HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÙI KIM THANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 62 34 04 10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS Trần Minh Tuấn
2. TS Ngô Hoài Anh
Phản biện 1:
……………………………………………….
……………………………………………….
Phản biện 2:
thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại. Cùng với các thị
trường khác như thị trường tín dụng ngân hàng… TTCK là thành tố quan trọng
của hệ thống tài chính; là một thể chế bậc cao và không thể thiếu của kinh tế thị
trường hiện đại. Sự phát triển và hoàn thiện của TTCK sẽ góp phần tạo nên một
thị trường tài chính hoàn chỉnh, phục vụ hiệu quả các hoạt động kinh tế - xã hội
của nền kinh tế quốc dân.
Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, Chính phủ nước ta đã tiến hành hàng loạt các
bước chuẩn bị và đến tháng 7/2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán
(TTGDCK) ở nước ta đã chính thức ra đời và đi vào hoạt động, mở ra thời kỳ
mới - thời kỳ hình thành và phát triển TTCK ở Việt Nam. Đây cũng là sự kiện
ghi nhận bước phát triển quan trọng trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế và
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Đến nay, sau 15 năm hoạt động,
quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước đóng
vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Song từ sau năm 2008 đến
nay, TTCK Việt Nam diễn biến khá phức tạp và có nhiều tác động bất lợi đối
với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Bất chấp các biện pháp "giải cứu"
của Nhà nước cũng như các tín hiệu tích cực khác, TTCK vẫn tiếp tục đà lao
dốc với những diễn biến bất thường, khó kiểm soát: năm 2009, mức vốn hóa thị
trường giảm hơn 50%, xuống còn 18%; năm 2011, TTCK chứng kiến mức đáy
sâu nhất trong lịch sử của HNX-Index tại mức 56 điểm (27-12-2011), giảm
50% so với mức đỉnh trong năm và VN-Index cũng chính thức ghi nhận mức
đáy 347 điểm.
Cùng với những chuyển biến của TTCK Việt Nam thời gian qua, công tác
QLNN đối với thị trường này cũng có những bước tiến đáng kể, trong đó phải kể
đến những động thái hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, tạo lập hành lang pháp lý,
tạo hàng hóa cho thị trường, xây dựng và chuyển đổi mô hình hoạt động của
UBCKNN với Sở Giao dịch chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
và Sở Giao dịch chứng khoán tại Hà Nội (HNX), thành lập Trung tâm Lưu ký
chứng khoán (TTLKCK) v.v… Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp quan trọng
những bài học có thể tham khảo đối với Việt Nam;
+ Thông qua nghiên cứu thực tiễn phát triển TTCK Việt Nam thời gian qua,
đánh giá tác động của HNQT đến QLNN đối với TTCK cũng như qua việc đánh
giá thực trạng QLNN đối với TTCK ở nước ta giai đoạn 2000-2015, Luận án rút
ra những thành công, hạn chế và yếu kém trong QLNN đối với TTCK Việt Nam
làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp trong chương 4;
+ Trên cơ sở cơ hội, thách thức và chiến lược phát triển của TTCK Việt
Nam trong HNQT, Luận án đề xuất giải pháp tăng cường QLNN đối với TTCK
Việt Nam tới năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung,
3
chính sách, tổ chức quản lý của nhà nước đối với TTCK Việt Nam thời gian qua
xét trên phương diện các chủ thể tham gia trên TTCK, chú trọng đi sâu phân
tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với TTCK kể từ khi Việt Nam trở thành
thành viên WTO.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt thời gian: nghiên cứu QLNN đối với TTCK Việt Nam kể từ khi
TTCK chính thức được thành lập (năm 2000) tới năm 2015, đặc biệt chú trọng thời
điểm từ khi Việt Nam gia nhập WTO (tháng 11/2006) đến nay.
