nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 23

ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn trung và dài hạn
hiệu quả cho nền kinh tế nhằm tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh góp
phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
- Trong quá trình phát triển, thị trường chứng khoán chịu nhiều tác động
từ các nhân tố của nền kinh tế, do đó thị trường chứng khoán phản ánh một
cách nhạy bén những biến đổi “sức khỏe” của nền kinh tế, từ đó cho thấy
những chính sách quản lý vĩ mô trên thị trường có tầm ảnh hưởng rất lớn tới
sự bình ổn và phát triển của thị trường.
- Quản lý Nhà nước giúp thị trường chứng khoán phát triển ổn định tạo
uy tín cho thị trường, thúc đẩy thị trường đi đúng xu hướng và xu thế hội nhập
quốc tế, từng bước thực sự trở thành một kênh phân phối và huy động vốn
hiệu quả cho nền kinh tế nước nhà.
- Thị trường chứng khoán Việt Nam sau 10 năm hình thành và phát triển
đã đóng góp rất nhiều trong công cuộc cổ phần hóa các DNNN và huy động
vốn cho nền kinh tế, tuy nhiên trong quá trình phát triển thị trường chứng
khoán Việt Nam vẫn cồn bộc lộ rất nhiều hạn chế và là thị trường non trẻ so
với khu vực và thế giới. Đứng trước ngưỡng cửa hội nhập , thị trường chứng
khoán Việt Nam cần không ngừng được củng cố và hoàn thiện về quy mô, cơ
cấu và cơ chế vận hành, Do đó, để giải quyết từng bước các vấn đề trên việc
nâng cao quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán là công việc thiết
yếu.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chứng khoán, TTCK và quản lý
Nhà nước đối với TTCK.
- Phân tích sự phát triển của thị trường chứng khoán trong những năm

- Tìm hiểu cách quản lý Nhà nước đối với TTCK của một số nước trên
thế giới từ đó rút kinh nghiệm đưa ra một số bài học đối với Việt Nam.
3
6. Kết cấu luận văn:
Tên đề tài: “Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng
khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được
trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thị trường chứng khoán và quản
lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng
khoán việt nam, sự cần thiết phải nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối
với TTCK
Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với thị
trường chứng khoán Việt Nam
4
Chương i:
Những vấn đề chung về thị trường chứng khoán và quản lý nhà
nước đối với thị trường chứng khoán
1.1. Những vấn đề cơ bản của thị trường chứng khoán
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK
Những dấu hiệu của một thị trường chứng khoán sơ khai đã xuất hiện
ngay từ thời Trung cổ xa xưa. Vào thế kỷ XV, ở các thành phố lớn của các
nước phương Tây, trong các phiên chợ, các thương gia thường gặp gỡ tiếp
xúc với nhau tại các quán cafe để thương lượng mua bán, trao đổi hàng hóa.
Đặc điểm của hoạt động này là các thương gia chỉ trao đổi bằng lời nói với
nhau về các hợp đồng mua bán mà không có sự xuất hiện của bất cứ hàng
hóa, giấy tờ nào. Đến cuối thế kỷ XV, “khu chợ riêng” đã trở thành thị trường
hoạt động thường xuyên với những quy ước xác định cho các cuộc thương
lượng. Những quy ước này dần dần trở thành các quy tắc có tính chất bắt

cách thức cơ bản: theo hàng hoá giao dịch trên thị trường, theo hình thức tổ
chức thị trường và theo quá trình luân chuyển vốn.
1.1.2.1. Theo hàng hoá giao dịch trên thị trường
Theo tiêu thức này ta phân chia thị trường chứng khoán thành thị trường
trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường của các công cụ chứng khoán
phái sinh.
Thị trường trái phiếu: thị trường diễn ra mua bán các công cụ tài chính là
trái phiếu.
Thị trường cổ phiếu: thị trường diễn ra mua bán các công cụ tài chính là
cổ phiếu.
Thị trường của các công cụ chứng khoán phái sinh: thị trường diễn ra
mua bán các công cụ tài chính là chứng khoán phái sinh.
6
1.1.2.2. Theo hình thức luân chuyển vốn
Theo hình thức này, thị trường chứng khoán được phân thành thị trường
sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp (thị trường cấp I) là thị trường mua bán các chứng
khoán mới phát hành. Mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp sẽ làm
tăng vốn cho nhà phát hành.
Thị trường thứ cấp (thị trường cấp II) là thị trường giao dịch mua bán,
trao đổi những chứng khoán đã được phát hành. Mua bán chứng khoán trên
thị trường làm tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành trên
thị trường cấp I.
Mối quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp về bản chất đây
là mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau:
- Thị trường sơ cấp là cơ sở, tiền đề cho thị trường thứ cấp hoạt động và
phát triển vì đây là nơi cung cấp hàng hóa cho TTCK. Nếu không có thị
trường sơ cấp sẽ không có hàng hóa trên thị trường thứ cấp, không có nhiều
loại chứng khoán để thu hút các nhà kinh doanh bỏ vốn đầu tư. Ngược lại nếu
không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp cũng không thể tồn tại và

