Giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 14



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY SỰ THAM GIA
CỦA CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Cẩm Trang
Lớp : Anh 4 - K41A - KTĐN
Giáo viên hướng dẫn : TS. Tăng Văn Nghĩa


NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUNG GIAN TÀI CHÍNH 7
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 7
I. Tổng quan về Thị trƣờng chứng khoán 7
1. Sự hình thành Thị trƣờng chứng khoán 7
2. Khái niệm và phân loạI thị trƣờng chứng khoán 8
2.1. Khái niệm 8
2.2. Phân loại 9
3. Vai trò của thị trƣờng chứng khoán 12
4. Các chủ thể tham gia thị trƣờng chứng khoán 14
4.1. Chính phủ
4.2. Các doanh nghiệp 15
4.3. Các nhà đầu tƣ cá thể 15
4.4. Các trung gian tài chính 16
II. Khái quát về trung gian tài chính và hoạt động của các trung gian tài chính
trên thị trƣờng chứng khoán 16
1. Khái niệm 16
2.Phân loại 17
3. Vai trò 20
4. Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trƣờng chứng khoán.
21
III. Kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới về việc thúc đẩy sự tham gia
của các trung gian tài chính trên thị trƣờng chứng khoán 28
IV. Các điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài
chính trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam 32 3
1. Các điều kiện khách quan 32
2. Các điều kiện chủ quan 36
CHƢƠNG 2 37

TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 76
I. Định hƣớng phát triển của trung gian tài chính trên Thị trƣờng chứng khoán
Việt Nam 76
1. Định hƣớng phát triển thị trƣờng tài chính Việt Nam đến năm 2010
76
2. Định hƣớng phát triển thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đến năm
2010 78
II. Giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam 80
1. Các giải pháp vĩ mô 80
2. Các giải pháp vi mô 90
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

5
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trƣờng chứng khoán là một bộ phận không thể thiếu đƣợc trong hệ
thống tài chính của các nƣớc theo nền kinh tế thị trƣờng. Kinh nghiệm của các
nƣớc cho thấy, sự tham gia của các trung gian tài chính có một ý nghĩa quan
trọng trong việc làm tăng chất lƣợng và hiệu quả hoạt động của thị trƣờng
chứng khoán. Mặt khác, kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực hoạt động
quan trọng của các trung gian tài chính. Phát triển các hoạt động trên thị
trƣờng chứng khoán là một hƣớng chiến lƣợc quan trọng của các trung gian
tài chính.

trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trƣờng chứng khoán ở Việt
Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi
Đối tƣợng nghiên cứu chính của khoá luận là: các trung gian tài chính
và hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trƣờng chứng khoán của
Việt Nam trong giai đoạn 7/2000 – 10/2006.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp
với các phƣơng pháp phỏng vấn, thu thập thông tin, tổng hợp, so sánh và phân
tích tình huống, v.v để nghiên cứu.

7
CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUNG GIAN TÀI CHÍNH
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN

I. Tổng quan về thị trƣờng chứng khoán
1. Sự hình thành thị trƣờng chứng khoán
Thị trƣờng chứng khoán đƣợc xem là đặc trƣng cơ bản, là biểu tƣợng
của nền kinh tế hiện đại. Là một bộ phận cấu thành của thị trƣờng tài chính,
thị trƣờng chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các
chứng khoán - các hàng hoá và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia.
Việc trao đổi mua bán này đƣợc thực hiện theo những quy tắc ấn định trƣớc.
Hình thức sơ khai của thị trƣờng chứng khoán đã xuất hiện cách đây hàng
trăm năm. Vào khoảng thế kỷ 15, ở các thành phố trung tâm thƣơng mại của các
nƣớc phƣơng Tây, trong các chợ phiên hay hội chợ, các thƣơng gia thƣờng tụ tập
tại các quán cà phê để thƣơng lƣợng mua bán, trao đổi hàng hoá.

