MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU….…………………………………………………………………
B. NỘI DUNG………………………………………………………………………...
I. KQC về Ngân hàng Thương mại và Thị Trường chứng khoán ..............................
1. Thị trường chứng khoán và hoạt động của thị trường chứng khoán ....................
1.1. Khái niệm thị trường chứng khoán ............................................................................
1.2. Hoạt động của thị trường chứng khoán ....................................................................
2. Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán ....................
2.1 Các mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng
khoán. ..................................................................................................................................
2.1.1 Trên thị trường sơ cấp (primary market): ..................................................................
2.1.2 Trên thị trường thứ cấp (secondary market): .............................................................
2.2 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán.. .............
2.2.1 Ngân hàng là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp
Nhà nước và hình thành các công ty cổ phần. ....................................................................
2.2.2 Ngân hàng giúp các Công ty phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán
sơ cấp. ..................................................................................................................................
2.2.3 Ngân hàng làm trung gian mua bán chứng khoán ở thị trường thứ cấp. ..................
2.2.4 Cung cấp các dịch vụ lưu giữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng. Dịch vụ
này được thực hiện theo hai cách. .......................................................................................
2.2.5 Thực hiện việc thanh toán các chứng khoán. .............................................................
2.2.6 Công tác thanh toán bù trừ .........................................................................................
2.2.7 Tư vấn về phát hành và mua bán chứng khoán ..........................................................
3. Mối quan hệ giữa hoạt động của NHTM và hoạt động của thi trường chứng
khoán ...................................................................................................................................
1. Trên thị trường sơ cấp ..................................................................................................
1
1.1. Vai trò phát hành .........................................................................................................
1.2. Vai trò đầu tư trực tiếp ................................................................................................
1.3. Vai trò phân phối, bảo lãnh phát hành ......................................................................
2. Trên Thị trường thứ cấp ..............................................................................................
2. Bảng đánh giá:
TÊN THÀNH VIÊN NHIỆM VỤ ĐIỂM
ĐÁNH GIÁ
Lê Thị Hương (Nhóm
trưởng)
Phân công, tổng hợp, đánh giá bài,
…
A
Lê Thi Dung B.II.2. Sự tham gian của NHTM
trên thị trường chứng khoán
A+
Trần Thị Huyền Trang B.I.3. Mối quan hệ giữa hoạt động
của NHTM và hoạt động của TTCK
A+
Nguyễn Thị Thơ B.III. Một số giải pháp và phương
hướng hoàn thiện
A+
Nguyễn Thi Như Quỳnh B.II.1. Sự phát triển của thị trường
chứng khoán Việt Nam
A+
Hoàng Thị Hồng Nhung B.I.1. Thị trường chứng khoán và
hoạt động của TTCK
A+
Đinh Thị Thương B.I.2. 2. Hoạt động của Ngân hàng
Thương mại trên TTCK
A+
Trương Thị Hương Giang Tìm tài liệu, làm phần Mở đầu, kết
luận
A+
3
hoạt động và phát triển của NHTM và TTCK.
Chính vì những lý do nêu trên mà nhóm em đi tìm hiểu hệ thống pháp về hoạt
động của NHTM trên TTCK ở Việt Nam hiện nay.
5
B. NỘI DUNG
I. KQC về Ngân hàng Thương mại và Thị Trường chứng khoán
1. Thị trường chứng khoán và hoạt động của thị trường chứng khoán
Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, 1992 các tổ chức thuộc nghiên cứu BTC và ngân
hàng nhà nước Việt Nam đã triển khai nghiên cứu đề án hinhg thành phát triển thị
trường vốn ở Việt Nam. Ngày 28/11/1996 Chính phủ ban hành nghị định số 75/CP
thành lập UBCKNN – là cơ quan thuộc chính phủ quản lý các hoạt động về chứng
khoán và TTCK ở Việt Nam.
Ngày 11/07/1998, Nghị định số 48/1998/ NĐ-CP của chính phủ về chứng khoán
và TTCK và Quyết định số 127/1998/QĐ-TTH của thủ tướng chính phủ về việc
thành lập TTGDCK ở HN và TPHCM được ban hành. Ngày 19/02/2004, theo nghị
định 66/2004/NĐ-CP của Chính phủ. UBCK được chuyển về dưới sự chỉ đạo trực tiếp
của Bộ tài chính. Ngày 08/03/2005, TTGDCK HN chính thức được khai trương.