- Về mặt không gian: nghiên cứu QLNN đối với thị trường chứng khoán Việt
Nam, được giới hạn ở Sàn Giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh và Sàn Giao
dịch chứng khoán Hà Nội.
- Về mặt nội dung:
+ Thứ nhất, nghiên cứu QLNN đối với TTCK dưới góc độ quản lý chủ thể
gồm: quản lý các tổ chức phát hành, tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán, nhà
đầu tư, các tổ chức có liên quan trên TTCK (đơn vị quản lý và tổ chức phụ trợ)…
không nghiên cứu QLNN theo các nghiệp vụ của TTCK và chức năng quản lý của
TTCK Việt Nam trong HNQT (chú trọng phân tích từ mốc thời gian Việt Nam
gia nhập WTO đến nay), Luận án đề xuất các giải pháp tăng cường công tác
QLNN đối với TTCK Việt Nam tới năm 2020.
6. Kết cấu của đề tài: ngoài mục lục và tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương và 12 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI VỀ QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Nghiên cứu lý thuyết về QLNN đối với TTCK luôn là chủ đề thu hút sự quan
tâm của đông đảo các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế trong đó có một số
nghiên cứu tiêu biểu như: The regulation of non-bank financial institutions: The
United States, the European Union, and Other Countries (Quy định của những thể
chế tài chính phi ngân hàng: Mỹ, Liên minh châu Âu và các quốc gia khác), Tài
liệu thảo luận số 362 của Ngân hàng Thế giới, tháng 6/1997, chủ biên: Anjali
Kumar; The Dual Role of the government: securities market regulation in China
1980-2007 (Vai trò kép của Chính phủ: Quy định thị trường chứng khoán Trung
Quốc từ 1980 đến 2007), tác giả: Jingyun Ma, Fengming Song, Zhishu Yang Trường Quản lý và Kinh tế, Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc, 17/3/2009, Tạp chí
Thực hành và điều chỉnh tài chính, Anh; The Chinese stock market: pitfalls of a
policy-driven market (Thị trường chứng khoán Trung Quốc: Cạm bẫy của 1 thị
trường được điều chỉnh bởi chính sách) của giáo sư Sebastian Heilmann, Trung tâm
nghiên cứu Đông Á và Thái Bình Dương, Đại học Trier, Đức - Phân tích Trung
Quốc số 15, tháng 9/2002; Debt Management and government securities markets
in the 21st Century (Quản lý nợ và thị trường công trái trong thế kỷ 21), Tổ chức
Hợp tác và phát triển kinh tế OECD chủ biên và xuất bản, 5/9/2002; Primary
Dealers in government securities: Policy issues and selected countries experience
(Những người buôn bán sơ cấp công trái nhà nước: Các vấn đề chính sách và kinh
nghiệm ở một số nước), IMF Working paper, Marco Arnone và George Iden, 2003;
Tác giả Hamid Mohtadi và Sumit Agarwal trong tác phẩm Sự phát triển TTCK và
7
2.1.1.2. Bản chất, đặc điểm và vai trò của thị trường chứng khoán
* Bản chất của TTCK
* TTCK có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Thứ nhất, TTCK được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp;
- Thứ hai, TTCK gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Tất cả mọi cá nhân
đều được tự do tham gia vào thị trường nếu có nhu cầu và đáp ứng được các điều
kiện, thủ tục của thị trường.
- Thứ ba, TTCK về cơ bản là thị trường liên tục, sau khi các CK được phát
hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường
thứ cấp.
- Thứ tư, phương thức giao dịch trên TTCK cũng khá đặc thù. Ngoài một số
giao dịch thỏa thuận giữa các định chế tài chính lớn, đa phần các giao dịch của
NĐT cá nhân đều phải thực hiện thông qua các công ty môi giới.
-Thứ năm, một đặc điểm cố hữu nữa của thị trường tài chính, đặc biệt rõ nét
trong TTCK là bất đối xứng về thông tin (đây là một trường hợp đặc biệt của tình
trạng thông tin không đầy đủ).
