Giải pháp thúc đẩy các hoạt động của Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 91

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Thị trờng chứng khoán Việt Nam đã chính thức hoạt động vào tháng
7/2000 đánh dấu một bớc tiến quan trọng của thị trờng tài chính Việt Nam
nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, hoạt động của Thị
trờng chứng khoán trong gần 4 năm qua mới đạt đợc những kết quả rất nhỏ,
cha thực sự đóng vai trò là phong vũ biểu của nền kinh tế hiện đại. Quy mô
thị trờng còn nhỏ; pháp luật, chính sách cho vận hành thị trờng còn cha phù
hợp; cơ sở vật chất cha hiện đại; các đối tợng tham gia còn nhiều hạn chế về
cả số lợng và chất lợng. Đặc biệt là sự tham gia của các Ngân hàng thơng mại
vào TTCK còn nhiều hạn chế mặc dù đây là những định chế tài chính có tiềm
lực kinh tế và có vai trò quan trọng, quyết định đến sự phát triển của TTCK
Việt Nam.
Trong thời gian qua, các Ngân hàng thơng mại đã tham gia hoạt động
trên TTCK Việt Nam và thu đợc những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, đây mới
chỉ là sự khởi đầu, hoạt động của tổ chức trung gian này mới chỉ mang tính
chất thăm dò, thử nghiệm, vì vậy cha hiệu quả và các Ngân hàng thơng mại
cha khẳng định đợc vị thế của mình trên TTCK. Nhiều Ngân hàng thơng mại
vẫn ngoài cuộc bởi lẽ còn nhiều các trở ngại về cơ sở pháp lý, các điều kiện
tham gia.
Xuất phát từ thực trạng và yêu cầu phát triển TTCK trong thời gian tới,
đề tài : Giải pháp thúc đẩy các hoạt động của Ngân hàng thơng mại trên
thị trờng chứng khoán Việt Nam đợc lựa chọn nghiên cứu.
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là các Ngân hàng thơng mại và hoạt
động của các NHTM trên Thị trờng chứng khoán Việt Nam.
Phơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với
các phơng pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để làm sáng tỏ các vấn đề
nghiên cứu.

qua các cuộc khủng hoảng, cuối cùng TTCK lại đợc phục hồi và tiếp tục phát
triển, trở thành một thế chế tài chính không thể thiếu đợc trong nền kinh tế
thị trờng. TTCK cung ứng phần lớn nhu cầu vốn dài hạn, góp phần phát triển
kinh tế.
Thị trờng chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi
các loại chứng khoán. Trong đó, chứng khoán là các loại giấy tờ có giá hay
bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài
sản của tổ chức phát hành hoặc quyền sở hữu. Các quyền yêu cầu này có sự
khác nhau giữa các loại chứng khoán, tùy theo tính chất sở hữu của chúng.
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán làm thay đổi chủ sở hữu chứng
khoán và thực chất đây chính là quá trình vận động của t bản.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nh vậy, bản chất của TTCK là thị trờng thể hiện mối quan hệ giữa cung
và cầu của vốn đầu t mà ở đó giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về
chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu t.
1.1.2. Cấu trúc của thị trờng chứng khoán
Tùy theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc của TTCK có thể đợc phân theo
nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên, thông thờng ngời ta xem xét theo ba
cách thức cơ bản là phân loại theo hàng hóa, phân loại theo hình thức tổ chức
thị trơng và phân loại theo quá trình luân chuyển vốn.
1.1.2.1. Phân loại theo hàng hóa
Theo cách thức phân loại này, ngời ta phân TTCK thành thị trờng trái
phiếu, thị trờng cổ phiếu và thị trờng các chứng khoán phái sinh.
Thị trờng trái phiếu (Bond Market) là thị trờng mà hàng hóa đợc mua
bán tại đó là các trái phiếu. Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc
phát hành các công cụ này là nhà phát hành đứng ra đi vay theo phơng thức
có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Ngời cho vay sẽ không chịu bất cứ trách nhiệm
nào về kết quả hoạt động sử dụng vốn của ngời vay và trong mọi trờng hợp,
nhà phát hành phải có trách nhiệm hoàn trả cho trái chủ theo các cam kết đã

