LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế nước nhà, sự hình thành
và phát triển thị trường chứng khoán là tất yếu. Thị trường chứng khoán
hình thành và phát triển sẽ giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn của nền
kinh tế, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước.
Ngày 20 tháng 7 năm 2000 trung tâm giao dịch chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh và cũng là trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên của
Việt Nam đã chính thức được thành lập. Như vậy từ đây nền kinh tế Việt
Nam đã có thêm một kênh huy động vốn mới, đây là một sự kiện đáng ghi
nhớ và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của nước ta.
Theo kinh nghiệm của các nước thị trường chứng khoán chỉ ra đời và
phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định mà đặc biệt là đặc
biệt của hệ thống tài chính. Hệ thống tài chính Việt Nam chủ yếu dựa vào hệ
thống các ngân hàng. Hệ thống các ngân hàng có một vị trí đặc biệt quan
trọng đối với sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán. Không một
nước nào trên thế giới có thị trường chứng khoán phát triển mà không có
một hệ thống ngân hàng vững mạnh. Tuy nhiên ở Việt Nam các ngân hàng
thương mại hoạt động vẫn còn thiếu năng động và kém hiệu quả với các
nghiệp vụ truyền thống, với trình độ công nghệ truyền thống. Vì vậy đổi
mới hoàn thiện và phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam để
thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam được coi là vấn
đề bức xúc và cần được quan tâm.
Chính vì lẽ đó mà em đã chọn đề tài “Giải pháp thúc đẩy sự tham gia
của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Nguyễn Đức Hiển người đã
giúp em hình thành lên ý tưởng và tư duy cần thiết cho việc hoàn thành đề
án này.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
đổi chủ sở hữu của chứng khoán, và như vậy, thực chất đây chính là quá
trình vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hoá
thông thường khác vì hàng hoá của thị trường chứng khoán là một loại hàng
hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị và
giá trị sử dụng. Như vậy, có thể nói, bản chất của thị trường chứng khoán là
thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của đầu tư mà ở đó, giá cả
của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu
tư. Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất
và lưu thông hàng hoá.
1.2. Vai trò của thị trường chứng khoán.
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), của Liên minh Châu Âu, của các khối thị
trường chung, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc
độ và hiệu quả cao. Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã
khẳng định vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán trong phát triển
kinh tế:
Thứ nhất, thị trường chứng khoán, với việc tạo ra các công cụ có tính
thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn
của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế.
Thị trường chứng khoán tạo một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị
trường tài chính, điều này buộc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài
chính phải quan tâm tới hoạt động của chính họ và làm giảm chi phí tài
chính.
Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán có thể làm tăng vốn
tự có của các Công ty và giúp họ tránh được các khoản vay có chi phí cao
cũng như sự kiểm soát chặt chẽ của các ngân hàng thương mại. TTCK
khuyến khích tính cạnh tranh của các Công ty trên thị trường. Sự tồn tại của
thị trường chứng khoán cũng là yếu tố quyết định để thu hút vỗn đầu tư
nước ngoài. Đây là các yếu tố đảm bảo cho sự phân bổ có hiệu quả các
ty đánh giá kế hoạch đầu tư cũng như việc phân bổ các nguồn lực của họ.
Thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế.
Ngoài những tác động tích cực trên đây, thị trường chứng khoán cũng
có những tác động tiêu cực nhất định. Thị trường chứng khoán hoạt động
trên cơ sở thông tin hoàn hảo. Song ở các thị trường mới nổi, thông tin được
chuyển tải tới các nhà đầu tư không đầy đủ và không giống nhau. Việc
quyết định giá cả, mua bán chứng khoán của các nhà đầu tư không dựa trên
cơ sở thông tin và xử lý thông tin. Như vậy, giá cả chứng khoán không phản
ánh giá trị kinh tế cơ bản của Công ty và không trở thành cơ sở để phân phôí
một cách có hiệu quả các nguồn lực.
Một số tiêu cực khác của thị trường chứng khoán như hiện tượng đầu
cơ, hiện tương xung đột quyền lực làm thiệt hại cho quyền lợi của các cổ
đông thiểu số, việc mua bán nội gián, thao túng thị trường làm nản lòng các
nhà đầu tư và như vậy, sẽ tác động tiêu cực tới tiết kiệm và đầu tư. Nhiệm
vụ của các nhà quản lý thị trường là giảm thiểu các tiêu cực của thị trường
nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo cho chính hiệu quả
của thị trường.
Như vậy, vai trò của thị trường chứng khoán được thể hiện trên nhiều
khía cạnh khác nhau. Song vai trò tích cực hay tiêu cực của thị trường chứng
khoán có thực sự được phát huy hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể
tham gia thị trường và sự quản lý của Nhà nước.
1.3. Các hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán.
Thực hiện chức năng cơ bản là biến tiết kiệm thành đầu tư, hoạt động
của thị trường chứng khoán chủ yếu diễn ra thông qua các giao dịch - mua,
bán và đầu cơ chứng khoán. Tuy vậy có thể nói rằng các hoạt động của thị
trường chứng khoán diễn ra rất đa dạng, phong phú và rất phức tạp. Chúng
ta chỉ có thể nghiên cứu và mô phỏng một số các hoạt động cơ bản diễn ra
trên thị trường cấp I và thị trường cấp II như dưới đây mà thôi.