* Vai trò của TTCK
2.1.2. Các chủ thể tham gia và các hoạt động cơ bản
của thị trường chứng khoán
2.1.2.1. Các chủ thể tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán:
Tham gia TTCK bao gồm nhiều chủ thể khác nhau, song về cơ bản có: Tổ chức
phát hành chứng khoán; Nhà ĐTCK; Các tổ chức kinh doanh, dịch vụ CK; Các tổ
chức liên quan đến thị trường chứng khoán (các đơn vị quản lý TTCK và tổ chức
phụ trợ) như: Cơ quan quản lý nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán..
2.1.2.2. Một số hoạt động cơ bản trên thị trường chứng khoán: Trên TTCK
diễn ra nhiều hoạt động khác nhau, song về cơ bản gồm một số hoạt động chủ yếu
sau: Phát hành chứng khoán; Niêm yết chứng khoán; Giao dịch chứng khoán; Công
bố thông tin; Thanh toán bù trừ, lưu ký và đăng ký CK.
2.3.1.1. Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Mỹ
2.3.1.2. Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán
Trung Quốc
2.3.1.3. Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Thái Lan
2.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.3.2.1. Cần thống nhất quản lý thị trường chứng khoán
2.3.2.2. Nâng cao vị thế của cơ quan quản lý nhà nước trong
lĩnh vực chứng khoán
2.3.2.3. Nâng cao vai trò của các tổ chức tự quản trên thị trường chứng
khoán, nhưng không được buông lỏng vai trò quản lý của nhà nước
2.3.2.4. Về phát hành, giám sát và xử lý vi phạm trên
thị trường chứng khoán
Chương 3
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
3.1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ HỘI
NHẬP CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
3.1.1. Đặc điểm hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam trong hội
nhập quốc tế
3.1.2. Các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
trong hội nhập
- Giai đoạn chuẩn bị hình thành TTCK ở Việt Nam;
- Giai đoạn khởi đầu của TTCK Việt Nam (2000-2005);
- Giai đoạn phát triển vượt bậc của TTCK Việt Nam (2006-2007);
- Giai đoạn thoái trào của TTCK Việt Nam (2008-2011);
- Giai đoạn tái cấu trúc thị trường (2012-nay).
3.2. HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẶT RA ĐỐI VỚI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
3.2.1. Nội dung hội nhập của Việt Nam trong lĩnh vực chứng khoán
3.2.2. Tác động của hội nhập quốc tế tới quản lý nhà nước đối với thị
thiện nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường và tăng cường hiệu quả
quản lý, giám sát của các cơ quan QLNN.
- Giai đoạn 2000-2005 (trước khi ban hành Luật Chứng khoán): Tính đến
30/12/2005 đã có 81 văn bản pháp luật về CK&TTCK (trong đó có 04 Nghị định,
08 thông tư, 69 Quyết định).
- Giai đoạn 2006 - nay: Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 296-2006 và có hiệu lực thi hành kể ngày ngày 01-01-2007.
3.3.2. Quản lý các tổ chức tự quản trên thị trường chứng khoán Việt
Nam: Hiện nay, cấu trúc thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam gồm 02
SGDCK ở Tp. Hồ Chí Minh (Hose) và Hà Nội (HNX), và một Trung tâm LKCK.
Sơ đồ 3.2: Mô hình quản lý các tổ chức tự quản trên TTCK Việt Nam
11
3.3.3. Quản lý tổ chức phát hành chứng khoán: Trên thế giới, có hai mô
hình quản lý phổ biến đối với hoạt động chào bán chứng khoán, đó là quản lý trên
cơ sở xem xét các điều kiện, tiêu chuẩn của tổ chức phát hành (còn gọi là quản lý
theo chất lượng); và quản lý trên cơ sở công bố thông tin đầy đủ, không có điều
kiện cụ thể. Ở Việt Nam, quản lý tổ chức phát hành là quản lý việc chấp hành các
yêu cầu phát hành, yêu cầu về công bố thông tin và yêu cầu về quản trị công ty
trong quá trình niêm yết trên TTCK.