là mối quan hệ nội tại, biện chứng. Nếu không có thị trờng sơ cấp thì không
có thị trờng thứ cấp, đồng thời thị trờng thứ cấp lại tạo điều kiện phát triển
cho thị trờng sơ cấp. Mục đích cuối cùng của các nhà quản lý là phải tăng c-
ờng hoạt động huy động vốn trên thị trờng sơ cấp, vì chỉ có tại thị trờng này,
vốn mới thực sự vận động từ ngời tiết kiệm sang ngời đầu t, còn sự vận động
của vốn trên thị trờng thứ cấp chỉ là t bản giả, không tác động trực tiếp với
việc tích tụ và tập trung vốn.
1.1.2.3. Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trờng
Theo cách thức phân loại này thì có Sở giao dịch chứng khoán, thị trờng
phi tập trung và thị trờng thứ ba.
Sở Giao dịch (Stock Exchange) là thị trờng chính thức, tại đây ngời mua
và ngời bán (hoặc đại lý, môi giới của họ) gặp nhau tại một địa điểm nhất
định để tiến hành giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán. Vì vậy, Sở giao
dịch chứng khoán còn đợc gọi là thị trờng tập trung, nơi giao dịch mua bán,
trao đổi chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có hiệu quả. Sở giao
dịch chứng khoán đợc quản lý một cách chặt chẽ bởi Uỷ ban chứng khoán
quốc gia, các giao dịch chịu sự điều tiết của Luật Chứng khoán và TTCK.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Thị trờng phi tập trung hay thị trờng giao dịch qua quầy (OTC: Over-
The-Counter Market) là thị trờng của các nhà buôn, những ngời tạo lập thị
trờng. Các nhà buôn có một danh mục chứng khoán và họ sẵn sàng mua và
bán với các nhà buôn khác cũng nh những nhà đầu t khi những ngời này chấp
nhận giá cả của họ. ở thị trờng này không có địa điểm giao dịch chính thức
mà có thể diễn ra tại các quầy, sàn giao dịch của các thành viên thông qua
điện thoại hay mạng máy tính diện rộng. Khối lợng giao dịch của thị trờng
này thờng lớn hơn nhiều lần so với Sở giao dịch chứng khoán. Quản trị thị tr-
ờng này là Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán quốc gia. Hiệp hội này
ban hành quy chế thị trờng, kết nạp và khai trừ các thành viên, giám sát việc
thi hành quy chế thành viên của Hiệp hội.

Thứ ba, TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý
doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô, môi trờng kinh doanh trở
nên phức tạp hơn, yêu cầu về năng lực quản trị, điều hành công ty cũng tăng
theo. TTCK tạo điều kiện cho việc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều kiện
thúc đẩy quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc. Cơ chế thông tin hoàn
hảo tạo khả năng giám sát cao của TTCK đã làm giảm tác động của các tiêu
cực trong quản lý, tạo điều kiện kết hợp hài hòa giữa lợi ích của chủ sở hữu,
nhà quản lý và những ngời làm công.
Thứ t, TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về chu kỳ kinh doanh trong
tơng lai. Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hớng đi trớc chu kỳ kinh doanh
cho phép Chính phủ cũng nh các công ty đánh giá kế hoạch đầu t và việc
phân bổ nguồn lực của họ. TTCK cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế.
Thứ năm, hiệu quả quốc tế hóa của TTCK. Việc mở cửa TTCK làm
tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Điều này cho phép các
công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn, tăng cờng đầu t từ nguồn tiết
kiệm bên ngoài, đồng thời tăng cờng khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng
các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nớc.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ngoài những tác động tích cực trên đây, TTCK cũng có những tác động
tiêu cực nhất định. TTCK hoạt động trên cơ sở thông tin hoàn hảo. Song ở
các thị trờng mới nổi, các thông tin đợc chuyển tải tới nhà đầu t không đầy
đủ và không giống nhau. Việc quyết định giá cả mua bán chứng khoán của
các nhà đầu t không dựa trên cơ sở thông tin và xử lý thông tin. Nh vậy, giá
cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của công ty và không trở
thành cơ sở để phân phối một cách hiệu quả các nguồn lực.
Một số tiêu cực khác của TTCK nh hiện tợng đầu cơ, hiện tợng xung đột
quyền lực làm thiệt hại quyền lợi của các cổ đông thiểu số, việc mua bán nội
gián, thao túng thị trờng...
Nh vậy, vai trò của TTCK đợc thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau.

