I. Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Thị trờng chứng khoán Việt Nam đã chính thức đa vào vận hành từ
tháng 7/2000, đánh dấu bằng việc khai trơng Trung tâm giao dịch chứng
khoán (TTGDCK) đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đời của
TTGDCK đã tạo ra một cơ chế linh hoạt trong thu hút và phân bổ các nguồn
vốn trung, dài hạn đến nơi sử dụng có hiệu quả, góp phần cùng với hệ thống
ngân hàng tạo nên một hệ thống cung ứng vốn cho sự nghiệp công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nớc. Tuy nhiên, việc đa vào vận hành TTGDCK chỉ
mới là giai đoạn thử nghiệm trớc khi chúng ta xây dựng một Sở giao dịch
chứng khoán hoàn chỉnh với quy mô hiện đại, vì vậy các thiết chế vận hành,
quy mô và đối tợng tham gia vào thị trờng còn hạn chế, cha đáp ứng đợc yêu
cầu của một thị trờng vốn đầy đủ. Đặc biệt là sự tham gia của các trung gian
tài chính vào thị trờng chứng khoán còn nhiều hạn chế, đây là các định chế
tài chính đã tồn tại và phát triển gần 50 năm và có quan hệ gần gũi và mật
thiết với thể chế thị trờng chứng khoán. Mặc dù trong thời gian qua, các ngân
hàng thơng mại, tổ chức bảo hiểm và tổ chức kiểm toán đã trực tiếp hoặc gián
tiếp tham gia vào cơ chế vận hành của thị trờng chứng khoán. Tuy nhiên, đây
mới chỉ là sự khởi đầu, hoạt động mang tính chất thăm dò, vì vậy trong quá
trình triển khai các trubg gian này hoạt động không hiệu quả, cha khẳng định
đợc vị thế của mình. Nhiều tổ chức ngân hàng và tài chính vẫn đứng ngoài
cuộc chơi của thị trờng chứng khoán, bởi lẽ cơ chế vận hành và cách thức
tham gia vào thị trờng nh thế nào để phát huy hiệu quả vẫn là những trở ngại
ban đầu đối với các định chế này.
Xuất phát từ yêu cầu trên, đề tài: Các giải pháp thúc đẩy sự tham
gia của các trung gian tài chính trên TTCK Việt Nam là đề tài nghiên
cứu nhằm góp phần vào việc khẳng định vị thế của các trung gian tài chính
trong cơ cấu thị trờng chứng khoán và đánh giá vai trò, khả năng tham gia
1
của các tổ chức ngân hàng-tài chính trong giai đoạn vừa qua, trên cơ sở đó đề
tài chính trên TTCK Việt Nam
Ngoài phấn mở đầu ,phần kết luận,danh mục tài liệu tham khảo.Đề án
gồm hai chơng
- Chơng I: Sự tham gia của trung gian tài chính vào TTCK
- ChơngII: Thực trạng và các giả pháp thúc đẩy sự tham gia của các
trung gian tài chính vào TTCK
3
chơngi: sự tham gia của các trung gian tàI chính
vào thị trờng chứng khoán(TTCK)
1- Khái niệm chung về các trung gian tài chính
1.1. Khái niệm trung gian tài chính
Trung gian tài chính là một doanh nghiệp mà tài sản chủ yếu của nó là
các tài sản tài chính hay còn gọi là các hình thức trái quyền- nh cổ phiếu, trái
phiếu và khoản cho vay- thay vì tài sản thực nh nhà cửa, công cụ và nguyên
vật liệu. Trung gian tài chính cho khách hàng vay hoặc mua chứng khoán đầu
t trong thị trờng tài chính. Ngoài ra các định chế này còn cung cấp đa dạng
các dịch vụ tài chính khác, từ bảo hiểm và bán các hợp đồng lơng hu, cho đến
giữ hộ tài sản có giá và cung cấp một cơ chế cho việc thanh toán, chuyển tiền
và lu trữ thông tin tài chính.
1.2. Những trung gian tài chính chủ yếu
Những trung gian tài chính chủ yếu xuất hiện trong nền kinh tế thị tr-
ờng gồm có:
Ngân hàng thơng mại
Hiệp hội tiết kiệm và các tổ chức tín dụng khác.