Để quản lý, giám sát việc chấp hành nghiêm các quy định, chuẩn mực công
bố thông tin của các tổ chức phát hành, ngày 29/6/2006, Quốc hội đã thông qua
Luật Chứng khoán số 70/QH 11 áp dụng từ 1-1- 2007 bao gồm 11 chương, 136
điều quy định toàn diện các hoạt động trên TTCK. Vấn đề công bố thông tin được
quy định tại chương VIII bao gồm 8 điều từ điều 100 đến điều 107 Luật Chứng
khoán năm 2006 và được phân chia nghĩa vụ công bố thông tin theo các tổ chức.
Bảng 3.2: Quy mô số lượng công ty niêm yết của thị trường chứng khoán Việt
Nam giai đoạn 2006-2013
diện tại Việt Nam phải tuân thủ theo quy định tại Thông tư số 91/2013/TT-BTC
của Bộ Tài chính.
Về quản trị công ty và người hành nghề KDCK: Theo Quy chế tổ chức và
hoạt động CTCK ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC của Bộ
Tài chính, CTCK có nghĩa vụ quản trị công ty theo Điều lệ mẫu, được soạn thảo
theo thông lệ quốc tế do Tổ chức tài chính quốc tế (IFC) khuyến nghị; trường
hợp CTCK niêm yết thì điều lệ công ty thực hiện theo Điều lệ mẫu của CTNY.
3.3.5. Quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư
Đối với các NĐT hiện nay nói chung khi tham gia các hoạt động đầu tư trên
TTCK thì phải tuân thủ theo các quy định liên quan đến giao dịch chứng khoán:
Luật Doanh nghiệp năm 2005 (thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999); Luật
Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Quy
chế quản trị công ty niêm yết (ban hành kèm theo Quyết định 12/2007/QĐ-BTC
ngày 13/3/2007 của Bộ Tài Chính) và Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết
(ban hành kèm theo Quyết định 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của Bộ Tài
Chính), Thông tư số 74/2011/TT-BTC) và các nội dung liên quan đến công bố
thông tin (Thông tư số 52/2012/TT-BTC) tạo ra bước tiến lớn tạo ra sự thay đổi
căn bản trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của nhà đầu tư trong các công ty niêm yết.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài thì còn phải tuân thủ quy định giới hạn tỉ lệ
sở hữu nhà đầu tư nước ngoài ở một số ngành và lĩnh vực theo biểu cam kết gia
13
nhập WTO. Thông tư số 212/2012/TT-BTC ngày 5/12/2012 hướng dẫn về thành
lập, tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ (CTQLQ) đã có những hướng
dẫn khá chi tiết đối với nhà đầu tư nước ngoài tham gia lĩnh vực cung cấp dịch
vụ quản lý quỹ trên TTCK Việt Nam. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài được mua
cổ phần, phần vốn góp để sở hữu tới 49% vốn điều lệ của CTQLQ đang hoạt
động tại Việt Nam và được phép mua để sở hữu 100% vốn điều lệ của CTQLQ
- Giám sát tuân thủ các tổ chức phát hành, công ty niêm yết
14
- Giám sát tuân thủ các tổ chức tự quản (SGDCK, TTLKCK)
- Giám sát giao dịch trên TTCK
- Thanh tra thực hiện chức năng cưỡng chế thực thi.
Phương thức giám sát giao dịch chứng khoán của UBCKNN dựa trên hoạt
động giám sát giao dịch tại các SGDCK và thực hiện kiểm tra tại các công ty
chứng khoán và các tổ chức, cá nhân liên quan để xác định giao dịch bất thường
liên quan đến vi phạm như thao túng giá, giao dịch nội gián, lừa đảo..v..v.