nh Thị trờng chứng khoán ở Việt Nam.
1.1.4.2. Các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp là chủ thể quan trọng với vai trò của tổ chức phát
hành chứng khoán và nhà đầu t.
Các doanh nghiệp thực hiện việc cung cấp các loại hàng hóa cho TTCK
bằng cách phát hành các loại cổ phiếu, trái phiếu, qua đó, doanh nghiệp huy
động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
So với trái phiếu của chính phủ thì chứng khoán của doanh nghiệp có độ
rủi ro cao hơn nhng đổi lại nó có thể mang lại cho nhà đầu t mức sinh lợi cao
hơn, vì vậy đối với các nhà đầu t đây là những công cụ hấp dẫn.
Trong các loại hình doanh nghiệp, công ty cổ phần là hình thức doanh
nghiệp chủ yếu có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để huy động vốn
trên TTCK. Công ty có thể tự mình phát hành chứng khoán hoặc phát hành
thông qua đại lý hoặc bảo lãnh phát hành.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Với vai trò là nhà đầu t trên thị trờng, các doanh nghiệp tham gia mua
bán chứng khoán trên TTCK để với hai mục đích: thực hiện nghiệp vụ đầu t
và nghiệp vụ ngân quỹ. Khi thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ, doanh nghiệp chủ
yếu mua bán các chứng khoán có độ thanh khoản cao để đáp ứng các nhu cầu
thanh toán nhanh, ngợc lại, khi thực hiện nghiệp vụ đầu t chứng khoán,
doanh nghiệp thờng lựa chọn một danh mục đầu t theo nguyên tắc đa dạng
hóa tài sản và giảm thiểu rủi ro. Ngoài ra, các doanh nghiệp mua bán chứng
khoán còn nhằm mục đích thâu tóm và sáp nhập doanh nghiệp.
Phát triển các hoạt động phát hành và kinh doanh chứng khoán của
doanh nghiệp sẽ làm đa dạng hóa các công cụ đầu t cho TTCK đồng thời tạo
điều kiện cho các NHTM thực hiện các nghiệp vụ nh đại lý, bảo lãnh phát
hành, t vấn, môi giới, quản lý danh mục đầu t.
1.1.4.3. Cá nhân và hộ gia đình
Các cá nhân và các hộ gia đình tham gia trên TTCK với t cách là các nhà

Ngoài các chủ thể trên, còn có các tổ chức quan trọng khác liên quan đến
tổ chức và hoạt động của TTCK, nh:
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành TTCK thông qua bộ máy
tổ chức và hệ thống các quy định, văn bản pháp luật về giao dịch chứng
khoán trên cơ sở phù hợp với các quy định của luật pháp và Uỷ ban chứng
khoán.
Hiệp hội kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của các công ty
chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán,
đợc thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các thành viên và các nhà đầu
t trên thị trờng.
Các tổ chức hỗ trợ là các tổ chức đợc thành lập với mục đích khuyến
khích mở rộng và tăng trởng của TTCK thông qua hoạt động nh cho vay tiền
để mua cổ phiếu, cho vay chứng khoán để bán trong các giao dịch bảo chứng.
Các tổ chức hỗ trợ chứng khoán ở các nớc khác nhau có đặc điểm khác nhau,
có một số nớc không cho phép thành lập các loại hình tổ chức này.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch
vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và
tiềm lực tài chính của các tổ chức phát hành theo những điều khoản đã cam
kết của tổ chức phát hành đối với đợt phát hành cụ thể. Các nhà đầu t có thể
dựa vào hệ số tín nhiệm về tổ chức phát hành do các công ty tín nhiệm cung
cấp để cân nhắc đa ra quyết định đầu t của mình.
Nh vậy, trên TTCK có rất nhiều các chủ thể tham gia với những mục đích
và vai trò khác nhau trong đó NHTM là tổ chức có vai trò rất quan trọng. Mô
hình hoạt động của NHTM trên TTCK và các hoạt động của tổ chức này trên
TTCK sẽ đợc trình bày trong phần dới đây.
1.2. Hoạt động của ngân hàng thơng mại trên Thị trờng
chứng khoán
1.2.1. NHTM và các mô hình hoạt động của NHTM trên TTCK