Công ty tài chính
Công ty chứng khoán
Công ty t vấn tài chính
Công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu t (tơng hỗ, hu trí, phát triển).
Các tổ chức bảo hiểm
đồng giảm thiểu những khoản đầu t lu hoạt ngắn hạn và vơn tới những tài sản
đầu t dài hạn có mức sinh lợi cao hơn.
1.3. Vai trò của các trung gian tài chính trênTTCK
Các trung gian tài chính là một phần của hệ thống tài chính. Hệ thống
tài chính bao gồm một mạng lới các thị trờng tài chính, tiền tệ, các định chế,
các doanh nghiệp, công chúng và nhà nớc tham gia trong hệ thống đó và điều
tiết hoạt động của nó.
5
Cầu nối tài chính giữa ngời cho vay và ngời sử dụng vốn.
Chức năng nền tảng của các trung gian tài chính là chuyển những
khoản tiền từ những ngời cho vay đến những ngời đi vay. Những tổ chức, cá
nhân có các khoản thu nhập d thừa có thể cho các cá nhân, tổ chức khác
trong hệ thống tài chính vay. Các cá nhân, tổ chức và chính phủ thiếu hụt vốn
cho các khoản chi phí và đầu t phát triển có thể vay, huy động vốn thông qua
hệ thống tài chính. Hệ thống tài chính và các trung gian tài chính là con kênh
chuyển các khoản vốn các cá nhân, tổ chức d thừa vốn sang các cá nhân tổ
chức thiếu vốn. Trong các nền kinh tế định hớng thị trờng ngày nay thì hầu
hết tiền tiết kiệm của các cá nhân lu chuyển thông qua hệ thống tài chính đến
ngời sử dụng vốn chính là các doanh nghiệp và chính phủ. Thông qua các
trung gian tài chính, ngời cho vay và ngời sử dụng vốn đều đợc thoả mãn các
yêu cầu về tài chính bên canh đó ngời cho vay đợc đảm bảo an toàn đối với
khoản tiền của họ và ngời đi vay có thể nhận đợc khoản tiền họ cần một cách
nhanh chóng cho các nhu cầu sử dụng vốn của họ. Ngời cho vay muốn thông
qua các trung gian tài chính vì họ giảm thiểu đối với các rủi ro không đợc
thanh toán, tính thanh khoản cao, nhà đầu t có số tiền d thừa nhỏ cũng co thể
tham gia và sự thuận tiện đợc cung cấp dịch vụ bởi một trung gian tài chính
tại địa phơng.
Giảm thiểu rủi ro trên cơ sở đa dạng hoá đầu t.
Các trung gian tài chính còn tham gia vào việc tập trung rủi ro và lợi
vững uy tín. Bên cạnh đó, thông tin về ngời đi vay đợc trao đổi giữa các
trung gian tài chính, do đó ngời đi vay có thể tìm kiếm thêm vốn đầu t từ các
trung gian tài chính khác trên thị trờng.
Cung cấp một cơ chế thanh toán.
Trong hệ thống tài chính ngân hàng của một quốc gia, các trung gian
tài chính thông qua một trung tâm bù trừ trung ơng cung cấp dịch vụ thanh
toán cho toàn xã hội. Hệ thống bù trừ giữa các ngân hàng giải quyết các giao
dịch trong một giai đoạn xác định và chỉ thanh toán các khoản tiền ròng cần
thiết để quyết toán các khoản thu chi giữa các ngân hàng. Cơ chế thanh toán
7
mà hệ thống tài chính ngân hàng cung cấp cho xã hội cho phép giảm bớt chi
phí, đảm bảo an toàn cho việc thực hiện các giao dịch. Thông qua mạng lới
rộng khắp của mình, hệ thống tài chính ngân hàng cho phép việc thực hiện
thanh toán một cách nhanh nhất trên phạm vi toàn thế giới
2. Khái niệm chung về thị trờng chứng khoán
2.1. Khái niệm thị trờng chứng khoán
Thị trờng chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch
mua bán,trao đổi các loại chứng khoán trung và dài hạn.
Xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi
các loại chứng khoán, qua đó thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán.
Xét về mặt bản chất:
- TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm.
