Nêu và phân tích ảnh hưởng của sự phát triển dân số đến sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam - Pdf 23

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nêu và phân tích ảnh hởng của sự phát triển dân số
đến sự phát kinh tế xã hội ở việt nam
________________
Lời mở đầu.
Cho đến nay, Việt Nam vẫn là một nớc nông nghiệp chậm phát triển quy
mô dân số lớn, tốc độ tăng dân số cao. Thời kỳ Hùng Vơng dựng nớc, dân số
Việt Nam mới khoảng một triệu ngời. Nhng trong thế kỷ 20, dân số nớc ta tăng
rất nhanh. Năm 1945 mới có 23 triệu ngời; 1960: 30 triệu ngời; 1979: gân 53
triệu; 1989: trên 64 triệu; 1999: trên 76 triệu và đến nay đã trên 80 triệu. Sự gia
tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc
độ phát triển kinh tế xã hội, gây khó khăn cho việc cải thiện đời sống, hạn
chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi. Nếu xu
thế này cứ tiếp tục diễn ra thì tơng lai không xa đất nớc ta sẽ đứng trớc những
khó khăn rất lớn, thậm chí gây ra những nguy cơ về nhiều mặt. Các quan điểm
trên thế giới hầu hết đều cho rằng giữa dân số và kinh tế luôn có mối quan hệ t-
ơng tác theo cả hai chiều. Trong hoàn cảnh này thì dân số tăng sẽ có lợi về kinh
tế những trong hoàn cảnh khác thì ngợc lại vì phát triển kinh tế không chỉ đơn
thuần dựa vào nguồn nhân lực.
Dân số vừa là lực lợng sản xuất, vừa là lực lợng tiêu dùng. Bởi vậy, quy
mô, cơ cấu dân số có ảnh hởng lớn đến quy mô, cơ cấu sản xuất tiêu dùng và
tích luỹ của xã hội.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần I : Thực trạng dân số Việt Nam
Ngày dân số thế giởi năm nay đến với nớc ta trong niềm tự hào và phấn
khởi bởi những thành tựu của sự nghiệp đổi mới. Đúng vào lúc dân số thế giới
đạt tới con số 3 tỷ ngời và dân số Việt Nam vừa vợt qua con số 30 triệu ngời thì
Chính phủ Việt Nam ban hành quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 về việc
sinh đẻ có hớng dấn với mục đích: Vì sức khoẻ của bà mẹ, vì hạnh phúc và hoà
thuận trong gia đình và để nuôi dạy con cái đợc chu đáo, việc sinh đẻ của nhân

dân số của Việt Nam còn thấp. Các tổ chất về thể lực của ngời Việt Nam hiện
nay còn hạn chế, đặc biêt là chiều cao, cân nặng, sức bền. Năm 1998, tỷ lệ trẻ
em sơ sinh cân nặng dới 2500 gam chiếm 8%. Năm 1999, tỷ lệ trẻ em dới 5 tuổi
suy dinh dỡng cao chiếm 36,7%. Đáng lu ý là vẫn còn 1,5% số dân bị thiểu
năng về trí lực và thể lực. Tính đến ngày 1/4/1999 cả nớc vẫn còn 6,8 triệu ngời
từ 10 tuổi trở lên cha bao giờ đến trờng, trong đó có 5,3 triệu ngời không hoàn
toàn biết chữ. Tỷ lệ số ngời đã qua đào tạo nghề nghiệp và chuyên môn kỹ thuật
chiếm 7,6% dân số từ 13 tuổi trở lên, trong đó có 2,3% là công nhân kỷ thuật và
nhân viên nghiệp vụ có bằng cấp, 2,8% có trình độ trung học chuyên nghiệp;
0,7% cao đẳng; 1,7% đại học và 0,1% có trình độ trên đại học. Tuy nhiện, cũng
cần thấy rằng những kết quả đạt đợc của công tác dân số kế hoạch hoá gia đình
còn cha thực sự vững chắc, thể hiện ở việc giảm chẩm tỷ lệ sinh con thứ 3, cơ
cấu sử dụng các biện pháp tránh thai còn cha hợp lý, chất lợng dịch vụ kế hoạch
hoá gia đình còn cha cao, do đó dẫn đến tỷ lệ nạo phá thai còn cao, tỷ lệ tai biến
và thất bại còn ở mức đáng lo ngại.
Từ đó, chúng ta có thể rút ra đặc điểm cơ bản của dân số nớc ta là:
- Quy mô dân số quá lớn với 87 triệu dân, nớc ta xếp thứ 13 trên thế
giới về quy mô dân số. Mật độ dân số thì nớc ta còn gấp đôi thế giới,
gấp 6 lần mật độ mà các nhà khoa học thế giới cho là hợp lý. Dân
số nớc ta lại phát triển nhanh, từ năm 1921 đến 1975, dân số nớc ta
tăng gấp 5 lần, trong khi thế giới tăng khoảng 3 lần.
- Cơ cấu dân số trẻ: hiện nay tỷ lệ trẻ em 14 tuổi trở xuống của nớc ta
chiếm 33% trong khi Nhật Bản khoảng 16%.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Dân số phân bố không đều và chủ yếu tập trung ở nông thôn, chỉ có
23% dân số sông ở đô thị.
- Quy mô dân số lớn nên lực lợng lao động dồi dào, Việt Nam vừa có
khả năng phát triển toàn diện các ngành kinh tế, vừa có thể chuyên
môn hoá lao đông sâu sắc, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động,