với Chính Phủ, các doanh nghiệp, cá nhân. Cho vay là tài sản lớn nhất ở phần
lớn các NHTM, phản ánh hoạt động đặc trng của ngân hàng. Các sản phẩm
cho vay có thể đợc phân chia theo các tiêu thức khác nhau nh là thời gian, đối
tợng vay vốn và tính chất sử dụng. Đây là hoạt động sinh lợi lớn nhất cho
ngân hàng song cũng gây ra rủi ro lớn nhất cho ngân hàng nếu nh khách hàng
không hoàn trả đúng hạn hay không có khả năng hoàn trả.
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
So với hoạt động cho vay, hoạt động đầu t có quy mô và tỷ trọng nhỏ hơn
song cũng có ý nghĩa rất quan trọng về mặt thu nhập và tạo điều kiện cho các
ngân hàng thâm nhập sâu rộng vào nền kinh tế. Hoạt động đầu t góp phần
làm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Đầu t vào trái phiếu chính
phủ là hình thức không những mang lại cho ngân hàng sự an toàn trong thanh
toán mà còn để các NHTM có những phản ứng phù hợp với sự điều tiết của
Ngân hàng Nhà nớc qua nghiệp vụ thị trờng mở. Ngoài ra, hoạt động đầu t
của ngân hàng còn đợc thể hiện bằng việc mua bán một số loại chứng khoán
trên thị trờng hoặc có thể góp vốn liên doanh với các tổ chức khác để cùng
kinh doanh thu lợi nhuận. Nh vậy ngân hàng tiến hành việc đầu t vào chứng
khoán nhằm mục đích thanh khoản và sinh lời.
Trên thực tế, trớc khi thực hiện hoạt động cho vay và đầu t, các ngân
hàng đã dự trữ một phần nguồn vốn của mình để đáp ứng nhu cầu chi trả
nhanh chóng, đảm bảo sự an toàn cho hoạt động kinh doanh. Khoản mục này
đợc gọi là ngân quỹ. Mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở mức thấp
nhất có thể đợc do đây là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời rất thấp song lại
có tính thanh khoản cao.
Ngoài ra, NHTM còn có thể sử dụng nguồn vốn của mình để đầu t vào
các loại tài sản khác nh: nhà cửa, các tài sản ngoại bảng...
Hoạt động trung gian khác
Ngoài hoạt động huy động vốn và cho vay, đầu t, các NHTM còn thực
hiện các hoạt động khác nh bảo quản vật có giá, thực hiện các dịch vụ thanh

ngân hàng Barings của Anh năm 1995. Ngợc lại trong trờng hợp thị trờng
tiền tệ biến động có thể ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan là một minh chứng.
Mô hình đa năng một phần. Theo mô hình này, các ngân hàng muốn
hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán phải thành lập công ty con hạch toán
độc lập và hoạt động tách rời với kinh doanh tiền tệ, do vậy đã hạn chế đợc
nhợc điểm của mô hình ngân hàng đa năng toàn phần. Tuy nhiên, nó có nhợc
điểm là tạo ra sự trùng chéo về tổ chức, làm giảm hiệu quả hoạt động của các
NHTM. Anh, Canada, úc là những nớc áp dụng mô hình này. Mô hình ngân
hàng đa năng một phần phù hợp với những nớc mới thành lập thị trờng chứng
khoán.
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Mô hình chuyên doanh. Trong mô hình này, hoạt động kinh doanh
chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực
chứng khoán thực hiện, đó là các CTCK. Các NHTM không đợc phép tham
gia vào việc kinh doanh chứng khoán. Mô hình này đợc áp dụng khá rộng rãi
ở các thị trờng Mỹ, Nhật và các thị trờng mới nổi nh Hàn Quốc, Thái Lan...
Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo
điều kiện cho các CTCK chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực chứng khoán để
thúc đẩy thị trờng phát triển.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, các nớc áp dụng mô hình chuyên
doanh đã có xu hớng nới lỏng các điều kiện để cho phép các NHTM tham gia
trên TTCK.
Từ những phân tích trên cho thấy, mỗi mô hình đều có những u nhợc
điểm riêng và không có mô hình nào là tối u đối với một quốc gia. Tùy theo
quan điểm của các nhà quản lý thị trờng, vào sự phát triển của ngân hàng và
sự phát triển của TTCK mà mỗi quốc gia sẽ lựa chọn mô hình hoạt động của
NHTM trên TTCK và có sự điều chỉnh phù hợp cho sự phát triển kinh tế.
16