- TTCK là trung gian tài chính trực tiếp:cả chủ thể cung và cầu vốn
đều tham gia vào thị trờng một cách trực tiếp.Qua kênh dẫn vốn trực tiếp, các
chủ thể đầu t đã thực sự gắn quyền sử dụng và quyền sở hữu về vốn, nâng cao
tiềm năng quản lý vốn
- TTCK thực chất là quá trình vận động của t bản tiền tệ, chuyển t bản
tiền tệ từ t bản sở hữu sang t bản chức năng.
2.2 Phân loại TTCK
h nh l n u. Nói cách khác th trng th cp l th trng mua i bán li
các loi chng khoán ợc phát h nh qua th trng s cp.
2.2.3. Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trờng
- Thị trờng chứng khoán tập trung,tổ chức hình thành nên các sở giao
dịch :là thị trờng hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật,là nơi mua
bán các loại chứng khoán đã đợc đăng ký tc là đã đựoc cơ quan có thẩm
quyền cho phép bảo đảm phân phối và mua bán qua trung gian.Đây là nơi
mua bán trao đổi các loại chứng khoán của các công ty lớn và hoạt động có
9
hiệu quả. Hay các loại chứng khoán do chính phủ hoặc các cơ quan công
quyền phát hành và đảm bảo.
- Thị trờng chứng khoán phi tập trung (OTC): là thị trờng mua bán
chứng khoán nằm ngoài sở giao dịch, không có địa điểm tập trung mà có thể
diễn ra tại tất cả các quầy sàn giao dịch của các thành viên,đây là thị trờng
của các nhà buôn, những ngời tạo lập thị trờng (market makers) các giao dịch
ở đây chủ yếu dựa váo thoả thuận giữa ngời mua và ngời bán các chứng
khoán giao dịch ở đây thong là chứng khoán của các công ty nhỏ mức độ rủi
ro cao,ít ngời biết đến hoặc ít ngời mua bán
2.2.4. Phân loại theo cơ chế giao dịch
Thị trờng giao ngay:là thị trờng mua bán chứng khoán theo giá ở thời
điểm giao dịch nhng việc thực hịên thanh toán và giao hàng có thể diễn ra
sau đó một vài ngày theo thoả thuận
Thị trừơng giao sau:là thị trờng mua bán chứng khoán theo một hợp
đồng định sẵn giá cả đợc thoả thuận trong ngày giao dịch nhng việc thanh
toán và giao hàng diễn ra trong tơng lai
2.3.Vai trò của thị trờng chứng khoán
TTCK có vai trò rất quan trong đối với nền kinh tế của mỗi nớc, trong
xu thế hội nhập hiện nayđòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế
với tốc độ cao và hiệu quả,thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia đã khẳng
trờng quốc tế. Điều này làm cho các công ty có thể huy động vốn rẻ hơn tăng
cờng đầu t từ nguồn tiết kiệm bên ngoài,đồng thời tăng khả năng cạnh tranh
trên thị trờng quốc tế và mở rông các công cụ kinh doanh của công ty trong
nớc.
3. Một số mô hình trung gian tài chính trên thị trờng chứng
khoán thế giới
Nh đã trình bày ở phần trên, các trung gian tài chính tham gia vào
TTCK dới nhiều hình thái khác nhau và mức độ tiếp cận cũng hoàn toàn khác
nhau, tuy nhiên sự xâm nhập hay nói khác là sự tham gia của mô hình trung
11
gian ngân hàng thơng mại vào thị trờng chứng khoán là đặc trng rõ nét nhất
và nổi bật nhất. Trong phần này, đề tài đi sâu nghiên cứu một số mô hình đặc
trng của sự tham gia của các trung gian ngân hàng tiêu biểu trên thế giới.
3.1. Mô hình định chế tài chính đa năng
Theo mô hình này hoạt động chung trên lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm,
chứng khoán...vv (đặc trng ngân hàng đa năng Đức và úc).
Mô hình này chia làm hai loại:
Loại đa năng một phần:Các trung gian tài chính tham gia thị trờng
chứng khoán phải thành lập công ty con hoạt động độc lập, đợc áp dụng tại
Anh và một số nớc có quan hệ gần với Anh nh Canada và úc.