Thị trƣờng chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, trao đổi
các loại chứng khoán. Chứng khoán đƣợc hiểu là các loại giấy tờ hay bút toán
ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ
chức phát hành.
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị
trƣờng sơ cấp (Primary Market) hay thị trƣờng thứ cấp (Secondary Market),
tại Sở giao dịch (Stock Exchange) hay thị trƣờng giao dịch qua quầy (Over -
the Counter Market), ở thị trƣờng giao ngay (Spot Market) hay thị trƣờng có
kỳ hạn (Future Market). Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ
sở hữu của chứng khoán.
Là đặc trƣng cơ bản của thị trƣờng vốn, thị trƣờng chứng khoán cung
cấp chủ yếu vốn trung hạn và dài hạn cho nền kinh tế. Loại hàng hoá quan trọng
của thị trƣờng chứng khoán là cổ phiếu và trái phiếu, các công cụ huy động vốn 9
trung và dài hạn. Ngoài ra có thể kể tới các hàng hoá khác nhƣ tín phiếu kho
bạc, các công cụ dẫn suất nhƣ hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn.
Trên thị trƣờng chứng khoán, ngƣời ta tạo ra các giao dịch sơ cấp để
các nhà phát hành có thể bán chứng khoán mới nhằm huy động vốn cho các
mục đích đầu tƣ hoặc các mục đích khác, và tạo ra các giao dịch thứ cấp để các
chứng khoán đã đƣợc phát hành dễ dàng chuyển nhƣợng giữa ngƣời mua và
ngƣời bán. Chính nhờ các giao dịch này mà thị trƣờng chứng khoán đã có đóng
góp quan trọng cho hệ thống tài chính quốc gia trong việc cung cấp một cơ chế
chuyển các khoản tiết kiệm thành tài sản cụ thể và các danh mục đầu tƣ.
2.2. Phân loại
2.2.1. Phân loại theo hàng hoá
Theo các loại hàng hoá đƣợc mua bán trên thị trƣờng, ngƣời ta có thể
phân thị trƣờng chứng khoán thành thị trƣờng trái phiếu, thị trƣờng cổ phiếu
và thị trƣờng các công cụ dẫn suất. Thị trƣờng trái phiếu (Bond Markets) là

chính phủ, các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trƣờng nhằm tài trợ cho
các dự án đầu tƣ.
Thị trƣờng thứ cấp hay thị trƣờng cấp 2 (Secondary Market) là thị
trƣờng giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đã đƣợc phát hành
nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tƣ hay di chuyển tài sản xã hội.
Có thể nói, thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp có quan hệ mật thiết,
hỗ trợ lẫn nhau. Nếu không có thị trƣờng sơ cấp sẽ không có thị trƣờng thứ
cấp, đồng thời, thị trƣờng thứ cấp lại tạo điều kiện phát triển cho thị trƣờng sơ
cấp. Mục đích cuối cùng của các nhà quản lý là phải tăng cƣờng hoạt động
huy động vốn trên thị trƣờng sơ cấp, vì chỉ có tại thị trƣờng này, vốn mới thực
sự vận động từ ngƣời tiết kiệm sang ngƣời đầu tƣ, còn sự vận động của vốn
trên thị trƣờng thứ cấp chỉ là tƣ bản giả, không tác động trực tiếp tới việc tích
tụ và tập trung vốn. 11
2.2.3. Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường
Thị trƣờng chứng khoán có thể đƣợc tổ chức theo hai cách. Cách thứ
nhất là tổ chức thành các Sở giao dịch (Stock Exchange), tại đây, ngƣời mua
và ngƣời bán (hoặc đại lý, môi giới của họ) gặp nhau tại một địa điểm nhất
định để tiến hành giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán. Chính vì vậy,
ngƣời ta còn gọi Sở giao dịch chứng khoán là thị trƣờng tập trung, nơi giao
dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có
hiệu quả.
Sở giao dịch chứng khoán đƣợc quản lý một cách chặt chẽ bởi Uỷ ban
chứng khoán quốc gia, các giao dịch chịu sự điều tiết của Luật Chứng khoán
và thị trƣờng chứng khoán. Những thị trƣờng tiêu biểu đƣợc biết đến là Sở
giao dịch chứng khoán Luân đôn (London Stock Exchange), Sở giao dịch
chứng khoán Mỹ (American Stock Exchange), Sở giao dịch chứng khoán Pari
(Paris Stock Exchange).