UBCKNN cũng thực hiện những đợt kiểm tra định kỳ và theo chủ đề đối với
việc mở tài khoản, đặt lệnh, giao dịch của nhà đầu tư tại công ty chứng khoán.
3.3.6.2. Hoạt động giám sát, xử phạt trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
* Giám sát tuân thủ: Hoạt động giám sát tuân thủ được thực hiện trên cơ sở
Thông tư 193/2013/TT-BTC theo đó UBCKNN thực hiện việc kiểm tra, giám sát
sự tuân thủ các quy định pháp luật của các đối tượng quản lý bao gồm: Giám sát
phát hành, công bố thông tin và quản trị công ty của công ty niêm yết và công ty
đại chúng; Giám sát tuân thủ của các định chế trung gian thị trường và Giám sát
tuân thủ của Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán.
* Giám sát giao dịch: Hoạt động giám sát giao dịch được thực hiện theo
hướng dẫn tại Thông tư 13/2013/TT-BTC, theo đó, hoạt động giám sát giao dịch
trên TTCK được phân theo 02 tuyến: tuyến giám sát của UBCKNN và tuyến
giám sát của SGDCK (Theo quy định tại Quyết định 689/QĐ-UBCK ngày
31/8/2012 thì các SGDCK là tuyến giám sát các giao dịch thứ nhất và UBCKNN
là tuyến giám sát giao dịch thứ hai đối với các giao dịch chứng khoán diễn ra
trên thị trường có tổ chức.
* Giám sát rủi ro: Nội dung giám sát rủi ro là giám sát sức khỏe tài chính
của các tổ chức trung gian thị trường mà cụ thể ở đây là giám sát chỉ tiêu an toàn
lục A, Biên bản ghi nhớ đa phương của IOSCO- Tổ chức quốc tế Các Ủy ban
Chứng khoán (tháng 9/2013).
3.4.2. Một số hạn chế, tồn tại
Một là, bộ máy QLNN đối với TTCK Việt Nam được thành lập trước khi
thị trường chính thức ra đời. Ðiều này đặt ra một khó khăn và thách thức là mô
hình tổ chức bộ máy quản lý và mô hình tổ chức thị trường có thể không tương
thích với đòi hỏi của thực tiễn. Việc chuyển UBCKNN trực thuộc Bộ Tài chính
đã làm giảm tính độc lập và làm hạn chế quyền của UBCKNN trong thực hiện
chức năng QLNN đối với TTCK, làm giảm tính chủ động của UBCKNN và nảy
sinh sự phức tạp về thủ tục hành chính.
Hai là, khung pháp lý thể chế, chính sách mặc dù đã từng bước được hoàn
thiện, tuy nhiên phạm vi điều chỉnh còn hẹp và chưa bao quát mọi hoạt động trên
TTCK theo chuẩn mực quốc tế. Việc ban hành các qui định pháp lý về
CK&TTCK nhìn chung đều có độ trễ so với thực tiễn.
Ba là, cấu trúc thị trường tuy đã có sự phân định tương đối giữa các
SGDCK về cơ chế và sản phẩm giao dịch, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều bất
cập. Các SGDCK chưa phát huy được đúng chức năng là những tổ chức tự quản
trên TTCK.
Bốn là, công tác quản lý, điều hành, giám sát tuy có nhiều cố gắng song
nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu của QLNN đối với TTCK. Việc điều tiết, điều
hành thị trường vẫn mang tính hành chính, thiếu linh hoạt, chưa dựa vào các
16
nguyên tắc của thị trường. Công tác giám sát tuân thủ pháp luật trên TTCK,
cưỡng chế thực thi còn nhiều bất cập.
3.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
3.4.3.1. Các nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, TTCK là lĩnh vực mới ở Việt Nam, tuy nhiên đã phát triển quá nhanh,
vượt mọi dự đoán cũng như các mục tiêu đặt ra trước đó, điều này khiến cơ quan
17
4.1. CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
4.1.1. Cơ hội và thách thức trong phát triển thị trường chứng khoán Việt
Nam trong hội nhập quốc tế
4.1.1.1. Cơ hội
- Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế thế giới dần hồi phục sau khủng hoảng và đạt
mức bình thường trong giai đoạn 2014-2015.