thành thị/nông thôn và theo giới tính ở Việt Nam năm 1999.
Đơn vị: 1000 ngời.
Thành thị/
Nông thôn
Nam Nữ Tổng số
Số lợng
Tỷ lệ
(%)
Số lợng
tỷ lệ
(%)
Số lợng
tỷ lệ
(%)
Nông thôn 14.330 77,4 13.796 79,6 28.126 78,5
Thành thị 4.178 22,6 3.543 20,4 7.721 21,5
Tổng số 18.508 100.0 17.339 100.0 35.847 100.0
Sự già hoá rõ nét của lực lợng lao động trong 10 năm qua đợc thể hiện qua biểu
1.2: Phân bố phần trăm dân số có việc làm chia theo nhóm tuổi trong năm 1989
và 1999 Đơn vị: Tỷ lệ %
Nhóm tuổi 1989
1999
Nam Nữ Tổng
15 24 30,5 24,2 27,1 25,6
25 34 32,6 31,9 29,6 30,8
35 44 17,4 24,8 24,9 24,9
45 54 10,8 11,4 11,5 11,4
Trên 55 8,7 7,7 6,9 7,3
Tổng số 100.0 100.0 100.0 100.0
Về mức tăng tuyệt đối, nêu trong 5 năm từ 1976 đến 1986, bình quân mỗi

tới. Điều đó đã gây ra sức ép rất lớn về giải quyết việc làm, làm phát sinh mâu
thuẩn căng thẳng giữa khả năng tạo việc làm còn hạn chế với nhu cầu giải quyết
việc làm ngày càng tăng.
Hai là, xét về mặt cơ cấu ngành nghề, trong quá trình CNH HĐH, lao
động nông nghiệp có xu hớng giảm dần, còn lao động trong khu vực công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ đang tăng lên, song cho đến nay Việt Nam vẫn con
có một cơ cấu lao động theo ngành hết sức lạc hậu, lao động chủ yếu làm việc
trong khu vực nông, lâm, ng nghiệp. Việc cải thiện cơ cấu lạc hậu này diễn ra rất
chậm chạp. Điều này phụ thuộc nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố mức sinh
ở nông thôn luôn luôn cao khoảng gấp đôi ở thành phố. Do vây, lao động tích tụ
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ở đây cũng ngày một nhiều và tỷ trọng giảm chậm, mặc dù đã diễn ra luồng di
dân mạnh mẽ từ nông thôn ra đô thị, kèm theo sự chuyển đổi ngành nghề.
Trong nông nghiêp, trong khi số dân và lao động khu vực tăng lên nhanh
chóng thì quỹ đất canh tác lại có hạn. Hơn nữa, quá trình CNH đất nớc càng
diễn ra mạnh mẽ thì đất nông nghiệp ngày càng phải chuyển giao cho công
nghiệp, dịch vụ, các công trình công cộng khác. Diện tích đất nông nghiệp bình
quân đầu ngời không ngừng giảm xuống trong thời gian qua. Năm 1921 bình
quân 0,4 ha/ngời, năm 1993 còn 0,098 ha/ngời. Bình quân hộ giàu ở nông thôn
Việt Nam mới có 1,2 ha đất canh tác trong khi ở Mỹ là 80 ha, ở châu Âu là 9
ha.
Sức ép của dân số, lao động trên đất đai hạn hẹp gây ra tình trạng thiếu việc
làm phổ biến. Lao động nông nghiệp làm việc theo mùa vụ, mà ruộng đất là t
liệu sản xuất chính có ít nên số ngày công của lao động trong năm thờng rất thấp
(187 ngày/ năm). Hiện tại hình thức kinh tế trang trại đang đợc Nhà nớc khuyến
khích phát triển cũng gặp nhiều khó khăn khi diện tích đất đai bình quân của các
hộ gia đình ngày càng bị thu hẹp. Thêm nữa là tình trạng khó khăn trong tạo
việc làm ở các ngành khác đã dẫn tới hiện tợng tồn đọng thêm lao động nông
thôn vào khu vực nông nghiệp. Năm 1997, có tới 7.358,199 ngời từ 15 tuổi trở