kiểm soát chặt chẽ của các ngân hàng thƣơng mại. Thị trƣờng chứng khoán
khuyến khích tính cạnh tranh của các công ty trên thị trƣờng. Sự tồn tại của
thị trƣờng chứng khoán cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài. Đây chính là các yếu tố đảm bảo cho sự phân bổ có hiệu quả các nguồn
lực trong một quốc gia cũng nhƣ trong phạm vi quốc tế.
Thứ hai, thị trƣờng chứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối
công bằng hơn, thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng
khoán ra công chúng, giải toả sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn,
song vẫn tập trung vốn cho phát triển kinh tế. Việc tăng cƣờng tầng lớp trung
lƣu trong xã hội, tăng cƣờng sự giám sát của xã hội đối với quá trình phân
phối đã giúp nhiều nƣớc tiến xa hơn tới một xã hội công bằng và dân chủ.
Việc giải toả tập trung quyền lực kinh tế cũng tạo điều kiện cạnh tranh công
bằng hơn, qua đó tạo hiệu quả và tăng trƣởng kinh tế. 13
Thứ ba, thị trƣờng chứng khoán tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa
sở hữu và quản lý doanh nghiệp. Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, môi
trƣờng kinh doanh trở nên phức tạp hơn, nhu cầu về quản lý chuyên trách
cũng tăng theo. Thị trƣờng chứng khoán tạo điều kiện cho việc tiết kiệm vốn
và chất xám, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nƣớc. Cơ chế thông tin hoàn hảo tạo khả năng giám sát cao của thị trƣờng
chứng khoán đã làm giảm tác động của các tiêu cực trong quản lý, tạo điều
kiện kết hợp hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu, nhà quản lý và những ngƣời
làm công.
Thứ tư, hiệu quả của quốc tế hoá thị trƣờng chứng khoán. Việc mở cửa
thị trƣờng chứng khoán làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế.
Điều này cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn, tăng cƣờng
đầu tƣ từ nguồn tiết kiệm bên ngoài, đồng thời tăng cƣờng khả năng cạnh tranh
quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nƣớc.

nhất, chính phủ với tƣ cách là ngƣời tổ chức và quản lý thị trƣờng mà đại diện
ở đây là Uỷ ban chứng khoán nhà nƣớc, cơ quan quản lý nhà nƣớc về chứng
khoán và thị trƣờng chứng khoán. Uỷ ban chứng khoán nhà nƣớc tổ chức,
hƣớng dẫn và quản lý các thị trƣờng chứng khoán, đồng thời soạn thảo các
văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán để trình các cấp
có thẩm quyền xem xét quyết định, cũng nhƣ tổ chức và hƣớng dẫn thực hiện
các văn bản đó.
Ngoài Uỷ ban Chứng khoán nhà nƣớc, các cơ quan quản lý nhà nƣớc
khác nhƣ ngân hàng nhà nƣớc, bộ tài chính, các bộ chủ quản cũng có vai trò
quan trọng trong hoạt động quản lý đối với các thành viên tham gia thị trƣờng.
Thứ hai, chính phủ tham gia thị trƣờng nhƣ là một nhà phát hành và
kinh doanh chứng khoán. Để tài trợ cho các dự án đầu tƣ hoặc chi tiêu dùng,
chính phủ có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn. Trái phiếu chính
phủ, tín phiếu kho bạc là loại hàng hoá chủ đạo của thị trƣờng chứng khoán. 15
Ngân hàng nhà nƣớc có thể tham gia thị trƣờng khi sử dụng nghiệp vụ thị
trƣờng mở để thực thi chính sách tiền tệ. Chính phủ cũng có thể tham gia thị
trƣờng cổ phiếu khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc hoặc muốn tham gia
quản lý, nắm quyền kiểm soát các doanh nghiệp.
4.2. Các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp là chủ thể quan trọng trên thị trƣờng chứng khoán.
Các doanh nghiệp cung cấp các loại hàng hoá quan trọng cho thị trƣờng
chứng khoán. Cổ phiếu và Trái phiếu doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao hơn
Trái phiếu Chính Phủ và là một công cụ hấp dẫn đối với các nhà đầu tƣ.
Pháp luật từng nƣớc quy định cụ thể loại hình doanh nghiệp nào đƣợc
phép phát hành chứng khoán. Về cơ bản, các công ty cổ phần có thể phát
hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để thu hút vốn trên thị trƣờng. Công ty có thể tự
mình phát hành chứng khoán hoặc phát hành thông qua đại lý hoặc bảo lãnh