Bảng 4.1: Kinh tế thế giới giai đoạn 2014 - 2015, triển vọng giai đoạn 2016 - 2020
Năm
2013
2014
2015
20042009
20102015
20162020
Thế giới
3,0
3,5
3,7
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thực (a)
Thương
mại thế
Trung
Nhật
OECD
EU-27 Eurozone Mỹ
Đức Pháp
thùng)
107,1
106,5
100,5
3,8
1,5
10,9
1,2
1,0
1,4
0,1
0,8
1,0
4,8
63,2
3,7
2,0
0,8
2,0
2,2
5,7
104,9
- Thứ hai, nền kinh tế trong nước tiếp tục duy trì đà tăng trưởng.
- Thứ ba, quá trình cổ phần hóa các DNNN tiếp tục được thúc đẩy cùng với sự
tăng trưởng nhanh của khối doanh nghiệp tư nhân.
- Thứ tư, sức mạnh nội lực và nhu cầu tăng trưởng của bản thân TTCK:
TTCK đã có một quá trình vận hành 15 năm, sau nỗ lực tái cơ cấu của Chính phủ,
hoạt động của thị trường hiện nay về cơ bản dần đi vào ổn định và có xu hướng
phát triển tốt.
- Thứ năm, nhận thức của xã hội về vai trò và lợi ích của TTCK đã và đang
ngày càng được nâng cao.
- Thứ sáu, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và các chính sách quản lý cởi
mở, thân thiện. Sự hội nhập ngày càng sâu và toàn diện của nền kinh tế Việt Nam
với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới làm tăng nhu cầu đầu tư không
chỉ từ phía các nhà đầu tư và các tổ chức phát hành trong nước.
4.1.1.2. Thách thức
- Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam tuy đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh
trong thời gian qua nhưng chưa thật sự bền vững, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro mang
tính hệ thống.
- Thứ hai, sự yếu kém thiếu bền vững của bản thân TTCK. Sự phát triển
không hài hòa giữa bên cung và bên cầu là nhân tố ảnh hưởng tới tính bền vững của
giao dịch trên TTCK.
- Thứ sáu, tăng cường năng lực quản lý, giám sát và cưỡng chế thực thi
- Thứ bảy, tăng cường đào tạo, nghiên cứu và thông tin tuyên truyền.
4.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP
QUỐC TẾ
4.2.1. Nâng cao vị thế, vai trò của Ủy ban chứng khoán nhà nước bộ máy
quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán
4.2.2. Hoàn thiện bộ máy tổ chức của các tổ chức tự quản trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
4.2.2.1. Hoàn thiện tổ chức bộ máy đối với sàn giao dịch chứng khoán:
1
Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển TTCK
Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
19
Trong thời gian tới, để hoàn thiện việc tái cấu trúc thị trường, có thể thành lập 01
SGDCK trên cơ sở hợp nhất 02 SGDCK hiện tại hoặc thành lập Công ty quản lý
vốn đầu tư (holding company) hoàn toàn thuộc sở hữu của Nhà nước và hướng tới
nắm giữ cổ phần chi phối của các SGDCK (các công ty con).
4.2.2.2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy đối với Trung tâm lưu ký chứng
khoán: trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng hoạt động lưu ký, thanh toán,
bù trừ đáp ứng yêu cầu thực tiễn, cần tái cấu trúc TTLKCK trên một số nội dung
trọng tâm sau:
- Từng bước tái cấu trúc mô hình tổ chức hoạt động bù trừ theo hướng bổ
sung chức năng đối tác thanh toán trung tâm (CCP) nhằm tăng hiệu quả hoạt
động và sự ổn định của các TTCK cũng như tăng cường khả năng kiểm soát rủi
ro cho toàn hệ thống.