Ngoài ra, tổng khối lợng phát hành chứng khoán cũng phải đạt mức theo quy
định. Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải đợc các cơ quan quản
lý Nhà nớc về chứng khoán cấp giấy phép hoặc chấp thuận. Sau khi phát
hành trên thị trờng sơ cấp, chứng khoán sẽ đợc giao dịch tại Sở giao dịch
chứng khoán khi đã đáp ứng đợc các quy định về niêm yết chứng khoán.
Hoạt động phát hành chứng khoán của các NHTM cung cấp cho TTCK
hàng hóa có chất lợng và tăng hiệu quả của thị trờng. Các chứng khoán do
các NHTM phát hành thờng có độ hấp dẫn cao đối với các nhà đầu t do uy
tín, do mối quan hệ của các NHTM.
Các NHTM có thể đứng ra thành lập quỹ đầu t chứng khoán, một tổ chức
quan trọng trên TTCK nhằm giúp các nhà đầu t nhỏ, cá thể có thể phân tán
rủi ro và giảm chi phí đầu t. Bằng cách phát hành chứng chỉ quỹ, các NHTM
có thể thu hút, tập trung lợng vốn nhỏ lẻ của các nhà đầu t thành lợng vốn lớn
để đầu t chứng khoán một cách chuyên nghiệp và đa dạng hóa.
Là một doanh nghiệp đặc biệt với tính chất chuyên nghiệp và uy tín cao
trên TTCK, hoạt động phát hành chứng khoán của các NHTM có nhiều lợi
thế hơn các doanh nghiệp thông thờng khác. Các ngân hàng có thể tự đứng ra
phát hành làm giảm chi phí huy động vốn. Do vậy, các NHTM có thể dễ
dàng huy động vốn hơn so với các doanh nghiệp khác trên TTCK.
1.2.2.2. Hoạt động đầu t chứng khoán
Tín dụng đợc coi là hoạt động sinh lời lớn nhất song trong hoạt động này
các NHTM thờng phải đối mặt với các rủi ro cao nhất có thể xảy ra. Chính vì
vậy, các NHTM không ngừng mở rộng những lĩnh vực đầu t mới. Thực tế cho
thấy rằng các NHTM ngày nay không chỉ thực hiện vai trò là một trung gian
tài chính sử dụng nguồn vốn huy động để tiến hành cho vay mà nó còn thực
hiện hoạt động kinh doanh trên TTCK nh một nhà đầu t có tổ chức.
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Hoạt động đầu t chứng khoán cuả các NHTM đợc xem nh là yếu tố trợ
giúp cho việc tăng chất lợng và hiệu quả của thị trờng. Điều này là do các lợi

dụng. Việc dịch chuyển vốn giữa hai thị trờng giúp cho các NHTM có thể sử
dụng tối đa các nguồn vốn để nâng cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, dù
hoạt động trên thị trờng tín dụng hay đầu t chứng khoán thì các NHTM đều
đã thực hiện chức năng tài trợ cho nền kinh tế.
Hoạt động đầu t chứng khoán của NHTM ngày càng phát triển. Sự phát
triển của TTCK cùng với sự xuất hiện và phát triển của các chứng khoán phái
sinh đã làm tăng khả năng đầu t chứng khoán của NHTM. Ngợc lại, hoạt
động đầu t chứng khoán của các NHTM làm tăng tính chuyên nghiệp và sự
sôi động của TTCK.
Tuy nhiên, hoạt động đầu t chứng khoán của NHTM luôn chịu sự giám
sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý bởi vì hoạt động này sẽ làm tăng rủi ro
không chỉ với các ngân hàng mà còn đối với cả nền kinh tế. Chẳng hạn nh,
rủi ro về việc ngời phát hành chứng khoán không thể thanh toán đợc vốn gốc
và lãi đã buộc các nhà chức trách nghiêm cấm các NHTM tham gia hoạt
động mua bán chứng khoán mang tính đầu cơ. Hay do không có sự tách biệt
rõ ràng giữa các nguồn vốn, các ngân hàng có thể sử dụng tiền gửi tiết kiệm
của dân c để đầu t chứng khoán và khi TTCK biến động theo chiều hớng xấu
sẽ tác động tới công chúng thông qua việc ồ ạt rút tiền gửi, làm cho ngân
hàng mất khả năng chi trả. Việc mất khả năng thanh toán của các NHTM th-
ờng dẫn đến những phản ứng dây chuyền gây đổ vỡ hệ thống ngân hàng và
có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Đây cũng chính là lý do mà các nhà
quản lý thờng muốn hạn chế hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM.
1.2.2.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán là hoạt động giúp cho chủ
thể phát hành thực hiện các thủ tục trớc khi chào bán chứng khoán, tổ chức
việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn
đầu sau khi phát hành.
Cơ sở để các NHTM có thể thực hiện đợc hoạt động bảo lãnh phát hành

