhất của buôn làng đồng bào
DTTS Tây Nguyên là chế độ tự quản vận hành theo luật tục. Đây là một dạng thức
văn hóa pháp luật có tính lịch sử nhất định nhưng cho đến nay vẫn còn giá trị. Luật
tục trong xã hội cổ truyền có thể tồn tại dưới udạng văn xuôi hay văn vần và được
truyền miệng từ dời này sang đời khác; nó đã trở thành máu thịt, thấm đẫm trong
mọi hành xử của cả cộng đồng. Trong xã hội cổ truyền thì luật tục có hiệu lực như
một sức mạnh để chế ước xã hội. Phạm vi điều chỉnh của luật tục khá rộng và
những điều răn trong luật tục có ý nghĩa to lớn đối với các thành viên. Ngoài ra, về
mặt văn hóa, luật tục cũng có thể coi là di sản văn hóa tộc người đặc sắc, phản ánh
những quan niệm, luật lệ, quy tắc của xã hội.
Các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có một nền văn hóa bản địa phong phú và đa
dạng, với những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể hết sức quý giá như đàn đá,
cồng chiêng cùng các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian, sinh hoạt cộng đồng
phong phú và kho tàng văn học dân gian đặc sắc Hiện nay, Tây Nguyên là nơi còn
(chiếm 34,7% dân số), gần 3.500 chức sắc-nhà tu hành, khoảng 840 cơ sở thờ tự
các loại. Những năm qua, số lượng tín đồ tôn giáo tăng nhanh theo tốc độ tăng dân
số. Đáng lưu ý là tín đồ người DTTS tăng lên rất nhanh, chủ yếu theo đạo Công
15
giáo và Tin lành. Hiện nay, tín đồ Tin lành người DTTS là 324.135 người, chiếm
89,3% tổng số người theo đạo Tin lành của toàn vùng; tín đồ Công giáo người
DTTS là 248.039 người, chiếm 30,9% tổng số người theo đạo Công giáo của toàn
vùng. Ngoài ra, có một số tôn giáo khác đã được công nhận hưng số lượng tín đồ
ít, như Bahai, Phật giáo Hòa Hảo.
Thời Pháp thuộc người Kinh bị hạn chế lên vùng Cao nguyên nên các bộ tộc
người Thượng sinh hoạt trong xã hội truyền thống. Mãi đến giữa thế kỷ 20
sau cuộc di cư năm 1954 thì số người Kinh mới tăng dần. Trong số gần một triệu
dân di cư từ miền Bắc thì chính phủ Quốc gia Việt Nam đưa lên miền cao nguyên
54.551 người, đa số tập trung ở Đà Lạt và Lâm Đồng. Từ đó nhiều dân tộc thiểu số
chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ
Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông Chính quyền Việt Nam Cộng hòa gọi chung những
dân tộc này là "đồng bào sắc tộc" hoặc "người Thượng"; "Thượng" có nghĩa là ở
trên, "người Thượng" là người ở miền cao hay miền núi, một cách gọi đặc trưng để
chỉ những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung. Danh từ này mới phổ
biến từ đó thay cho từ ngữ miệt thị cũ là "mọi".
Tính đến năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc,
trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 853.820 người (chiếm 69,7% dân số). Năm
1993 dân số Tây Nguyên là 2.376.854 người, gồm 35 dân tộc, trong đó đồng bào
dân tộc thiểu số là 1.050.569 người (chiếm 44,2% dân số). Năm 2004 dân số Tây
Nguyên là 4.668.142 người, gồm 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là
1.181.337 người (chiếm 25,3% dân số). Riêng tỉnh Đắc Lắc, từ 350.000 người
(1995) tăng lên 1.776.331 người (1999), trong 4 năm tăng 485%. Kết quả này, một
phần do gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng cơ học: di dân đến Tây
nguyên theo 2 luồng di dân kế hoạch và di dân tự do. Người dân tộc đang trở thành
thiểu số trên chính quê hương của họ.Sự gia tăng gấp 4 lần dân số và nạn nghèo
nước ), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl,
rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên, ), v.v.