- Tăng cường khả năng giám sát quản trị công ty của UBCKNN, bao gồm cả cơ
cấu tổ chức và nhân sự. Nghiên cứu, thiết lập một bộ phận tách biệt thuộc UBCKNN,
chuyên giám sát công ty đại chúng, bao gồm cả giám sát quản trị công ty.
- Tăng cường sự tham gia, giám sát của các thành viên thị trường đối với hoạt
động quản trị công ty tại doanh nghiệp; thúc đẩy áp dụng các thông lệ quản trị công ty
tốt trong các công ty đại chúng và niêm yết, các tổ chức KDCK.
4.2.3.4. Hoàn thiện công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
- Rà soát để ban hành hệ thống các chính sách chế độ phù hợp cho tiến trình
cổ phần hóa DNNN, bao gồm: Tiêu chí phân loại DNNN, xác định rõ ngành, lĩnh
vực, doanh nghiệp mà nhà nước cần nắm giữ 100% vốn, đối với các doanh nghiệp
còn lại, thực hiện CPH theo lộ trình…
- Tổ chức rà soát, xây dựng lộ trình tái cơ cấu lại DNNN theo hướng: 1- Đối
với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, cần: Nâng cao năng lực hoạt động trong
những khâu, công đoạn then chốt; Các doanh nghiệp phải tổ chức rà soát giảm
bớt số lượng ngành nghề liên quan để tập trung hơn vào những công đoạn, khâu
then chốt trong ngành nghề kinh doanh chính của mình; 2- Đối với các doanh
nghiệp còn lại, thực hiện giảm dần tỷ trọng hoặc thoái toàn bộ vốn nhà nước
đang nắm giữ.
- Thay đổi căn bản cơ chế quản lý DNNN và mô hình tổ chức thực hiện quyền
sở hữu nhà nước.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của DNNN.
4.2.4. Giải pháp liên quan đến tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư
4.2.4.1. Từng bước đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, tiến tới cấu trúc cơ sở
nhà đầu tư có sức cầu ổn định, chuyên nghiệp. Tập trung phát triển mạnh
nhà đầu tư tổ chức
- Ban hành và hoàn thiện các quy định hướng dẫn đồng bộ các sản phẩm quỹ
đầu tư chứng khoán dành cho các NĐT có mức chấp nhận rủi ro khác nhau và
các quỹ đầu tư đầu tư đa mục tiêu, nhằm kết nối thị trường bảo hiểm, thị trường
trái phiếu, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản với TTCK.
- Triển khai thí điểm các quỹ hưu trí tự nguyện.
Nhóm 1- nhóm bình thường. Nhóm này bao gồm các CTCK có tỷ lệ vốn khả
dụng/tổng rủi ro trên 150% và có lãi hoặc lỗ lũy kế dưới 30% vốn điều lệ; Nhóm 2nhóm kiểm soát. Nhóm này bao gồm các CTCK có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro
từ 120-150% và và có lỗ lũy kế từ 30%-50% vốn điều lệ; Nhóm 3- Nhóm kiểm soát
đặc biệt. Nhóm này bao gồm các CTCK có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới
120% và có lỗ lũy kế trên 50% vốn điều lệ. Từ đó có những biện pháp quản lý với
từng nhóm.
4.2.5.2. Giải pháp liên quan tới công ty quản lý quỹ
* Nhóm giải pháp cho mục tiêu: nâng cao hiệu quả hoạt động của các
CTQLQ, xử lý thanh lọc các CTQLQ yếu kém, hoạt động không hiệu quả,
không có khả năng huy động tài sản để quản lý
- Phân loại các CTQLQ, kiên quyết thực hiện các giải pháp nhằm loại bỏ tổ
chức không đủ năng lực tài chính, hoạt động không hiệu quả hoặc có những sai
phạm về hoạt động và đạo đức nghề nghiệp mà không khắc phục theo yêu cầu
của cơ quan quản lý.
