Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là một xu thế tất yếu của
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Và Việt Nam không thể tách rời xu thế đó.
Thị trường chứng khoán hình thành và phát triển sẽ cùng thị trường tiền tệ tạo ra
một thị trường tài chính vận hành có hiệu quả hơn, góp phần đắc lực trong việc
huy động vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Sự phát triển đó của thị trường chứng khoán phụ thuộc rất nhiều vào một
lực lượng trung gian quan trọng trên thị trường - đó là các định chế tài chính.
Qua hơn bẩy năm hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
cho thấy, nhờ có vai trò của các định chế tài chính mà thị trường chứng khoán
đã hoạt động sôi động và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong quá trình đó, các định
chế tài chính cũng bộc lộ những mặt còn hạn chế, tác động tới sự phát triển
chung của thị trường.
Đặc biệt trong năm 2006 và 2007, thị trường chứng khoán có những bước
phát triển mới, khung pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng
có nhiều thay đổi, tác động mạnh tới vai trò của các định chế tài chính trên thị
trường chứng khoán. Chính vì vậy, người viết đã lựa chọn đề tài khóa luận tốt
nghiệp là “Thực trạng và và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các định chế
tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.
Khóa luận nhằm tìm hiểu những vai trò của các định chế tài chính trên
TTCK. Thông qua đó, khóa luận sẽ phân tích, đánh giá thực trạng những vai trò
chủ yếu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các định chế tài
chính trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với mục tiêu này, cấu trúc của khóa luận gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về định chế tài chính và vai trò của chúng trên
thị trường chứng khoán.
Chương II: Thực trạng vai trò của các định chế tài chính trên thị trường
chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các định chế tài
tài chính, trong khi tài sản chủ yếu của các doanh nghiệp khác là các tài sản hiện
vật như nhà cửa, công cụ, nguyên liệu…
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2. Chức năng và vai trò của các ĐCTC
Chức năng của các ĐCTC
Chức năng cơ bản nhất của các ĐCTC là chức năng dẫn vốn từ những
người có thu nhập nhiều hơn chi tiêu đến những người có nhu cầu sử dụng vốn
nhiều hơn thu nhập. Các ĐCTC đóng vai trò là người trung gian hay người thứ 3
giữa người cho vay và người đi vay vốn, và giúp cho vốn được luân chuyển từ
người này sang người kia. Các ĐCTC có các chức năng chủ yếu sau:
Chức năng tạo vốn
Để có thể cho vay hoặc đầu tư, các ĐCTC tiến hành huy động vốn tạm thời
nhàn rỗi trong nền kinh tế hình thành các quỹ tiền tệ tập trung. Với chức năng
này, các ĐCTC đã đem lại lợi ích cho chính mình và cho phần lớn những người
có những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua lãi suất huy
động vốn.
Chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế
Tiền vốn được huy động từ những người có vốn tạm thời nhàn rỗi là để
thực hiện mục tiêu cung ứng vốn cho những người tạm thời thiếu vốn. Trong
nền kinh tế thị trường, những người cần vốn là các doanh nghiệp, Chính phủ,
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Với chức năng này, các ĐCTC đã
cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời nhu cầu tài trợ vốn cho những người cần
vốn.
Chức năng kiểm soát
Các ĐCTC thực hiện chức năng kiểm soát nhằm giảm tới mức tối thiểu
vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức do thông tin không cân xứng gây
ra. Chức năng này giúp cho các chủ thể thuộc mọi vị trí khác nhau trong nền
kinh tế có thể đưa ra những quyết định hợp lý nhất đối với việc cho vay và đi
vay vốn.