Hiện tại, ở các vùng có cồng chiêng như ở Tây nguyên, Lễ hội Cồng
chiêng được tổ chức hàng năm là một hoạt động vừa có ý nghĩa bảo tồn bản sắc
văn hóa vừa là một sản phẩm du lịch ăn khách.
1.2.1 Lễ hội Cồng chiêng Tây Nguyên
Lễ hội cồng chiêng là một lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình thức luân
phiên tại các tỉnh có văn hoá cồng chiêng trong đó Đắk Lắk là một điểm quan
trọng và hay được chọn nhất do vị trí trung tâm văn hoá, chính trị, xã hội của khu
vực Tây nguyên nơi có nhiều cồng chiêng nhất ở Việt Nam.
Lễ hội được tổ chức nhằm quảng bá hình ảnh Không gian văn hóa Cồng
Chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản truyền khẩu và phi vật
thể nhân loại.Đó không những là một sự kiện quan trọng của người dân tây nguyên
mà còn cả với đất nước Việt Nam.Trong lễ hội nghệ nhân của các tỉnh sẽ trình bày,
biểu diễn không gian văn hoá của dân tộc và của tỉnh mình. Do mang đậm màu sắc
du lịch nên nó thường được giới thiệu trong các chương trình du lịch như của du
lịch Đắk Lắk. Những lễ hội dân gian đặc sắc của các dân tộc Tây Nguyên sẽ được
dựng lại, nhằm kêu gọi cộng đồng cùng chung sức bảo tồn và phát huy những giá
trị văn hóa của cư dân các dân tộc. Đồng thời giới thiệu với du khách những thành
tựu về kinh tế, văn hóa và tiềm năng du lịch của các dân tộc Tây Nguyên.Cũng
trong khuôn khổ của Festival, bên cạnh các hoạt động văn hóa còn hội chợ triển
lãm về công cụ sản xuất, đồ gia dụng và hàng thủ công mỹ nghệ của các dân tộc
Tây Nguyên.
18
“Một cảm giác hoành tráng, thiêng liêng sẽ trỗi dậy trong ta khi nghe dàn cồng
chiêng Gia Rai và Bahnar trình diễn” (GS Tô Ngọc Thanh). Đó chính là cảm giác
mà nhiều người đã trải nghiệm qua phần trình diễn của 40 nghệ nhân Bahnar với
dàn cồng chiêng tái hiện lễ Đâm trâu, Mừng nhà rông, Mừng lúa mới, Mừng đám
cưới, Mừng được mùa, Bỏ mả Cồng chiêng Tây nguyên là nơi tiết tấu và giai
điệu gặp nhau. Mỗi nhạc công chơi một nốt và một mô hình tiết tấu, kết hợp lại
Gõ vào vật ấy phát ra tiếng trầm vang động núi rừng khiến đàn thú dữ ngơ ngác.
Rồi các ụ đất liên tiếp mọc lên, mang theo các vật bằng đồng hình dáng tương tự
nhưng nhỏ dần, âm càng cao. Khi đã có trong tay hơn 10 chiếc chiêng, đồng thanh
gõ lên thì tiếng trầm như thác đổ, tiếng cao như thác reo khiến voi dữ phải chạy
vào rừng sâu
“Các tộc người Tây nguyên quan niệm nhạc cụ như con người - càng nhiều tuổi
tiếng nói càng được tôn trọng. Cồng chiêng càng lâu năm, trải qua nhiều lần nghi
lễ càng thiêng” (Phạm Nam Thanh).Những bộ chiêng tiếng hay và thiêng có giá trị
tính bằng 1-2 con voi hoặc 40 con trâu.Người B’Râu cho rằng chiêng tha (gồm hai
chiếc chồng và vợ) chính là tổ tiên của họ.Đánh chiêng họ gọi là gọ tha pơi, nghĩa
là “mời tha nói”. Thủ tục để mở một bài chiêng rất khắt khe, phải cho tha ăn, cho
tha uống, khấn mời trời đất và nhiều người đến chứng kiến Người Xêđăng Sdrá
có chiêng buàr duy nhất một chiếc - chủ nhân phải cất rất kỹ, sợ người ngoài hoặc
trẻ con không biết đem ra đánh thì khổ, sẽ bị già làng phạt nặng. Các dân tộc Tây
nguyên đều đặt tên chiêng trong một bộ theo vai vế như trong một gia đình và phân
biệt chiêng thiêng (có Yàng trú ngụ) với chiêng thường để dùng trong các dịp lễ
trọng hoặc sinh hoạt thường ngày. Có bộ chiêng chỉ được đánh khi có vật hiến sinh
từ bò trở lên.