II. Khái quát về trung gian tài chính và hoạt động của trung gian
tài chính
1. Khái niệm
Trung gian tài chính (Financial Intermediaries) trƣớc hết là tổ chức tài
chính, một loại hình doanh nghiệp mà tài sản chính của nó là các tài sản tài
chính. Điều này khác với các doanh nghiệp thông thƣờng với các tài sản
chính là các tài sản thực nhƣ nhà cửa, trang thiết bị, nguyên vật liệu.
Các tổ chức tài chính cho các khách hàng vay hoặc mua các chứng
khoán trên thị trƣờng đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng, từ
việc cung cấp các phƣơng tiện thanh toán, bảo quản tài sản, tƣ vấn, môi giới
đến các dịch vụ bảo hiểm v.v cho các nhà đầu tƣ. Trung gian tài chính nắm
giữ các giấy nhận nợ đƣợc phát hành bởi những ngƣời đi vay (Chứng khoán
sơ cấp) và đồng thời bán các giấy nhận nợ của chính nó (Chứng khoán thứ
cấp) cho những ngƣời tiết kiệm. 17
Nói một cách khác, trung gian tài chính là cầu nối giữa những ngƣời
cần vốn và những ngƣời có vốn
Có nhiều hình thức trung gian. Trung gian về quy mô diễn ra khi các tổ
chức tài chính chấp nhận những khoản tiết kiệm nhỏ từ phía các cá nhân và tổ
chức, trên cơ sở đó, tích tụ, tập trung thành những lƣợng vốn lớn để cho vay
các tổ chức kinh tế và Chính Phủ.
Trung gian về rủi ro phá sản là việc các tổ chức tài chính sẵn sàng cho
các tổ chức và cá nhân vay với mức mạo hiểm cao hơn trong khi cung cấp các
công cụ ít rủi ro hơn cho các nhà đầu tƣ.
Trung gian về thời hạn thanh toán đƣợc thực hiện khi các trung gian tài
chính cung cấp những công cụ có tính thanh khoản cao cho những ngƣời tiết
kiệm và sẵn sàng chấp nhận các công cụ có tính lỏng thấp từ phía các nhà đầu
tƣ. Bằng cách này, trung gian tài chính đã chuyển đƣợc thời hạn của vốn từ