Vai trò của các định chế tài chính
hàng sử dụng nguồn vốn này để cho vay, như cho vay thương mại, cho vay tiêu
dùng, cho vay thế chấp... Điểm đặc biệt của các ngân hàng là khả năng tạo tiền
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cho nền kinh tế. Khi ngân hàng nhận được thêm một khoản tiền gửi, nó được lợi
thêm một khoản tiền dự trữ như thế; và ngược lại, khi nó mất đi một khoản tiền
gửi nó mất một khoản tiền dự trữ như thế. Lợi nhuận của ngân hàng được tạo ra
từ tổng thể các hoạt động chuyển đổi tài sản đi vay và cho vay. Đối với tất cả
các quốc gia trên thế giới, NHTM là một nhân tố không thể thiếu trong nền kinh
tế.
♠ Các hiệp hội tiết kiệm và cho vay
Nguồn vốn huy động chủ yếu của loại ĐCTC này là các khoản tiền gửi tiết
kiệm, các khoản tiền gửi có kỳ hạn, các tiền gửi phát séc được. Các khoản tiền
vốn huy động được chủ yếu dùng để cho vay thế chấp. Đây là điểm khác biệt
giữ các ĐCTC này với các NHTM. Các khoản vay thế chấp thường là các khoản
vay dài hạn, vì vậy mà các tổ chức này bị rằng buộc nhiều hơn so với các
NHTM. Khi luật pháp cho phép các tổ chức này có thể mở rộng phạm vi và đối
tượng cho vay thì nó sẽ trở thành một đối thủ cạnh tranh với các NHTM.
♠ Các ngân hàng tiết kiệm tương trợ
Định chế tài chính này giống như các hiệp hội cho vay và tiết kiệm, nhưng
khác ở chỗ họ luôn được tổ chức như có sự “tương trợ”, tức là họ hoạt động như
một hợp tác xã, trong đó những người sở hữu tiền gửi lại là các chủ ngân hàng.
♠ Các liên hiệp tín dụng
Đây là tổ chức cho vay rất nhỏ có tính chất hợp tác xã được tổ chức xung
quanh một nhóm xã hội đặc biệt: Các thành viên trong một liên hiệp là những
người làm công ăn lương của một công ty hay một tổ chức nào đó…Liên hiệp
tín dụng sẽ nhận các khoản tiền gửi rồi tiến hành cho vay thế chấp hoặc cho vay
tiêu dùng.
3.2. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
Các ĐCTC này có nguồn thu vốn một cách định kỳ trên cơ sở hợp đồng.
Họ có thể dự tính được tương đối chính xác khoản tiền phải thanh toán trong
nhận tiền gửi ngắn hạn và dưới hình thức mở tài khoản của các cá nhân và tổ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chức; không thực hiện các dịch vụ thanh toán và tiền mặt, không sử dụng vốn
vay của dân để làm phương tiện thanh toán; và không bị kiểm soát chặt chẽ như
các NHTM.
♠ Quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là một ĐCTC thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để
đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ hay các loại tài sản khác. Tất cả các
khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý
quỹ, ngân hàng giám sát và các cơ quan có thẩm quyền khác.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều cách phân loại quỹ đầu tư.
Căn cứ vào nguồn vốn huy động: có quỹ công chúng và quỹ thành viên.
- Quỹ công chúng là quỹ huy động bằng cách phát hành rộng rãi ra công
chúng. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hoặc pháp nhân nhưng đa phần là nhà đầu
tư riêng lẻ.
- Quỹ thành viên là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành riêng lẻ cho một
nhóm nhỏ các nhà đầu tư (có thể lựa chọn trước) là các cá nhân hay các ĐCTC
hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ sẽ thấp hơn quỹ
công chúng. Các nhà đầu tư vào các quỹ này thường có lượng vốn lớn, và đổi lại
họ có thể tham gia vào kiểm soát đầu tư của quỹ.
Căn cứ vào cấu trúc huy động vốn: có quỹ đóng và quỹ mở.