1.3.1. Các hoạt động trên thị trường cấp I: phát hành và chuẩn bị giao
dịch.
Nhìn chung các hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán diễn ra trên
sàn giao dịch. Tại đây các nhà môi giới, các tổ chức kinh doanh chứng
khoán thương lượng và đấu giá mua bán chứng khoán trên cơ sở các lệnh
đặt hàng của khách hàng. Lệnh đặt hàng chính là yêu cầu của khách hàng về
số lượng, giá cả và thời gian thực hiện các giao dịch nhằm đạt được những
lợi ích mong muốn.
Khách hành muốn mua hay bán chứng khoán sẽ kết hợp một hợp
đồng với Công ty môi giới và lệnh đặt hàng sẽ được xác lập để cụ thể hoá
hợp đồng đã được ký kết. Như vậy vấn đề cơ bản về hoạt động của sở giao
dịch là các loại lệnh do khách hàng đặt hàng đối với những người môi giới
của mình và những người môi giới chuyển các lệnh đó đến sàn giao dịch để
các chuyên gia chứng khoán hay còn gọi là người môi giới lập giá thực hiện.
Các hoạt động của sở giao dịch luôn phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản, rất
nghiêm ngặt bao gồm nguyên tắc trung gian, nguyên tắc đấu giá và nguyên
tắc công khai.
* Hoạt động của thị trường bán tập trung (thị trường OTC)
Như chúng ta đã biết, thị trường bán tập trung không phải là thị
trường hiện hữu, trái lại trên thị trường này các giao dịch chứng khoán hoàn
toàn được thực hiện bởi các thành viên - các cttt chứng khoán - thông qua hệ
thống thông tin và máy tính điện tử đã được nối mạng với nhau. Điều đáng
chú ý là các thành viên của thị trường OTC không phải là thành viên của bất
kỳ sở giao dịch chứng khoán nào, và họ thực hiện phần lớn nhưn giao dịch
cho chính mục đích kinh doanh chứng khoán chứ không phải thực hiện lệnh
của khách hàng. Nói cách khác, các Công ty chứng khoán hay các thành
viên của thị trường OTC cũng chính là khách hàng, là người giao dịch hay
những người tạo ra thị trường. Trên thị trường OTC “hàng hoá” là các loại
chứng khoán chưa được niêm yết giá tại bất kỳ sở giao dịch nào. Đây chính
là sự khác biệt giữa thị trường OTC với Sở giao dịch chứng khoán - từ đó là
Sàn giao dịch truyền thống hay sàn giao dịch điện tử.
* Hoạt động của thị trường phi tập trung
sách Nhà nước
* NHTM cổ phần: Là NHTM được thành lập dưới hình thức Công ty
cổ phần trong đó có một cá nhân hoặc một tổ chức không được sở hữu số cổ
phần của ngân hàng quá tỷ lệ do NHNN quy định.
* Ngân hàng nước ngoài: Là ngân hàng được thành lập theo pháp lệnh
ngân hàng nước ngoài. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là cơ sở của ngân
hàng nước ngoài tại Việt Nam hoạt động theo pháp lệnh Việt Nam.
* Ngân hàng Liên doanh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp
của bên NHVN và bên ngân hàng nước có có trụ sở tại Việt Nam, hoạt động
theo pháp lệnh Việt Nam.
* Ngân hàng đầu tư và phát triển: là ngân hàng quốc doanh, nhận vốn
đầu tư phát triển từ NHNN để đầu tư cho các dự án phát triển kỹ thuật củann
và huy động vốn trung, dài hạn trong nước, ngoài nước để cho vay trung
hạn, dài hạn là chủ yếu.
2.2. Các hoạt động của NHTM thị trường chứng khoán
2.2.1. Mỗi ngân hàng là một nhà đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
Ngân hàng thương mại ngày nay không chỉ thực hiện vai trò là một
trung gian tài chính sử dụng nguồn vốn huy đoọng được để tiến hành cho
vay mà còn thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán
như một nhà đầu tư. Hoạt động đầu tư này cho chính ngân hàng bằng nguồn
vốn kinh doanh của mình (trong điều kiện luật pháp quốc gia cho phép các
ngân hàng thực hiện kinh doanh chứng khoán) nhưng cũng có thể là ngân
hàng mua bán, kinh doanh chứng khán theo sự uỷ thác của khách hàng.
Cùng với việc đầu tư, các ngân hàng còn có thể đầu cơ chứng khoán
trên thị trường. Qua việc đầu cơ chứng khoán, các ngân hàng có thể thu hút
được lợi nhuận bằng cách tiến hành mua chứng khoán để bán chứng khoán
tại các thời điểm khác nhau khi có sự biến động về tỷ giá.
Hai hoạt động này chính là nghiệp vụ kinh doanh trực tiếp cua các
ngân hàng trên thị trường chứng khoán. Các ngân hàng có thể kiếm được
nhiều lời hơn trong loại chứng khoán nào và họ cũng giảm được chi phí giao