Loại đa năng hoàn toàn: các định chế ngân hàng đợc phép kinh doanh
chứng khoán, kinh doanh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Trong mô
hình này không có bất kỳ sự tách biệt nào giữa các hoạt động ngân hàng và
chứng khoán. trong hệ thống ngân hàng đa năng, các ngân hàng thơng mại
cung cấp một danh mục đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán và bảo
hiểm, tất cả trong một pháp nhân duy nhất. Mô hình đa năng hoàn toàn này
đợc áp dụng chủ yếu ở các nớc Đúc, Bắc Âu, Hà Lan, Thụy sỹ và ở áo.
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo
hiểm có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho
khoán.
Mô hình này đợc áp dụng ở nhiều nớc, trong đó đáng chú ý là Mỹ,
Nhật Bản, Hàn Quốc.
Ưu điểm của mô hình này là:
- Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng;
- Tạo điều kiện cho thị trờng chứng khoán phát triển.
Tuy nhiên trong thời gian gần đây, ở các nớc áp dụng mô hình này đã
có xu hớng giảm dần hạn chế về kinh doanh chứng khoán đối với ngân hàng
thơng mại và từng bớc mở rộng quyền của ngân hàng thơng mại, tổ chức tài
chính tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán trên thị trờng chứng
khoán. Một trong những vấn đề về mô hình công ty chứng khoán gây tranh
13
luận là nên chăng cho phép công ty chứng khoán thực hiện chức năng quản lý
quỹ tín thác đầu t, hay chức năng công ty quản lý quỹ đầu t và từ đó lập các
quỹ đầu t chứng khoán. Vấn đề này ở các nớc khác nhau cũng có cách tiếp
cận và mô hình khác nhau. Một số quốc gia nh Nhật Bản, Trung quốc, Thái
Lan và các nớc theo mô hình ngân hàng đa năng, cho phép công ty chứng
khoán đợc làm chức năng công ty quản lý quỹ đầu t, các quốc gia theo mô
hình chuyên doanh chứng khoán nh Mỹ thì tách biệt loại hình công ty quản
lý quỹ tơng hỗ đầu t, tín thác đầu t ra khỏi công ty kinh doanh chứng khoán.
Vì vậy, việc cho phép công ty chứng khoán thực hiện chức năng công
ty quản lý quỹ đầu t, quỹ tơng hỗ là vấn đề lớn và lệ thuộc vào khả năng quản
lý, sự phát triển củaTTCK. Tuy nhiên, ở các thị trờng mới nổi, nhiều nhà kinh
tế và nhà hoạch định chính sách cho rằng nên tách riêng 2 lĩnh vực hoạt động
này (theo mô hình Mỹ) vì lợi ích của các nhà đầu t cũng nh để phát triển tốt
TTCK
4. Các hoạt động của trung gian tài chính trên thị trờng
chứng khoán
4.1 Sự tham gia của các ngân hàng thơng mại vào quá trình thành lập
TTCK nớc sở tại lu giữa bảo quản chứng khoán cho mình, tái lu ký này vào
Trung tâm lu ký chứng khoán. Tại những nớc đó, mối quan hệ uỷ thác này đ-
ợc thực hiện trên cơ sở các hợp đồng pháp lý. Do thực hiện chức năng cung
cấp dịch vụ dịch vụ lại đối với các tổ chức lu ký toàn cầu, các thành viên lu
ký nớc sở tại còn đợc gọi là các tổ chức lu ký phụ
Các tổ chức đợc phép trở thành thành viên lu ký là các tổ chức đáp ứng
đợc các điều kiện về mức vốn, điều kiện về uy tín, điều kiện về cơ sở vật chất
kỹ thuật, khả năng quản lý chứng khoán cho khách hàng, thực hiện việc đóng
góp, thực hiện việc báo cáo và chịu sự quản lý, giám sát của các cơ quan Nhà
nớc có thẩm quyền và của các tổ chức điều hành hệ thống. Mỗi nớc sẽ có các
qui định cụ thể đối với các tổ chức đủ điều kiện trở thành thành viên lu ky
15
4.3. Tham gia của các ngân hàng đóng vai trò ngân hàng chỉ định thanh
toán, ngân hàng giám sát
Ngân hàng chỉ định thanh toán là ngân hàng thơng mại lớn ,đợc cơ
quan nhà nớc có thẩm quyền chỉ định để mở tài khoản thanh toán cho trung
tâm giao dịch và thành viên lu ký để phục vụ cho việc thanh toán các giao
dịch.Việc thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán đợc thc hiện bằng
hình thức chuyển khoản của thành viên lu ký và trung tâm giao dịch mở tại
ngân hàng chỉ định thanh toán.Thanh toán bù trừ là khâu cuối cùng để hoàn
tất các giao dịch chứng khoán sự tham gia của ngân hàng chỉ định thanh
toán góp phần thúc đẩy quá trình thanh toán bù trừ nhanh và chính xác.