Quỹ đóng là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ một lần duy nhất khi tiến
hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện mua lại cổ phiếu/chứng chỉ
quỹ khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Nhằm tạo ra tính thanh khoản cho loại
quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ
này sẽ được niêm yết trên TTGDCK. Tổng số vốn huy động của quỹ sẽ không
thay đổi trong suốt thời gian hoạt động của quỹ.
Khác với quỹ đóng, tổng số vốn huy động của quỹ mở biến động theo từng
ngày giao dịch do tính chất đặc thù của quỹ là nhà đầu tư được quyền bán lại
chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ quỹ đầu tư
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong nền kinh tế thị trường, dòng vốn luân chuyển từ người cho vay –
người tiết kiệm tới người đi vay thông qua hai con đường chính là tài chính trực
tiếp và tài chính gián tiếp. Trong tài chính gián tiếp, vốn được chuyển từ người
cho vay tới người đi vay thông qua trung gian tài chính, chủ yếu là các NHTM.
Còn trong tài chính gián tiếp, người đi vay vay vốn trực tiếp của người cho vay
bằng cách phát hành chứng khoán trên TTCK.
Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích
hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với vốn hay tài sản của tổ chức phát
hành. Chứng khoán bao gồm:
• Cổ phiếu
• Trái phiếu
• Chứng chỉ quỹ đầu tTTCK
• Các loại chứng khoán khác (quyền mua, chứng quyền,
options, futures, các chỉ số chứng khoán, nhóm chứng khoán).
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các
loại chứng khoán.
Hoạt động mua bán chứng khoán được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi
người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở
những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát
hành ở thị trường sơ cấp.
Như vậy, xét về hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi,
mua bán, chuyển nhượng các chứng khoán, qua đó làm thay đổi chủ thể nắm giữ
chứng khoán.
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ
cấp hay thứ cấp; tại sở giao dịch hay thị trường chứng khoán phi tập trung; ở thị
trường giao ngay hay thị trường có kỳ hạn. Quan hệ mua bán, trao đổi này làm
thay đổi chủ sở hữu chứng khoán, và như vậy, đây thực chất là quá trình vận
chuyển tư bản, chuyển tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh..
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
khoán trên thị trường (định giá cao hay thấp giá trị cổ phần của công ty phát
hành). Các nhà đầu tư sẽ kiếm được lợi nhuận dựa vào chênh lệch giá do bán cổ
phiếu với giá cao hơn so với mức mua vào nên nhà đầu tư cần phải nghĩ đến khả
năng tính toán và chịu đựng rủi ro. Do đó, thị trường thứ cấp không đem lại vốn
cho nhà phát hành như trên thị trường sơ cấp.
1.2.2.
a. Phân loại theo hàng hoá
Theo các loại hàng hoá mua bán trên thị trường, có thể chia TTCK thành thị
trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường chứng khoán phái sinh.
• Thị trường trái phiếu
Là thị trường mà tại đó các hàng hóa được mua bán trên đó là các trái
phiếu. Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc phát hành này là nhà phát
hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn trả cả lãi lẫn gốc. Người cho vay
sẽ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạt động sử dụng vốn của
người đi vay và trong mọi trường hợp, nhà phát hành phải có trách nhiệm hoàn
trả cho trái chủ theo các cam kết đã được xác định trong hợp đồng cho vay. Trái
phiếu thường có thời hạn xác định, có thể là trung hạn hoặc dài hạn.
• Thị trường cổ phiếu
Là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đóng góp
của cổ đông. Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu trách nhiệm trong
phần đóng góp của mình. Với việc nắm giữ cổ phiếu của công ty, cổ đông có
quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng như đối với tài sản
của công ty khi tài sản này được thanh lý khi công ty phá sản. Cổ phiếu thường
có thời hạn bằng thời hạn tồn tại của công ty cổ phần.