1.1. Khái niệm thị trường chứng khoán
Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thị trường chứng khoán.
- Quan điểm thứ nhất cho rằng thị trường chứng khoán và thị trường vốn là một.
Nếu xét về mặt nội dung, thì thị trường vốn biểu hiện các quan hệ bản chất bên trong
của các quá trình mua bán chứng khoán. TTCK là biểu hiện bên ngoài, là hình thức
giao dịch vốn cụ thể. Do đó, các thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà
thoongd nhất phản ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trường thư bản.
- Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng : “ Thị trường chứng
khoán được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không đồng nhất là một”. Như vậy, theo
quan điểm này, TTCK và thị trường vốn khác nhau, trong đó TTCK chỉ giao dịch,
mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và
trái phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền
tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của TTCK.
trường chứng khoán phi tập trung không có địa điểm giao dịch chính thức mà có thể
diễn ra tại các quầy, sàn giao dịch của các thành viên thông qua điện thoại hay mạng
máy diện rộng. Khối lượng giao dịch của thị trường này lớn hơn rất nhiều lần so với
Sở giao dịch.
Ngoài hai thị trường nêu trên, người ta còn nói đến thị trường thứ ba, thị trường
dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên thị trường tập trung
và thị trường OTC.
2. Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán
NHTM có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển TTCK, cả đối với
thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
2.1 Các mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng
khoán.
2.1.1 Trên thị trường sơ cấp (primary market):
- Các ngân hàng tham gia hoạt động với tư cách là người phát hành và bán cổ
phiếu của mình (ngân hàng cổ phần). các ngân hàng cổ phần phát hành cổ phiếu để
tạo nguồn vốn khi mới thành lập hoặc tăng vốn bổ sung them trong quá trình hoạt
động. ngoài ra, tất cả các ngân hàng (không phân biệt thành phần sở hữu) cũng phát
hành trái phiếu để huy động vốn từ nền kinh tế. Những việc làm này (phát hành cổ
phiếu, trái phiếu) đã tạo cho TTCK một khối lượng hàng hóa rất lớn ở thị trường sơ
cấp.
- Ngân hàng cung cấp các dịch vụ về tư vấn phát hành chứng khoán, làm đại lý
phát hành chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán. Các doanh nghiệp muốn
phát hành cổ phiếu (đối với công ty cổ phần) hoặc trái phiếu (đối với tất cả các doanh
nghiệp) để tạo vốn, hoặc bổ sung hay tăng vốn, có thể nhờ ngân hàng làm các dịch vụ:
8
+ Tư vấn về vấn đề phát hành (lựa chọn loại chứng khoán phát hành, lợi suất, thời
hạn chứng khoán và các vấn đề kỹ thuật khác);
+ Nhờ ngân hàng làm đại lý phát hành chứng khoán hưởng phí hoa hồng hoặc bao
tiêu toàn bộ chứng khoán của một đợt phát hành và hưởng phí bao tiêu.
2.1.2 Trên thị trường thứ cấp (secondary market):
hàng ủy quyền cho ngân hàng mua cổ phiếu của một công ty nào đó với giá “rẻ nhất”
tại thời điểm quy định, thì ngân hàng sẽ không nhất thiết phải mua các cổ phiếu đó ở
Sở GDCK, mà có thể lấy chứng từ dự trữ của mình để bán cho khách hàng. Tất nhiên,
trong trường hợp như vậy, ngân hàng phải nắm vững tỷ giá chính thức để xác định
mức giá bán cho khách hàng.
Các ngân hàng cũng tích cực sử dụng chức năng kinh doanh chứng khoán, tức là
chức năng mua đi bán lại các loại chứng khoán bằng vốn của mình bỏ ra. Đặc điểm
của hình thức kinh doanh này là ngân hàng luôn luôn mua chứng khoán của khách
hàng bằng tiền mình và bán cho khách hàng từ dự trữ của mình. Đồng thời việc thực
hiện các nghiệp vụ này đối với khách hàng không vì mục đích ăn hoa hồng, mà lợi
nhuận chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Nghĩa là ngân hàng sẽ tìm cách mua các
chứng khoán với giá thấp nhất, bán chúng với giá cao nhất.