Ngân hàng giám sát:để cho một quỹ đầu t hoạt động có hiệu quả đặc
biệt là quỹ đầu t chứng khoán cùng với công ty quản lý quỹ.Ngân hàng giám
sát thực hiện việc bảo quản ,lu ký tài sản của quỹ đầu t chứng khoán và giám
sat công ty quản lý quỹnhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu t
4.4. Tham gia của các trung gian tài chính vào bảo lãnh phát hành,đại lý
phân phối chứng khoán trên TTGDCK.
Bảo lãnh phát hành là một trong những lĩnh vực hoạt động của các
nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán đợc hình thành một cách thống nhất,
công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Chính vì lẽ đó trong lĩnh vực chứng
khoán, việc qui định các báo cáo tài chính của các tổ chức phát hành và kinh
doanh chứng khoán phải đợc xác nhận bởi một tổ chức kiểm toán độc lập đã
trở thành thông lệ quốc tế.
Vai trò của kiểm toán đợc thể hiện rõ nét thông qua tính chuyên
nghiệp và quyền đa ra các đánh giá về chất lợng của các báo cáo tài chính.
Với t cách là tổ chức độc lập, các tổ chức kiểm toán tiến hành kiểm tra và xác
nhận tính đúng đắn, hợp lý và hợp pháp của các báo cáo tài chính, từ đó đảm
bảo các báo cáo tài chính công bố ra công chúng là trung thực và minh bạch.
Chính vì lẽ đó, qui định kiểm toán bắt buộc đối với các báo cáo tài chính của
tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán đã trở thành thông lệ quốc tế.
Mức độ công khai hoá của thị trờng càng cao, vai trò của tổ chức kiểm toán
17
độc lập càng đợc đề cao và là một yếu tố không thể thiếu trong câú trúc thị tr-
ờng,kiểm toán là một yếu tố không thể thiếu giúp củng cố niềm tin đối với
các hoạt động trên thị trờng chứng khoán. Các tổ chức kiểm toán còn phải
đáp ứng đợc các yêu cầu theo quy định của từng nớc nh về vốn pháp định, số
lợng kiểm toán viên tối thiểu trong công ty và số lợng khách hàng hàng
năm...vv.
4.6. Tham gia của các trung gian tài chính vào việc thành lập các tổ chức
định mức tín nhiệm
Các công ty định mức tín nhiệm đóng vai trò nổi bật trong thị trờng
chứng khoán mới nổi cũng nh thị trờng chứng khoán phát triển. Do nhu cầu
cấp thiết để phát triển một thị trờng trái phiếu và thị trờng tiền tệ nhiều biến
động nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn trong tơng lai, vai trò của các tổ chức
định mức tín nhiệm ngày càng có vai trò hết sức quan trọng. Thông thờng,
các công ty định mức tín nhiệm thành công hơn khi sự tự do hoá thị trờng tài
chính gây áp lực đến thị trờng và quyết định của t nhân đóng vai trò lớn trong
triển của TTCK từ đó tác động mạnh mẽ tới sự tham gia của các trung gian
vào sự phát triển của TTCK.Sự ổn định về chính trị và tăng trởng kinh tế là
yếu tố rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển TTCK. Bên cạnh đó
cũng phải chú ý đến vấn đề tập quán, thói làm ăn nhỏ manh mún của phần
lớn công chúng qua đó mà có những tác động định hớng, tạo sự hiểu biết
mới, hình thức đầu t mới để công chúng quen dần và coi đó là một hình thức
đầu t có thể thực hiện đợc với bất cứ ai có vốn, có ý muốn đầu t. Không
những thế còn phải duy trì tốc độ tăng trởng ,lạm phát đợc kiểm soát, giá trị
đồng nội tệ và mức lãi suất đợc bình ổn mới tạo đợc sự tin tởng của các nhà
đầu t và của ngời dân khi đầu t vào chứng khoán. Ngợc lại khi nền kinh tế có