• Thị trường phái sinh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Là nơi các chứng khoán phái sinh được giao dịch, mua bán. Các chứng
khoán phái sinh như: hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng kỳ
hạn, quyền mua và chứng quyền.
b. Phân loại theo hình phương thức hoạt động.
dài hạn cho nền kinh tế. TTCK là bù đắp cho những khuyết điểm trên thị trường
vốn gián tiếp. TTCK có các chức năng chủ yếu sau:
• Huy động vốn cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền
nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp
phần vào hoạt động mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và
chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích
sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ cho nhu cầu chung của xã
hội.
• Cung cấp một môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các
cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau
về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn hàng
hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
• Tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở
hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng
thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư khi đưa ra
các quyết định đầu tư của mình. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, mức độ an
toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính
thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
• Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, tình hình hoạt động của các doanh nghiệp được
phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo
ra một môi trường cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các
doanh nghiệp.
• Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô.
hỗ, các quỹ đầu tư… Trong đầu tư, lợi nhuận luôn tỷ lệ thuận với rủi ro, lợi
nhuận càng cao thì mức độ chấp nhận rủi ro của các nhà đầu tư càng cao và
ngược lại. Chính vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân luôn phải tìm kiếm danh mục
đầu tư phù hợp với khả năng tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của mình.
o Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán
chứng khoán trên thị trường với khối lượng lớn. Các nhà đầu tư có tổ chức tiêu
biểu trên TTCK như: NHTM, CTCK, quỹ tương hỗ, các công ty bảo hiểm... Các
nhà đầu tư có tổ chức thường là những nhà đầu tư chuyên nghiệp, có kinh
nghiệm và có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư, vì vậy có thể giảm được rủi ro
trong đầu tư chứng khoán. Trong số các nhà đầu tư có tổ chức, các NHTM đóng
vai trò quan trọng nhất, ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển TTCK cả
đối với thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
• Các tổ chức có liên quan đến TTCK.
Trên TTCK, ngoài các nhà phát hành và các nhà đầu tư còn có các tổ chức
có liên quan khác. Nhờ có các tổ chức này mà TTCK mới có thể hoạt động một
cách có hiệu quả, phát huy được vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung
và đối với thị trường tài chính nói riêng. Các tổ chức liên quan tới TTCK bao
gồm:
2.3. Các định chế tài chính tham gia trên TTCK
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Sự hình thành và phát triển của TTCK đã thu hút được sự tham gia của hầu
hết các ĐCTC, như NHTM, quỹ tín dụng, hiệp hội cho vay và tiết kiệm, công ty
bảo hiểm, quỹ tương trợ, công ty tài chính, CTCK và quỹ đầu tư.
Trong đó,
• Có những ĐCTC vốn là các chủ thể quan trọng trên các thị trường tiền tệ,
thị trường bảo hiểm, như NHTM, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, nhưng khi
tham gia trên TTCK thì như được “chắp thêm cánh” với công cụ hoạt động mới
là chứng khoán và các dịch vụ liên quan đến chứng khoán. Thông thường, các
NHTM, những nhà kinh doanh chuyên nghiệp trên thị trường tiền tệ với tiềm lực
tài chính, kinh nghiệm, mạng lưới hoạt động, công nghệ,… là một trung gian
• Mô hình ngân hàng đa năng
Theo mô hình này thì các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là
chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này
được biểu hiện dưới hai hình thức sau:
o Loại đa năng một phần
Theo mô hình này, các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh
doanh bảo hiểm thì phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động
tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ. Mô hình này còn được gọi là mô hình
ngân hàng kiểu Anh.
o Loại đa năng toàn phần
Các ngân hàng được trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo
hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác. Mô hình này
còn được gọi là mô hình kiểu Đức.
Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực
kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa
dạng hóa đầu tư. Ngoài ra, nó còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của
ngân hàng trước những biến động của thị trường tài chính. Mặt khác, khi tuân
theo mô hình này, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình là tổ chức
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu rõ về khách hàng
cũng như doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ dự án.
Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế nhất định. Thứ nhất, vì vừa
là tổ chức tín dụng vừa là tổ chức kinh doanh chứng khoán nên khả năng chuyên
môn không sâu bằng các CTCK chuyên doanh. Thứ hai, do không tách bạch
được hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán, đặc biệt đối
với các nước đang phát triển với môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, các ngân
hàng dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường. Trong trường hợp này, các biến
động trên TTCK sẽ tác động mạnh tới kinh doanh tiền tệ, gây tác động dây
chuyền và có thể dẫn tới khủng khoảng thị trường tài chính. Bên cạnh đó, do
không có sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn, nên các ngân hàng có thể sử
nhà đầu tư do uy tín của các ĐCTC này và thường có tính thanh khoản cao hơn
so với các loại chứng khoán của các doanh nghiệp khác. Thêm vào đó, với tính
chuyên nghiệp và uy tín cao trên thị trường tài chính, hoạt động phát hành của
các ĐCTC thường có lợi thế hơn các công ty khác, do đó có thể thu được lượng
vốn lớn với chi phí thấp.
2.4.2. Kinh doanh chứng khoán
Các ĐCTC được coi là những nhà đầu tư có tổ chức trên TTCK. Hoạt động
kinh doanh chứng khoán của các ĐCTC là yếu tố mang tính dẫn dắt thị trường,
trợ giúp cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của thị trường vì hoạt động
này có tính chuyên nghiệp cao, quy mô thường lớn và tính đa dạng hóa cao hơn
nhiều so với hoạt động kinh doanh chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân.
Tùy theo đặc điểm trong hoạt động kinh doanh của từng ĐCTC, có thể
chia hoạt động kinh doanh chứng khoán thành hai loại: hoạt động ngân quỹ và
hoạt động đầu tư chứng khoán.
• Hoạt động ngân quỹ
Đây là một trong những hoạt động của các NHTM và các tổ chức tín dụng
khác. Các ĐCTC này thường đầu tư vào các chứng khoán có tính thanh khoản
cao, chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, dự phòng và tích trữ.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các loại chứng khoán này bao gồm tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể
chuyển nhượng được.
Hoạt động ngân quỹ là cầu nối quan trọng giữa thị trường tín dụng và
TTCK. Khi thị trường tín dụng trầm lắng thì một bộ phận vốn trên thị trường
này sẽ được dịch chuyển thông qua hoạt động mua chứng khoán của các ĐCTC
trên TTCK. Ngược lại, khi thị trường tín dụng sôi động thì các ĐCTC sẽ bán
chứng khoán để đáp ứng nhu cầu cho hoạt động tín dụng. Điều này giúp cho các
tổ chức tín dụng có thể tận dụng được tối đa các nguồn vốn để nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của mình. Mặt khác, sự cạnh tranh giữa hai thị trường
này sẽ là chất xúc tác làm tăng hiệu quả hoạt động của thị trường tín dụng.