chóng của nền kinh tế. Chức năng cơ bản của TTCK là công cụ huy động vốn
đầu tư cho nền kinh tế và tăng tiết kiệm quốc gia thông qua việc phát hành và
luân chuyển chứng khoán có giá. Việc mua đi bán lại chứng khoán trên TTCK
đã tạo điều kiện di chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn, chuyển hướng
đầu tư từ ngành kém hiệu quả sang ngành khác có hiệu quả hơn từ đó góp
phần điều hòa vốn giữa các ngành kinh tế.
Thứ hai, thị trường chứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối công
bằng hơn, thông qua việc buộc các công ty phát hành ra công chúng theo một
tỷ lệ nhất định. Điều này làm giải tỏa sự tập trung quyền lực kinh tế vào một
nhóm nhỏ, tạo sự cạnh tranh công bằng hơn từ đó nâng cao tính hiệu quả
8
trong đầu tư sản xuất. Bên cạnh đó còn làm tăng tầng lớp trung lưu trong xã
hội, tăng cường sự giám sát xã hội đối với hoạt động của công ty.
Thứ ba, thị trường chứng khoán tạo điều kiện thu hút và kiểm soát vốn
đầu tư nước ngoài. Với nguyên tắc công khai, thị trường chứng khoán là nơi
các nhà đầu tư có thể theo dõi và nhận định một cách dễ dàng hoạt động của
ngành, các doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, thị trường chứng khoán còn
thu hút vốn thông qua mua bán chứng khoán, từ đó tạo môi trường đầu tư
thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ tư, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho Chính phủ huy động
các nguồn tài chính mà không tạo áp lực về lạm phát từ đó giúp Chính phủ
thực hiện các chính sách tiền tệ. Thông qua thị trường chứng khoán Chính
phủ có thể vừa huy động được lượng vốn lớn với thời hạn dài để bù đắp thâm
hụt Ngân sách vừa có thể quản lý được lạm phát. Sở dĩ làm được vậy là vì thị
trường chứng khoán không những tạo tính thanh khoản mà còn tạo ra tính linh
hoạt trong việc chuyển hướng đầu tư từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Vì
vậy, thị trường chứng khoán được xem là công cụ đắc lực trong việc huy
động các nguồn vốn dài hạn.
Thứ năm, thị trường chứng khoán là công cụ đánh giá hoạt động kinh
doanh và là phong vũ biểu của nền kinh tế. Thị giá chứng khoán được thể

sự phát huy hay bị hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia thị
trường.
1.1.4. Các chủ thể tham gia trên thị trường
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được
chia thành 3 nhóm sau: chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư và các tổ chức có
liên quan đến chứng khoán.
1.1.4.1. Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành là tổ chức phát hành chứng khoán trên thị trường
chứng khoán. Các tổ chức phát hành có thể là: Chính phủ, các doanh nghiệp
hoặc là một số tổ chức khác nh: Quỹ đầu tư, tổ chức tài chính trung gian
10
Chính phủ và chính quyền địa phương là chủ thể chủ yếu phát hành các
chứng khoán nợ nh: Trái phiếu Chính phủ; Trái phiếu địa phương; trái phiếu
công trình; tín phiếu kho bạc.
Công ty là chủ thể phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
Các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính nh các
trái phiếu, chứng chỉ quỹ phục vụ cho mục tiêu huy động vốn và phù hợp
với đặc thù hoạt động của họ theo luật định.
1.1.4.2. Nhà đầu tư
Trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư có thể được chia thành hai loại:
nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
- Các nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình, những người có vốn
nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục
đích tìm kiếm lợi nhuận.
- Các nhà đầu tư có tổ chức
Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán
chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Thông thường, nhà đầu tư tổ
chức là các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty đầu tư, các
công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã

một số nước không cho phép thành lập các tổ chức này.
- Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụ
đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo
những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát
hành cụ thể. Hệ số tín nhiệm có thể biểu hiện bằng các chữ cái hay chữ số, tuỳ
theo quy định của từng công ty xếp hạng
12
1.2. Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán
1.2.1 Khái niệm
Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà
nước lên đối tượng quản lý nhằm dẫn dắt đối tượng đi đến mục tiêu với kết
quả và hiệu quả cao nhất trong điều kiện môi trường luôn biến động.
Nh vậy: “Quản lý Nhà nước đối với TTCK của một quốc gia là sự quản
lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động xây dựng, vận hành và phát
triển của TTCK”.
Quá trình hình thành và mức độ phát triển phức tạp, đa dạng của TTCK
và điều kiện cụ thể của mỗi nước dẫn đến sự đa dạng trong cơ chế và mức độ
quản lý thị trường. Trong khi hầu hết các TTCK ở các nước phát triển được
hình thành từ khu vực tư nhân nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, do
các cá nhân đứng ra tổ chức, vận hành và tự quản thì ngược lại, ở các nước
đang phát triển TTCK thường do Chính phủ đứng ra thành lập với những mục
đích cụ thể như hỗ trợ huy động vốn, tư nhân hoá hay thực hiện các mục tiêu
kinh tế khác của Nhà nước. Do vậy, Chính phủ đóng vai trò chính trong việc
tổ chức và quản lý thị trường.
1.2.2 Mục tiêu quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán
1.2.2.1. Đảm bảo sự trung thực của thị trường
Tính trung thực của thị trường sẽ tạo tâm lý bình ổn cho các đối tượng
tham gia, từ đó ổn định được thị trường. Muốn vậy cần phải hạn chế và kiểm
soát được gian lận, phải ngăn chặn các hành vi lừa đảo, lũng đoạn thị trường,

của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý. Ở hầu hết
các nước đang phát triển, các chủ thể quản lý thị trường chứng khoán có hai
chức năng chính: duy trì sự hoạt động ổn định của thị trường; tạo điều kiện để
phát triển thị trường, làm cho thị trường có thể cạnh tranh và thích ứng với
mọi thay đổi trong xã hội.
Với chức năng ổn định thị trường tức là phải tạo lập một thị trường có kỷ
luật, an toàn, trật tự, Ýt rủi ro thì các nhà quản lý phải xác định được nên cho
14
phép đối tượng nào tham gia thị trường, tiêu chuẩn tham gia gồm những yếu
tố gì, xác định phải quản lý cái gì và giám sát cái gì. Với chức năng phát triển
thì các nhà quản lý phải tạo động lực thúc đẩy thị trường. Các chức năng này
được sử dụng vào hoàn cảnh khác nhau, tuy nhiên trong hoạt động quản lý
Nhà nước thì các chức năng này thường được áp dụng một cách đồng bộ.
Hoạt động quản lý nhà nước đối với TTCK được cụ thể hoá ở một số
nhiệm vụ sau:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TTCK; xây dựng chiến
lược, chính sách, kế hoạch hoạt động và phát triển TTCK với từng bước đi cụ
thế và thích hợp với điều kiện văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, dân trí và các
điều kiện khác.
- Cấp, gia hạn, đìng chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến việc
phát hành, niêm yết, kinh doanh và dịch cụ chứng khoán và thu lệ phí cấp
giấy phép theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức và quản lý TTGDCK có tổ chức và các tổ chức trung gian, tổ
chức phụ trợ hoạt động trên TTCK.
- Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của TTCK nh: cơ quan quản lý Nhà
nước, SGDCK, TTGDCK, TTLKCK, CtyCK, CtyQLQ…
- Xây dựng sự phối hợp giữa các tổ chức, các cá nhân là thành viên tham
gia TTCK để tạo được sự thống nhất trong mọi hoạt động của TTCK.
- Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên TTCK nh mua bán gian
lận, đầu cơ. Mặt khác, tạo các điều kiện thuận lợi, khuyến khích những hoạt