những biểu hiện sa sút, mất ổn định sẽ ảnh hởng rất mạnh đến khả năng sinh
lời của việc đầu t chứng khoán, các nhà đầu t sẽ dừng hoạt động đầu t vào
chứng khoán và nh vậy số lợng đầu t giảm làm cho TTCK hoạt động kém
hiệu quả và có thể đi đến phá sản. Thực tế đã chứng minh rằng nhân tố đóng
góp vào sự phát triển mạnh mẽ của các thị trờng mới nổi trong những thập
19
kỷ qua, ở phần lớn là các nớc đang phát triển có sự kết hợp linh hoạt giữa
định hớng phát triển nền kinh tế thị trờng với vai trò quản lý vĩ mô của Nhà
nớc trong hoạt động củaTTCK. Các chính sách kinh tế vĩ mô cơ bản tác động
tới tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế, thông qua đó tác động tới tăng trởng
kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô (kiểm soát lạm phát và cân bằng cán cân thanh
toán quốc tế), tạo công ăn việc làm.Sự phát triển của một nền kinh tế sẽ tác
động trực tiếp đến sự phát triển các dịch vụ cung ứng trên TTCK cả về số l-
ợng và chất lợng
5.2. Chịu ảnh hởng của sự phát triển thị trờng tiền tệ
Thị trờng tiền tệ là thị trờng của các công cụ nợ ngắn hạn thờng dới
một năm. Thị trờng tiền tệ tạo tính thanh khoản cho các công cụ nợ giao dịch
trên thị trờng và đáp ứng nhu cầu huy động vốn ngắn hạn để chi tiêu trong
khi cha cân đối đợc ngân quỹ của Chính phủ và các tổ chức kinh doanh.
cao cho các công cụ này và đảm bảo cho các tổ chức này có khả năng huy
động vốn nhanh va rẻ hơn. Với một thị trờng phát triển sôi động và ổn định
sễ thúc đẩy các trung gian tham gia tích cực hơn bởi lợi ích của việc tham gia
TTCK đem lại là rất lớn, nó sẽ khẳng định vị thế và uy tín đối với thị trờng từ
có thể đem lại đợc lợi nhuận lơn nhất cho mình
5.4. Chịu ảnh hởng bởi các chính sách vế thuế ,phí , lệ phí
Trong việc thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô, thuế đợc Chính phủ sử
dụng nh một công cụ quan trọng tác động lên toàn bộ qua trình phát triển cảu
nền kinh tế .Thông qua chính sách thuế Chính phủ thực hiện chính sách u đãi
khuyến khích hoặc hạn chế sự phát triển cảu các ngành nghề lĩnh vực theo
từng vùng lãnh thôe trong nền kinh tế quốc dân. Về phí đây là khoản tiền mà
các chủ thể tham gia thị trờng phải đòng góp cho Nhà nớc ví dụ: phí thành
viên, phí lu ký,Lệ phí đây là khoản tiền mà tổ chức phải nộp cho Nhà nớc
để nhận đợc các giấy phép cần thiết cho hoạt động của mình. Chính sách
thuế, phí và lệ phí có tác dụng lớn trong việc khuyến khích các trung gian tài
chính tham gia,nếu có một chính sách thúê hợp lý sẽ thúc đẩy các tổ chức
trung gian tham gia tích cực hơn bởi khi đó lợi ích mang lại sẽ nhiều hơn.Đặc
21
biệt ở các thị trờng chứng khoán mới nổi chính sách này có tác dụng rất lớn.
Về thuế các công ty chứng khoán là một trong những đối tơng đợc hởng u đãi
thuế nhiều nhất.Nh ở Việt Nam các công ty đựơc miễn thuế GTGT đố với các
hoạt động kinh doanh chứng khoán đợc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp
trong năm đầu tiên và 50% trong 2 năm tiếp theo. Để có thể thu hút đựợc các
trung gian tham gia vừa với t cánh nhà cung ứng cá dịch vụ với t cánh nhà
đầu t cần có một chinh sách thuế rõ ràng và thống nhất để các tổ chứuc này
có chính sách hợp lý và yên tâm khi tham gia,chính sách thuế ,phí ,lệ phí phù
hợp với sự phát triển của TTCK sẽ là đòn bẩy tích cực,là động lc thúc đẩy các
trung gian tài chính tham gia.