Tuy nhiên, biến động của TTCK cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
Đây là việc các ĐCTC giúp cho các tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục
trước khi chào bán chứng khoán, phân phối chứng khoán, nhận mua chứng
khoán hoặc mua số chưa phân phối hết của tổ chức phát hành để bán lại và giúp
bình ổn giá trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Cơ sở để tiến hành các nghiệp
vụ này là uy tín và tính chuyên môn hóa cao của các ĐCTC trên thị trường. Các
tổ chức phát hành hoàn toàn có thể tự mình thực hiện việc phát hành chứng
khoán ra thị trường nhưng họ sẽ vấp phải rất nhiều khó khăn. Thứ nhất, tổ chức
phát hành sẽ phải tiến hành rất nhiều công việc trước khi phát hành như phân
tích thị trường để xác định khả năng huy động vốn, làm hồ sơ giấy tờ và thủ tục
xin phép phát hành…Để làm được các công việc này, tổ chức phát hành sẽ phải
có những am hiểu về pháp lý, thị trường, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin về
thị trường…Điều này sẽ không dễ dàng đối với các tổ chức phát hành vì họ vốn
không chuyên về các nghiệp vụ này. Thứ hai, doanh nghiệp có thể sẽ phải đối
mặt với tình huống không huy động đủ vốn và chi phí phát hành sẽ tăng lên
đáng kể trên một đồng vốn huy động được, thêm chí là vỡ kế hoạch kinh doanh
khi thời hạn huy động bị kéo dài hoặc không huy động đủ vốn. Ngoài ra, trong
một số trường hợp, các doanh nghiệp buộc phải phát hành chứng khoán qua hình
thức bảo lãnh hoặc đại lý theo quy định của pháp luật.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra ngoài công chúng thông qua tổ
chức phát hành và với một số lượng nhỏ chứng khoán thì nó có thể chỉ cần một
tổ chức bảo lãnh phát hành. Nhưng nếu là một doanh nghiệp lớn và với số lượng
lớn chứng khoán phát hành vượt quá khả năng của một tổ chức bảo lãnh thì cần
phải có một tổ hợp bảo lãnh phát hành, bao gồm một hoặc một số tổ chức bảo
lãnh phát hành chính và một số tổ chức bảo lãnh phát hành thành viên. Trong
đó, một tổ chức đóng vai trò là tổ chức bảo lãnh chính, gọi là người quản lý bảo
lãnh. Tổ chức này thường là người khởi đầu cuộc giao dịch này, đứng ra ký kết
và giải quyết các thủ tục giấy tờ với công ty phát hành, quyết định tổ chức nào
tham gia bảo lãnh và trả chi phí cho họ.
Các tổ chức bảo lãnh phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ
• Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa
Là phương thức bảo lãnh trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố
gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không gì. Theo phương
thức này, tổ chức phát hành chỉ thị cho tổ chức bảo lãnh phát hành phải bán tối
thiểu hoặc tối đa một tỷ lệ nhất định chứng khoán phát hành. Nếu lượng chứng
khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị
hủy bỏ.
2.4.4. Quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là hoạt động quản lý tài sản của
khách hàng thông qua việc mua bán và nắm giữ các chứng khoán theo tỷ lệ ủy
thác và vì quyền lợi của khách hàng.
Trong các loại ĐCTC, các CTCK, quỹ đầu tư hoặc các ngân hàng thương
mại thường thực hiện nghiệp vụ này. Trong hoạt động này, các ĐCTC này phải
đảm bảo tách biệt tài sản của khách hàng và tài sản của riêng mình. Việc mua
bán và nắm giữ các chứng khoán chỉ được tiến hành khi có sự ủy thác hoặc theo
lệnh của khách hàng. Tùy theo mức độ tín nhiệm của các ĐCTC mà khách hàng
có thể ủy quyền một phần hoặc ủy quyền toàn bộ đối với việc quản lý tài sản.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Định kỳ hoặc theo yêu cầu của khách hàng, các ĐCTC phải gửi các bản sao kê
về tình hình tài sản trong danh mục đầu tư cho khách hàng, đồng thời không
được tiết lộ các thông tin về tài sản của khách hàng ngoại trừ các trường hợp đặc
biệt như theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền…
Khi thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư, các ĐCTC nhận được lệ
phí quản lý tài sản từ phía khách hàng; đồng thời, họat động này cũng góp phần
làm tăng uy tín của các ĐCTC và phát triển các hoạt động khác như lưu ký,
thanh toán hay tư vấn đầu tư. Tuy nhiên, các ĐCTC phải đảm bảo nguyên tắc ưu
tiên và tôn trọng quyền lợi của khách hàng trước quyền lợi của bản thân để tạo
ra lòng tin cho công chúng đầu tư.
2.4.5. Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Sự xuất hiện đa dạng của các loại quỹ đầu tư với các chứng chỉ quỹ đầu tư