Các hiệp hội tiết kiệm và cho vay (S & L) hiện nay không khác nhiều với
các ngân hàng thƣơng mại. Các tổ chức này huy động vốn bằng cách huy động
tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi có thể phát séc và do tính thanh
khoản của nguồn vốn thấp hơn các ngân hàng thƣơng mại nên các tổ chức này
thƣờng tập trung nhiều hơn vào cho vay thế chấp và đầu tƣ chứng khoán.
Các ngân hàng tiết kiệm tƣơng trợ (Mutual Savings Banks) rất giống
với các hiệp hội tiết kiệm và cho vay. Nó thu hút vốn bằng cách nhận tiền gửi
và chủ yếu cho vay thế chấp. Các tổ chức này hoạt động có tính chất tƣơng
trợ, tức là chủ yếu huy động và cho vay giữa các thành viên.
Các liên hiệp tín dụng (Credit Unions) là các tổ chức cho vay nhỏ có
tính chất hợp tác xã đƣợc tổ chức xung quanh một nhóm xã hội đặc biệt. Các
hiệp hội này chủ yếu cho vay tiêu dùng trƣớc hết là đối với các thành viên.
Các tổ chức này cũng có thể đƣợc phép phát hành các tài khoản séc và cho
vay thế chấp.
19
2.2. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng là các trung gian tài chính mà
nhiệm vụ chủ yếu và thƣờng xuyên là thu nhận vốn một cách định kỳ trên cơ
sở hợp đồng bảo hiểm nhằm chia sẻ rủi ro giữa những ngƣời tham gia bảo
hiểm dựa trên quy luật số lớn. Các tổ chức này có thể lƣợng hoá đƣợc các
khoản chi trả cho việc hạn chế, phòng ngừa, khắc phục những tổn thất do các
rủi ro gây ra, và do đó, có thể xác định lƣợng tiền đầu tƣ vào các tài sản kém
lỏng hơn trên thị trƣờng chứng khoán nhƣ Trái phiếu Chính Phủ, trái phiếu
doanh nghiệp và cổ phiếu. Các tổ chức này bao gồm các công ty bảo hiểm
nhân thọ, các công ty bảo hiểm cháy và tai nạn, các quỹ trợ cấp tƣ nhân, các
quỹ hƣu trí bang và địa phƣơng.
2.3. Các trung gian đầu tư

3. Vai trò
Tại sao các trung gian tài chính có vai trò cực kỳ quan trọng trên thị
trƣờng chứng khoán.Thực tế ở Mỹ cho thấy cổ phiếu không phải là phƣơng
tiện huy động vốn hiệu quả nhất đối với các doanh nghiệp.
Thứ nhất, các trung gian tài chính có vai trò quan trọng đối với việc
huy động vốn của các doanh nghiệp. Khoảng 2/3 lƣợng vốn huy động của các
doanh nghiệp Mỹ trong giai đoạn 1970 đến 1985 là đi vay từ các ngân hàng
thƣơng mại. Thậm chí, các trung gian tài chính nắm giữ tới 95% lƣợng trái
phiếu doanh nghiệp và tới 50% lƣợng cổ phiếu mới phát hành. Điều này nói
lên rằng, chỉ có các doanh nghiệp hàng đầu mới có thể huy động trực tiếp và
các ngân hàng là nguồn vốn quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp.
Thứ hai, bên cạnh việc thị trƣờng chứng khoán đƣợc xem là kênh dẫn
vốn trực tiếp cho các tổ chức phát hành, các tổ chức tài chính trung gian cũng
có một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển và tăng tính hiệu
quả của thị trƣờng. 21
Thứ ba, trung gian tài chính có thể giảm chi phí giao dịch từ việc tiết
kiệm do quy mô. Với lợi thế chuyên môn hoá, các trung gian tài chính có thể
giảm chi phí cho việc thu thập và xử lý thông tin, từ đó, chi phí thông tin trên
một đơn vị giao dịch sẽ nhỏ hơn so với chi phí loại này của cá nhân một nhà
đầu tƣ. Các trung gian tài chính cũng tiết kiệm các chi phí giao dịch khác nhƣ
chi phí luật sƣ, chi phí về kỹ thuật.
Thứ tƣ, các trung gian cũng có thể tiết kiệm đƣợc các khoản chi phí do
tận dụng khai thác triệt để cơ sở vật chất, nhân lực trong việc cung cấp các dịch
vụ hỗ trợ cho các nhà đầu tƣ. Trên cơ sở số lớn, các trung gian có thể dễ dàng
đa dạng hoá đầu tƣ, điều mà một nhà đầu tƣ cá thể khó có thể thực hiện đƣợc.
Đặc biệt, các thị trƣờng mới nổi có hệ thống luật pháp chƣa hoàn thiện,
môi trƣờng đầu tƣ có rủi ro cao, vốn và kiến thức của các nhà đầu tƣ rất hạn