5.5. Chịu ảnh hởng của hệ thống pháp luật
hoạt động, mô hình ngân hàng hai cấp đã dần thích nghi với nền kinh tế thị
trờng và đã có những đóng góp đáng kể cho công cuộc xây dựng và phát triển
kinh tế - xã hội của đất nớc. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt đợc,
hoạt động ngân hàng cũng đã bộc lộ những nhợc điểm cần khắc phục, Quốc
hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ hai đã
thông qua hai luật: Luật Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam và Luật Các TCTD,
đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Với việc ban hành hai luật này, NHNN đã đợc tăng cờng quyền lực và sức
mạnh để thực hiện chức năng quản lý nhà nớc và đảm nhiệm vai trò ngân
hàng của các ngân hàng; các TCTD cũng có đợc môi trờng pháp lý thuận lợi
để phát triển cả về số lợng và chất lợng cũng nh đa dạng hoá về loại hình.
Tính đến nay, hệ thống NHTM Việt Nam gồm có:6 NHTM nhà nớc: Ngân
hàng Ngoại thơng, Ngân hàng Công thơng, Ngân hàng Đầu t và Phát triển,
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Phát triển nhà
23
Đồng bằng sông Cửu long và Ngân hàng Phục vụ Ngời nghèo, hơn 51
NHTM cổ phần trong đó 28 NHTM cổ phần đô thị và 23 NHTM cổ phần
nông thôn, có nhiều ngân hàng liên doanh với nớc ngoài,hơn 26 chi nhánh
ngân hàng nớc ngoài.
Nh vậy, hệ thống NHTM Việt Nam đã có bớc phát triển đột biến cả về
nội dung cũng nh số lợng, loại hình và khung khổ pháp lý cho hoạt động.
Ngoài ra, trên lãnh thổ Việt Nam còn có rất nhiều văn phòng đại diện
nớc ngoài và tổ chức quốc tế, gồm văn phòng đại diện thuộc ngân hàng và
công ty tài chính của hơn 21 quốc gia, 3 văn phòng đại diện của các tổ chức
tài chính thế giới (Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF, Ngân hàng Thế giới - WB,
Ngân hàng phát triển châu á - ADB).Các NHTM Việt Nam mới đợc hình
thành, trong đó nhóm NHTM nhà nớc chiếm vị trí chủ đạo Các NHTM nhà
nớc trớc đây là những ngân hàng chuyên doanh mới đợc tách khỏi Ngân hàng
Nhà nớc từ hơn 10 năm nay, chủ yếu vẫn kinh doanh theo từng lĩnh vực, cha
chờ, làm giảm tính chủ động tích cực trong việc tìm kiếm các nguồn vốn của
các công ty tài chính. Hơn nữa, các tổng công ty có công ty tài chính hiện
nay đều là những đơn vị kinh tế có mối quan hệ kinh doanh quốc tế rộng, có
các đơn vị thành viên là những doanh nghiệp nớc ngoài hoặc liên doanh có
vốn đầu t nớc ngoài lên đến hàng trăm triệu USD nên họ thờng xuyên phải sử
dụng các ngoại tệ mạnh nh USD, , v.v. trong lúc các công ty tài chính của họ
lại không đợc phép làm các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối nên cha phát huy
hết khả năng, đặc biệt là khả năng huy động các nguồn vốn bằng ngoại tệVề
mặt cho vay vốn, các công ty tài chính cũng nh các TCTD vẫn phải tuân thủ
quy định của Luật Các TCTD không đợc phép cho vay một khách hàng vợt
quá 15% vốn tự có của mình để hạn chế rủi ro. Điều này cũng đang gây khó
khăn cho các công ty tài chính nói riêng và các TCTD nói chung, bởi vốn tự
có của các công ty tài chính hiện nay còn rất nhỏ bé, chỉ khoảng từ 40 đến 90
tỷ VND, trong lúc đó vốn đầu t cho mỗi một dự án thờng vợt quá 15% mức
vốn này. v.v. Thực tế hoạt động đang đòi hỏi phải có thêm văn bản hớng dẫn
để kinh doanh ngoại hối đợc thông thoáng và đòi hỏi nhanh chóng có giải
25