Các NHTM có thể thực hiện việc bảo lãnh phát hành chứng khoán theo
các phơng thức là:
* Bảo lãnh cam kết tối đa: là phơng thức bảo lãnh trong đó tổ chức bảo
lãnh chỉ cam kết phân phối tối đa số chứng khoán của tổ chức phát hành tới
mức có thể. Phơng thức này gần giống với phơng thức đại lý trong trờng hợp
không bán hết, số chứng khoán còn lại đợc trả lại cho nhà phát hành. Vì vậy,
với phơng thức bảo lãnh này, tổ chức phát hành có thể gặp rủi ro do không
huy động đủ vốn nh dự định.
* Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là phơng thức mà tổ chức bảo lãnh phải
cam kết mua toàn bộ số chứng khoán cha phân phối hết của tổ chức phát
hành. Nh vậy, tổ chức bảo lãnh phát hành phải đảm bảo mang lại chính xác
toàn bộ tổng giá trị của đợt phát hành cho tổ chức phát hành. Mọi rủi ro của
đợt phát hành sẽ do ngời bảo lãnh chịu.
* Bảo lãnh cam kết tất cả hoặc không: Trong phơng thức này, nếu số
chứng khoán đợc phân phối cha tới một mức tối thiểu nh thỏa thuận thì toàn
bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ, số tiền đặt mua chứng khoán sẽ trả lại cho ng-
ời mua.
* Bảo lãnh tối thiểu- tối đa: là phơng thức trung gian giữa phơng thức
bảo lãnh cố gắng tối đa và phơng thức bảo lãnh tất cả hoặc không. Theo ph-
ơng thức này, tổ chức bảo lãnh phát hành phải cam kết bán tối thiểu một số l-
ợng chứng khoán nhất định ( mức sàn ). Ngoài số lợng này, tổ chức bảo lãnh
phát hành có thể tự do chào bán chứng khoán nhng không vợt quá mức tối đa
quy định ( mức trần ). Nếu số lợng chứng khoán bán ra thấp hơn mức tối
thiểu đã đợc quy định thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
NHTM có thể tham gia hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành trái phiếu
chính phủ. Họ chính là những thành viên chủ yếu của thị trờng đấu thầu tín
phiếu, Trái phiếu chính phủ và là những nhà đầu t lớn, đảm nhiệm vai trò nhà
tạo thị trờng đối với các chứng khoán này.

hoạt động t vấn phải đợc quản lý và cấp phép. Tuy nhiên, trong hoạt động t
vấn đầu t chứng khoán, khách hàng vẫn là ngời tự chịu trách nhiệm về các
quyết định của mình.
1.2.2.5. Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là điều kiện cơ bản kiến tạo nên hoạt động của
TTCK. Đối với nhiều nớc, hoạt động môi giới chứng khoán đợc xem là hạt
nhân của thị trờng. Điều này bắt nguồn từ nguyên tắc chủ đạo đối với hoạt
động của TTCK - nguyên tắc trung gian.
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để hởng hoa hoa hồng. Theo đó, NHTM đại
diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở
giao dịch chứng khoán hoặc thị trờng OTC mà chính khách hàng phải chịu
trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình. Thông qua hoạt động môi
giới, NHTM sẽ chuyển đến khách hàng các sản phẩm, dịch vụ t vấn đầu t và
kết nối giữa nhà đầu t mua chứng khoán và nhà đầu t bán chứng khoán. Và
tấc nhiên trong hoạt động này, ngân hàng sẽ đợc hởng tiền hoa hồng từ phía
khách hàng, thờng đợc xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng
giá trị giao dịch.
Hoạt động môi giới là dịch vụ ngân hàng rất phát triển ở các nớc trên thế
giới. Sự tham gia ngày càng nhiều hơn của ngân hàng trong hoạt động môi
giới làm tăng tính cạnh tranh, và trên cơ sở đó, làm giảm chi phí trong giao
dịch chứng khoán cũng nh nâng cao chất lợng dịch vụ môi giới. Việc thực
hiện nguyên tắc trung gian của TTCK nhằm đảm bảo cho các hoạt động trên
thị trờng đợc diễn ra hợp pháp, công khai cũng nh đảm bảo an toàn cho các
nhà đầu t và cho cả thị trờng.
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Để đợc phép hoạt động môi giới chứng khoán, các NHTM phải có đủ
điều kiện cần thiết nh là: vốn pháp định, giấy phép hành nghề đối với các
nhân viên môi giới, các yêu cầu về cơ sở vật chất và phải đợc UBCK cấp giấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status