1.2.4.4. Nguyên tắc hiệu quả
Tiết kiệm là hạn chế chi phí đến mức tối thiểu mà vẫn đem lại hiệu quả
tối đa. Tiết kiệm là nhằm để giảm thiểu chi phí nhưng chỉ có ý nghĩa khi thực
hiện nó mang tính hiệu quả. Hiệu quả là kết quả cuối cùng của hoạt động
16
được đo bằng giá trị, vật phẩm, thời gian tác động, tiết kiệm và hiệu quả luôn
đi với nhau và nó là thước đo để đánh giá kết quả cuối cùng của quản lý.
TTCK là mô hình tiêu biểu nhất về tính hiệu quả vì bản thân TTCK đã
mang trong nó tính tiết kiệm chi phí và nhằm tới hiệu quả kinh tế cao nhất vì
đây là môi trường thuận lợi nhất cho các nguồn vốn từ các nhà đầu tư được
trực tiếp đưa đến nơi cần vốn. Quá trình đầu tư thông qua TTCK được thực
hiện với chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao. Vì vậy, đảm bảo nguyên
tắc này trong TTCK tức là đảm bảo cho TTCK được hoạt động tự nhiên và
phát huy những chức năng vốn có của nó. Nguyên tắc này được coi là tiêu chí
áp dụng cho bất kì chính sách nào bởi mỗi chính sách đem lại lợi Ých cũng
kèm theo đó là chi phí. Nếu chi phí lớn hơn lợi Ých đem lại thì việc áp dụng
các chính sách đó là không có tác dụng
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị
trường chứng khoán
Hoạt động QLNN đối với TTCK chịu tác động của nhiều yếu tố khác
nhau, bao gồm:
Các nhân tố kinh tế: quá trình QLNN đối với TTCK chịu ảnh hưởng chi
phối của các yếu tố kinh tế như: quy mô kinh tế, trình độ phát triển nền kinh
tế,…Sự đa dạng về hình thức tồn tại và tính phức tạp trong hoạt động của các
thành phần kinh tế tham gia TTCK sẽ đặt ra yêu cầu đối với công tác QLNN
là phải có các chính sách, biện pháp phù hợp để dung hoà lợi Ých của các
thành phần này khi khai thác tối đa thế mạnh của họ.
Các nhân tố về chính trị và thể chế Nhà nước: thể chế chính trị và đường
lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền của một nước chi phối đến mục tiêu,
phương hướng xây dựng và phát triển TTCK nước đó. Bên cạnh đó, sự ổn

quản lý trong ngành chứng khoán và các ngành có liên quan, lịch sử phát triển
kinh tế và TTCK. Trong đó yếu tố lịch sử thường đặt ra các vấn đề về cải
cách và hoàn thiện mô hình và tổ chức quản lý
18
1.3. Các biện pháp nâng cao quản lý Nhà nước đối với TTCK
1.3.1 Biện pháp tuyên truyền, giáo dục
Hầu hết mọi người chưa có nhận thức và hiểu biết về TTCK do đó họ
còn dè dặt trong việc đầu tư vào thị trường này. Bởi vậy, việc trang bị cho họ
những kiến thức cơ bản về chứng khoán và TTCK để họ có thể hiểu về những
lợi Ých của hình thức đầu tư mới mẻ này đem lại, đồng thời trang bị cho họ
những kĩ năng để họ có thể đầu tư một cách hiệu quả nhất, tự chịu trách
nhiệm về các quyết định đầu tư của mình, tự phòng chống được các rủi ro khi
tham gia trên thị trường. Vì thế yếu tố giáo dục, xây dựng tâm lý cho người
tham gia thị trường là cực kì quan trọng. Việc giáo dục bao gồm công tác
vạch đường lối chính sách phát triển kinh tế cho phù hợp, đào tạo phổ biến
kiến thức về thị trường, về chuyên môn nghiệp vụ; xây dựng và thiết lập
những chuẩn mực kinh doanh, kế toán, kiểm toán, xếp hạng cho hoạt động
phát hành và bảo lãnh chứng khoán
1.3.2 Biện pháp nâng cao chất lượng văn bản luật pháp
Biện pháp này có tác động trực tiếp và có vai trò lớn nhất trong các biện
pháp quản lý của Chính phủ ở các TTCK mới nổi bởi tại những thị trường này
mọi hoạt động đang đều ở giai đoạn mới hình thành, hơn nữa nhiều khi lại ra
đời không theo con đường tự nhiên như ở các nước phát triển. Nhà nước đóng
vai trò chính trong việc điều hành và hướng dẫn thị trường. Ngoài ra, cho dù
ở bất kỳ TTCK nào thì hình thức quản lý cơ bản nhất vẫn là luật pháp. Do thị
trường đầy tính phức tạp nên luật pháp rõ ràng gần nh là một điều kiện tiên
quyết để có một thị trường hoạt động trung thực lành mạnh, ổn định và trong
khuôn khổ . Luật pháp về chứng khoán phải được hiểu là cả một hệ thống
gồm Luật Chứng khoán và các luật khác nh Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư.
Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống luật pháp không chỉ đơn thuần là việc cho