1.2.2 Giá trị của văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên đối với dân tộc và thế giới
20
1.2.2.1 Đối với dân tộc
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum,
Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc
sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm,
Êđê, Giarai Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên,
là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong
cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.
Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc
đồng đen. Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ,
đường kính từ 20cm đến 60cm, loại cực đại từ 90cm đến 120cm. Cồng chiêng có
chiêng.
Cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hóa mang đậm dấu ấn thời gian và
không gian. Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âm cho đến hệ
thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải
nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa
tuyến Trong đó bảo lưu cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển âm nhạc
từ thời kỳ sơ khai.ở đây, mọi giá trị nghệ thuật đều nằm trong mối quan hệ tương
đồng và dị biệt, xác định cá tính vùng miền của nghệ thuật. Và, với sự phong phú,
độc đáo và đa dạng từ toàn bộ đến từng phần, có thể khẳng định vị trí đặc biệt của
cồng chiêng Tây Nguyên trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.
Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người
chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác.Từ việc
chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người
dân dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu
luyện tuyệt vời.Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài
22
sản vô giá.Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ
thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn
thiêng sông núi qua bao thế hệ. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về
mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là "tiếng
nói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh".
Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất
lâu đời.Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là "hậu duệ" của
đàn đá.trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá,
chiêng đá tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng Từ thuở sơ khai,
cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín
ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên âm thanh khi ngân nga sâu lắng,
khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng
người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội
trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng
tả vẻ đẹp thiên nhiên, khát vọng của con người Người Giarai có các bài chiêng
Juan, Trum vang Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi
Âm thanh của cồng chiêng còn là chất men lôi cuốn gái trai vào những điệu
múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của buôn làng.Đây là sinh
hoạt văn hóa dân gian nổi bật nhất ở nhiều dân tộc Tây Nguyên.
Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người
chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác.Từ việc
chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người
dân dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu
luyện tuyệt vời.Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài
sản vô giá.Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ
24
thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn
thiêng sông núi qua bao thế hệ. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về
mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là "tiếng
nói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh".
Mỗi một dàn cồng chiêng là tiếng nói tâm linh, tâm hồn của người Tây
Nguyên, để diễn tả những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống lao động và sinh
hoạt hàng ngày của họ. Các tộc người ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng
theocách thức riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộc mình. Trải qua bao
năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hoá đặc trưng, đầy sức quyến rũ.
Cồng chiêng chính là cuộc sống của người Tây Nguyên. Nghe cồng chiêng thì thấy
được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội Tây Nguyên….
Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những đặc trưng riêng của cồng chiêng.
Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ, hoặc dùng theo dàn, theo bộ từ 2 đến 12
chiếc, cũng có bộ 18 đến 20 chiếc như bộ chiêng của người Giarai. Dàn cồng
chiêng Tây Nguyên được tổ chức như một dàn nhạc có thể diễn tấu những bản
nhạc đa âm với các hình thức hòa điệu khác nhau.Điều đặc biệt trong dàn nhạc này
mỗi người chỉ đánh một chiếc cồng, hoặc chiêng (cồng là loại có núm, chiêng
không có núm).
Từ ngày không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là kiệt
tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, du lịch Tây Nguyên lại
có thêm một sản phẩm du lịch riêng, thu hút ngày càng đông khách du lịch đến với
Tây Nguyên, đến với sản phẩm du lịch độc đáo này. Trong lễ công bố Văn hóa
Cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại, ông
Koichiro Matsuura - Tổng Giám đốc UNESCO đã phát biểu: “Tôi đã được thưởng
thức loại hình âm nhạc cồng chiêng rất riêng của Việt Nam và cũng được thấy