Một dạng khác của hoạt động kinh doanh trên TTCK của ngân hàng là hoạt động
đầu cơ chứng khoán. ở Sở GDCK khác nhau thị giá của cùng 1 loại chứng khoán cũng
GDCK có mối liên hệ về thông tin rất chặt chẽ. Do đó, các ngân hàng sẽ mua các
chứng khoán ở nơi có thị giá thấp để bán ở nơi có thị gía cao để kiếm lời cho tới khi
thị giá được cân bằng giữa các thị trường.
2.2 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán..
10
2.2.1 Ngân hàng là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh
nghiệp Nhà nước và hình thành các công ty cổ phần.
Ngân hàng tham gia vào việc thành lập công ty cổ phần hoặc cổ phần hóa các
doanh nghiệp Nhà nước với 1 tỷ lệ cổ phiếu đáng kể để có đủ điều kiện tham gia quản
trị kinh doanh, tín nhiệm. Công ty cổ phần dù mới thành lập hay cổ phần hóa, vốn vẫn
còn hạn hẹp so với yêu cầu của kỹ thuật và công nghệ hiện đại, do đó ngân hàng phải
là trợ thủ đắc lực cho các Công ty cổ phần, tạo điều kiện cho các công ty cổ phần vay
tín dụng. Như vậy, chính chế độ tín dụng và ngân hàng đã xã hội hóa các nguồn vốn,
giải quyết mâu thuẫn trong sự vận động của nguồn vốn giữa các thành phần kinh tế,
xóa bỏ tính chất tư nhân cá biệt của nguồn vốn trong công ty cổ phần. một doanh
nghiệp có thể bắt đầu hoạt động của mình bằng một món nợ vay ngân hàng. Vay ngân
chứng khoán (thông qua các quan hệ tín dụng, thanh toán…).
- Ngân hàng là người sẵn có những phương tiện kỹ thuật cần thiết phù hợp với yêu
cầu của người môi giới.
- Ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên có nghiệp vụ chuyên môn liên quan chặt
chẽ và gần gũi với những nghiệp vụ về chứng khoán.
2.2.4 Cung cấp các dịch vụ lưu giữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng. Dịch
vụ này được thực hiện theo hai cách.
Ngân hàng có thể lưu giữ các chứng khoán được sử dụng như vật thế chấp cho một
khoản vay của khách hàng; các ngân hàng nhỏ không có đủ điều kiện để giữ chứng
khoán cho khách hàng, có thể giữ chứng khoán tại một ngân hàng lớn; các doanh
nghiệp công ty cũng có thể có yêu cầu này; những cá nhân có nguồn tiền lớn cũng có
thể nhờ ngân hàng quản lý sinh lời tài sản của họ và giao chứng khoán cho ngân hàng
quản lý.
12
Mặt khác, ngân hàng cũng được yêu cầu bởi những người có chứng khoán thực
hiện những dịch vụ có liên quan đến chứng khoán khi họ vắng mặt trong một thời
gian dài, như thu hồi vốn các chứng khoán đến hạn, hoặc thu lãi cổ tức và ghi có vào
tài khoản của họ. Đối với các ngân hàng, đây là dịch vụ ngày càng có khả năng mở
rộng và là một nguồn lợi đáng kể. Còn đối với những người mua bán chứng khoán,
việc ngân hàng sẵn sàng cung cấp loại dịch vụ này đã giúp cho họ đỡ tốn kém chi phí,
thời gian, được an toàn và hưởng lợi hơn nhờ kinh nghiệm và chuyên môn của ngân
hàng.
2.2.5 Thực hiện việc thanh toán các chứng khoán.
Nghiệp vụ thanh toán tiếp nối dịch vụ quản lý chứng khoán đã nêu trên. Ngân
hàng có thể mở cho khách hàng của mình các tài khoản chứng khoán để theo dõi việc
mua, bán, chuyển nhượng chứng khoán của khách hàng, kể cả việc thu lãi, thu cổ tức.
Rõ ràng những tài khoản chứng khoán sẽ giúp ích rất nhiều cho những hoạt động mua
bán chứng khoán trên thị trường. Các nhà đầu tư và kinh doanh chứng khoán, các
trung gian, môi giới không phải bận tâm với việc lưu giữ và theo dõi việc mua bán
một số lượng khổng lồ các cổ phiếu, trái phiếu hằng ngày. Ngân hàng sẽ đảm bảo cho
Việc thực hiện công tác thanh toán đều do các ngân hàng đảm nhận, nếu công tác
này được tiến hành tốt sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của một thị
trường chứng khoán. Thanh toán và thanh toán bù trừ được thực hiện theo các trình tự
sau:
+ Người mua, người bán, nhà môi giới đều có tài khoản tại một ngân hàng.