Giám sát thị trường là việc tiến hành theo dõi, kiểm tra hoạt động của các
chủ thể tham gia thị trường và các hoạt động giao dịch diễn ra trên thị trường
nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, đồng thời khuyến khích
20
và phát huy những hành vi lành mạnh đảm bảo giữ vững mục tiêu hoạt động
của thị trường. Thanh tra là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện pháp
luật của tổ chức, cá nhân nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo
vệ lợi Ých của các bên liên quan. KÕt quả của giám sát sẽ là cơ sở quan trọng
để thanh tra thực hiện việc cưỡng chế các sai phạm nhằm đảm bảo quyền và
lợi Ých của các bên.
Nh vậy, đây là biện pháp có ý nghĩa răn đe, giáo dục rất lớn đối với các
tổ chức, cá nhân tham gia thị trường. Từ đó tạo ý thức chấp hành pháp luật
của các nhà đầu tư khi tham gia, đảm bảo tính trung thực, công bằng và hiệu
quả cho thị trường chứng khoán.
1.4. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
1.4.1.1. Thị trường chứng khoán Mỹ:
Thị trường chứng khoán Mỹ đánh dấu thời điểm ra đời ngày 17/5/1792
khi 24 “đầu nậu” tại bến cảng ngồi lại với nhau để ký kết một bản thỏa ước
đầu tiên làm nền tảng cho New York Stock Exchange (NYSE) sau này. Đến
năm 1800, nhóm NYSE này dọn vào địa chỉ số 40 Wall Street đánh dấu sự ra
đời của Sở giao dịch chứng khoán, năm 1963 thì dọn về địa điểm số 11 Wall
Street hiện nay. Tiếp sau đó là hàng loạt các SGDCK được hình thành trên
khắp nước Mỹ. Thị trường chứng khoán Mỹ hiện nay là một thị trường quan
trọng bậc nhất trên thế giới nếu xét trên tổng thể khối lượng tư bản giao dịch
và sự ảnh hưởng to lớn của nó đối với các thị trường chứng khoán khác. Điều
đáng chú ý là 2/3 nghiệp vụ giao dịch chứng khoán ở Mỹ được thực hiện trên
thị trường phi tập trung, đặc biệt là đối với các hàng hóa là trái phiếu chính
phủ.
Thị trường tập trung:

22
Thị trường được vận hành bởi một hệ thống các nhà tạo lập thị trường và
các nhà môi giới, có hàng nghìn nhà tạo lập thị trường hoạt động tích cực trên
Nasdaq và trung bình mỗi nhà tạo lập thị trường đảm nhận 8 loại cổ phiếu.
Quản lý thị trường:
Tổ chức quản lý thị trường được thành lập sau cuộc khủng hoảng thị
trường chứng khoán năm 1929. Năm 1933, Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật
Securities Act thành lập bộ phận Securities & Exchange Commission (SEC)
nhằm quản lý hoạt động của các thị trường chứng khoán. Năm 1934, ra đời
Luật về Sở giao dịch c hứng khoán và tổ chức National Association of
Securities Dealers (NASD)- Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán quốc gia
Mỹ thành lập nhằm tự quản chế hoạt động của OTC Market ngày một lớn
mạnh hơn.
Như vậy, tại Mỹ quản lý thị trường chứng khoán theo mô hình giao trách
nhiệm cho các cơ quan chuyên môn thực hiện theo Luật định. Cụ thể, thị
trường chứng khoán tập trung chịu sự quản lý của ủy ban chứng khoán Nhà
nước SEC, còn thị trường phi tập trung chịu sự quản lý 2 cấp ủy ban chứng
khoán Mỹ (SEC) và Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán quốc gia Mỹ
(NASD) quản lý trực tiếp.
SEC được thành lập để điều chỉnh Luật chứng khoán liên bang, SEC là
cơ quan độc lập, đứng đầu là Chủ tịch và 4 ủy viên Hội đồng do Tổng thống
bổ nhiệm có sự tham khảo và đồng ý của Thượng nghị viện. SEC chịu sự
giám sát của Quốc hội, các quy định và quyết định của SEC phải chịu trách
nhiệm trước Tòa. Ngân sách hoạt động hàng năm của SEC do Văn phòng
Quản lý ngân sách và Quốc hội thông qua. SEC chỉ giám sát các thị trường
chứng khoán bao gồm cả thị trường hợp đồng lựa chọn. ủy ban giao dịch hàng
hóa tương lai (CFTC) là cơ quan quản lý riêng, giám sát các hợp đồng tương
lai. Đây là đặc điểm của Mỹ về mặt lịch sử để lại. SEC không quản lý trực
tiếp hoạt động chứng khoán của Ngân hàng thương mại do sự tách biệt Ngân
hàng và thị trường chứng khoán ở Mỹ. Tất cả các tổ chức hoạt động trong

Thị trường Jasdaq hoạt động từ năm 1991 trên cơ sở phát triển thị trường
OTC truyền thống hoạt động từ tháng 2/1963 do Hiệp hội các nhà kinh doanh
chứng khoán Nhật Bản (JSDA) quản lý. Luật sửa đổi năm 1983 đã đưa thị
trường OTC này vào quỹ đạo quản lý của Nhà nước, cơ chế thương lượng giá
tay đôi giữa các công ty chứng khoán và giữa công ty chứng khoán với khách
hàng được đổi sang cơ chế đấu giá tập trung qua hệ thống các nhà tạo lập thị
trường. Thị trường J-net mới được đưa và hoạt động từ tháng 5/2000, chịu sự
quản lý trực tiếp của Sở giao dịch chứng khoán Osaka (OSE), được tổ chức
dành cho các chứng khoán không được niêm yết trên Sở giao dịch nhằm đáp
ứng yêu cầu thời gian và chi phí cho các đối tượng tham gia thị trường, hoạt
động theo phương thức thương lượng giá. Thành viên của OSE, người đầu tư
và trung tâm quản lý được trực tiếp nối mạng với nhau thông qua một mạng
điện tử đa tầng, tạo điều kiện cho các đối tượng này có thể chia sẻ thông tin
thị trường.
Quản lý thị trường:
Vào năm 1947 Luật chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán
( Securities and Exchange Law) được thông qua, Luật này nhanh chóng thay
thế cho các quy định khác trước đó. Luật được xây dựng nguyên mẫu của
Luật chứng khoán Mỹ 1933 và Luật về Sở giao dịch chứng khoán năm 1934.
UBCK Nhật ( Securities and Exchange Commission) được thành lập theo quy
định của pháp luật Nhật cũng tương tự nh cơ quan SEC của Mỹ. Sở giao dịch
chứng khoán theo quy định mới được tổ chức lại và đi vào hoạt động năm
1949.
Thời kỳ những năm 1998- 1999, Luật chứng khoán thứ hai tại Nhật ra
đời với hàng loạt những điểm sửa đổi, bổ sung. Nhật bãi bỏ UBCK và giao
quyền giám sát giao dịch chứng khoán cho Bộ tài chính ( Ministry of
Finance). Phòng quản lý chứng khoán được thành lập trực thuộc Bộ tài chính.
Tới năm 1952, Hội đồng chứng khoán được thành lập chịu trách nhiệm chính
là giám sát hoạt động thị trường chứng khoán và thị trường tương lai, giám sát
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status