Trong hoạt động ngân quỹ, các trung gian tài chính thƣờng đầu tƣ ngắn
hạn vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chủ yếu nhằm dự trữ thứ
cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng và nhu cầu tích trữ. Các chứng
khoán thƣờng đƣợc lựa chọn cho mục đích này là tín phiếu kho bạc, chứng
chỉ tiền gửi có thể đƣợc chuyển nhƣợng.
Hoạt động ngân quỹ là cầu nối quan trọng giữa thị trƣờng tín dụng và
thị trƣờng chứng khoán. Khi thị trƣờng tín dụng trầm lắng, một bộ phận vốn
trên thị trƣờng tín dụng sẽ đƣợc dịch chuyển sang thị trƣờng chứng khoán
thông qua hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính.
Ngƣợc lại, khi nhu cầu tín dụng tăng lên, các trung gian tài chính sẽ bán các
chứng khoán để tăng lƣợng vốn cho hoạt động tín dụng.
Khác với hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tƣ chứng khoán của các
trung gian tài chính tập trung vào các chứng khoán có tính thanh khoản thấp
hơn và với thời hạn đầu tƣ dài hơn. Chiến lƣợc đầu tƣ chứng khoán của các 23
trung gian tài chính đƣợc xây dựng với các danh mục đầu tƣ đa dạng: Danh
mục đầu tƣ trái phiếu; danh mục đầu tƣ cổ phiếu; danh mục đầu tƣ hỗn hợp.
Các loại trung gian tài chính khác nhau thƣờng lựa chọn các danh mục
đầu tƣ khác nhau, với các mức độ rủi ro khác nhau: Các ngân hàng thƣơng
mại, các tổ chức bảo hiểm và các tổ chức tín dụng khác thƣờng đầu tƣ nhiều
hơn vào trái phiếu Chính Phủ; Các quỹ đầu tƣ chứng khoán đầu tƣ vào các
chứng khoán đƣợc giao dịch trên thị trƣờng tập trung; Các quỹ đầu tƣ mạo
hiểm đầu tƣ vào chứng khoán do các doanh nghiệp mới phát hành, thƣờng
đƣợc giao dịch trên thị trƣờng giao dịch qua quầy.
Hoạt động đầu tƣ chứng khoán của các trung gian tài chính không chỉ
vì mục đích tìm kiếm thu nhập qua tăng giá chứng khoán mà còn vì mục đích
thôn tính và sáp nhập.
Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính ngày

phụ thuộc vào quy định của pháp luật, vào tính chất của đợt phát hành, loại
hình bảo lãnh và phụ thuộc quan hệ giữa tổ chức phát hành với tổ chức phân
phối chứng khoán.
4.4. Môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để hƣởng hoa hồng. Nghề môi giới xuất hiện
cùng với sự xuất hiện của thị trƣờng chứng khoán và thƣờng đƣợc xem là đặc
quyền của các công ty chứng khoán. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các
trung gian tài chính, nhiều tổ chức khác cũng tham gia vào thị trƣờng môi giới
nhƣ các ngân hàng thƣơng mại, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính.
Để có thể thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, các trung gian tài
chính phải có đủ các điều kiện cần thiết theo yêu cầu của Luật chứng khoán.
Các yêu cầu này bao gồm: Yêu cầu về vốn pháp định; yêu cầu về giấy phép
hành nghề đối với giám đốc và các môi giới; các yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ
thuật và phải đƣợc Uỷ ban chứng khoán cấp giấy phép hoạt động môi giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status