nớc
Tập
thể
T
nhân
Cá thể
Hỗn
hợp
100% vốn
nớc ngoài
Tổng
số
Thành thị 27,0 5,8 1,9 60,7 3,3 1,3 100,0
Nông thôn 9,8 32,8 0,4 61,1 0,3 0,3 100,0
Tổng số 9,8 27,0 0,7 61,0 1,0 0,5 100,0

Dân số có việc làm: Hiện tại, chất lợng lao động thấp, cơ cấu đào tạo nghề
không hợp lý, phân bố không phù hợp là những nhân tố quan trọng cùng với yếu
tố thiếu vốn, khủng hoảng tài chính, tiền tệ gây khó khăn trong quá trình tạo
thêm việc làm trong khu vực công nghiệp, dịch vụ. Tỷ lệ công nhân kỹ thuật đợc
đào tạo ở nớc ta còn thấp, chỉ chiếm 4,37% lực lợng lao động và một nửa trong
số đó tuy đã đợc đào tạo nhung không có bằng.
So với các nớc trên thế giới và trong khu vực, tỷ lệ thất nghiêp của Việt Nam
hiện nay tơng đối cao và không ổn định (năm 1996: 5,62%, năm 1997:5,81%)
và tập chung ở những vùng đông dân hay các đô thị lớn
Bảng 1.4: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động Việt Nam phân theo vùng.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đơn vị: Tỷ lệ %.
Năm

9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phần lớn lao động d thừa, cung cầu lao động bất cân đối, phản ứng của cung với
cầu lao động rất thấp, tiền lơng, tiền công của đại bộ phận lao động làm công ăn
lơng mới chỉ đảm bảo mức sống tổi thiểu.
Đến đây, chúng ta đã có một bức tranh khá đầy đủ về nguồn lao động nớc
ta. Nguồn lao động nớc ta có đặc điểm trí, khoẻ trong những điều kiện và môi tr-
ờng thuận lợi đã tỏ rõ sự nhanh nhạy, thông minh, tháo vát,... nhng nhìn chung
chất lợng còn thấp, nhiều mặt đang ở mức báo động. Tất cả những điều trên đã
gây ra những khó khăn lớn trong việc đáp ứng những nhu cầu để phát triển kinh
tế xã hội, đặc biệt trong việc giải quyết sắp xêp việc làm cho ngời lao động.
Thực tế cho thấy, ở các địa phơng có tỷ lệ tăng dân số cao kinh tế xã hội
cũng thờng chậm phát triển, chất lợng nguồn nhân lực thấp. Đời sống của ngời
lao động và dân c tại các địa phơng này chậm đợc cải thiện, thể hiện ở thu nhập
bình quân/ngời/ năm thấp so với mức bình quân chung cả nớc (năm 2000 cả nớc
thu nhập bình quân đầu ngời là 651,5 nghìn đồng thì Hoà Bình: 383,7
nghìnđồng; Gia Lai: 499,2 nghìn đồng, ...), số hộ có thu nhập thấp không có
điều kiện để đầu t phát triển vốn nhân lực.
Quá trình CNH HĐH sẽ tạo thêm nhiều việc làm trong các ngành nghề
mới với công nghệ và quản lý hiện đại (đặc biệt là khu công nghệ cao), đòi hỏi
chất lợng nguồn nhân lực phải đổi mới, nâng cao để thoã mãn nhu cầu phát
triển. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, tính cạnh tranh kinh tế, nâng cấp
công nghệ và nhu cầu đào tạo lại ngời lao động ngày càng tăng, dẫn đến sự biến
động và tình trạng thất nghiệp thờng xuyên. Do đó, chất lợng dân số, suy cho
cùng là chất lợng nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đối với khả năng tìm
việc làm và tạo việc làm. Cơ hội việc làm đối với lao động có kỹ năng cao hơn
rất nhiều so với lao động không có kỹ năng. Các mối quan hệ dân số, việc làm
đã đợc các nhà kinh tế nớc ngoài tổng kết với tính quy luật nh sau:
+ Tăng dân số kéo theo tăng nhu cầu việc làm để thoã mãn sự tăng thu nhập và
tiêu dùng của số lợng ngời phải nuôi có quy mô và tăng nhanh trong dân số,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status