- Chủ động chuẩn bị phương án sẵn sàng cho hoạt động tái cấu trúc, bao
gồm quy trình thực hiện đình chỉ hoạt đông, rút giấy phép, thanh lý tài sản, giải
thể công ty; hướng dẫn hoạt động hợp nhất, sáp nhập CTQLQ.
- Thể chế hóa các điều kiện đối với cổ đông sáng lập, cổ đông sở hữu từ
10% trở lên, khuyến khích chuyển quyền sở hữu chi phối tại các CTQLQ vào tay
22
các tổ chức tài chính ngân hàng, bảo hiểm, đặc biệt là các doanh nghiệp bảo
hiểm và ngân hàng có tiềm lực tài chính.
* Nhóm giải pháp cho mục tiêu: Mở cửa thị trường dịch vụ quản lý tài sản
theo lộ trình hội nhập đã cam kết, kết hợp với việc nâng cao sức cạnh tranh của
ngành quản lý tài sản Việt Nam, nâng cao năng lực và chất lượng dịch vụ quản
lý tài sản, năng lực quản trị rủi ro, đạo đức nghề nghiệp và năng lực quản trị
doanh nghiệp.
- Bổ sung các quy định nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức CTQLQ, nâng cao
23
- Áp dụng các chuẩn mực theo thông lệ quốc tế về quản trị công ty và quản trị
rủi ro để tạo ra sự tương đồng với các TTCK của các nước trong khu vực ASEAN.
- Hài hoà hoá các quy định quản lý và trao đổi thông tin từng bước hội nhập
vào TTCK phù hợp với sự phát triển nội lực của Việt Nam.
KẾT LUẬN
Quản lý nhà nước đối với TTCK là cần thiết khách quan nhằm bảo vệ lợi
ích của các nhà đầu tư, duy trì tính ổn định, công bằng và minh bạch trên thị
trường, từ đó thúc đẩy thị trường phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh nền
kinh tế thế giới hiện nay, các cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra ngày càng
nhiều, với tần suất ngày càng cao và mức độ ngày càng nghiêm trọng, TTCK nói
riêng và thị trường tài chính nói chung của các quốc gia càng cần thiết phải có sự
quản lý từ phía Chính phủ để tránh những nguy cơ đổ vỡ, sụp đổ mang tính hệ
thống. Sau 15 năm hoạt động, TTCK Việt Nam đã có đóng góp nhất định vào
việc huy động vốn cho nền kinh tế nhưng nhìn chung thị trường mới ở giai đoạn
khởi đầu, giá trị vốn hóa còn thấp, phát triển thiếu tính bền vững, còn tiềm ẩn
nhiều yếu tố bất ổn, có thể ảnh hưởng xấu đến kinh tế - xã hội, vì vậy đòi hỏi
phải được vận hành và quản lý chặt chẽ, hiệu quả. Thông qua nghiên cứu lý luận
và phân tích thực tiễn, luận án đã đưa ra những kết luận cơ bản sau:
1. TTCK là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán
giữa các chủ thể tham gia, việc mua bán trao đổi này được thực hiện theo những
quy định của Nhà nước và của các tổ chức tự quản trên thị trường.
2. QLNN đối với TTCK trong HNQT là việc nhà nước thông qua hệ thống
pháp luật, các chính sách, nguyên tắc, quy định và các biện pháp cần thiết để tiến
hành quản lý, giám sát hoạt động của các chủ thể tham gia TTCK nhằm đảm bảo
TTCK phát triển bền vững, hiệu quả, phục vụ mục tiêu nhất định của nền kinh tế
quốc dân và phù hợp với cam kết hội nhập".
3. Mục tiêu của QLNN đối với TTCK là tạo ra một thị trường hoạt động ổn
định, hiệu quả, phát huy tốt nhất vai trò của TTCK đối với quá trình phát triển