Sau khi các lệnh mua bán được các nhà môi giới thực hiện lúc này sẽ có một hóa
đơn được lập để xác định việc mua bán (số lượng, giá cả) để gửi đến ngân hàng nhờ
thanh toán hộ, căn cứ vào hóa đơn ngân hàng sẽ ghi Nợ cho người mua và ghi Có cho
người bán và những người được hưởng hoa hồng, đây là trường hợp thanh toán đơn
14
giản nhất, tất nhiên theo yêu cầu của khách hàng thì có thể được thanh toán ngay hoặc
sau một thời gian nhất định, thường thì sau từ một đến hai ngày vì không thể tất cả
các giao dịch đều thanh toán được ngay, nếu khách hàng muốn thanh toán “nóng” thì
phải trực tiếp mang hóa đơn đến ngân hàng còn thường thì do các người môi giới
chuyển đến ngân hàng để thanh toán, khách hàng có thể nhận báo Nợ, báo Có tại
Ngân hàng hay tại các Công ty chứng khoán.
+ Người mua, người bán, người môi giới không mở tài khoản tại một ngân hàng,
lúc này phải tham gia thanh toán bù trừ qua ngân hàng nhà nước, các hóa đơn mua
bán đều được gửi về ngân hàng người mua và người bán mở tài khoản để thanh toán
sau đó ngân hàng bên mua và bán tham gia thanh toán bù trừ, trong trường hợp này
thì phải mất từ hai đến ba ngày khách hàng mới có thể nhận được giấy báo Nợ, báo
Có.
Nói chung tất cả các trường hợp mua bán chứng khoán đều có tài khoản tại ngân
hàng mới đảm bảo cho giao dịch được diễn ra nhanh chóng, việc muabans bằng tiền
mặt hầu như không còn xuất hiện ở thị trường chứng khoán ngày nay, ở nước ta trong
trường hợp khách hàng chưa có tài khoản tại ngân hàng thì chưa thể tham gia vào hoạt
động ở thị trường được. Lúc này đương nhiên khách hàng phải mở ngay tài khoản ở
một ngân hàng nào đó.
2.2.7 Tư vấn về phát hành và mua bán chứng khoán
a. Phát hành chứng khoán
nhà đầu tư. Với các nhà đầu tư thì phải chịu nhiều rủi ro vì trình độ có hạn, lại không
thể tự nhờ vào một trung gian nào giúp đỡ trong việc quyết định đầu tư.
+ Phát hành thông qua sở giao dịch chứng khoán: Tức là có các định chế tài chính
trung giant ham gia bảo lãnh phát hành, đây là hình thức áp dụng phổ biến nhất hiện
nay ở các nước, vì các công ty cổ phần lớn muốn huy động trong thời gian ngắn đủ số
vốn cần thiết, việc làm này chỉ có thể thực hiện được thông qua các định chế tài chính
16
trung gian bảo lãnh phát hành, tuy chi phí phát hành tăng them nhưng lại thu được
hiệu quả lớn. Hình thức này ở nước ta chưa được áp dụng bởi vì hầu hết các công ty
cổ phần tổ chức dưới dạng công ty cổ phần nội bộ, chưa đạt được là công ty cổ phần
đại chúng. Hình thức này được tiến hành như sau:
Khi công ty làm xong các thủ tục về thành lập công ty thì phải tìm kiếm được các
nhà bảo lãnh, bảo đảm bao tiêu toàn bộ số chứng khoán phát hành, sau đó bán lại cho
các nhà đầu tư cuối cùng để hưởng hoa hồng hay lệ phí phát hành, nó thường được
tính từ 3% đến 10% so với giá bán trực tiếp cho các nhà đầu tư.
b. Giao dịch mua chứng khoán
Việc giao dịch mua bán chứng khoán nói chung được thực hiện thông qua các
công ty chứng khoán thành viên của sở giao dịch chứng khoán, kể cả các công ty
chứng khoán không phải là thành viên cũng phải mua bán thông qua các công ty
thành viên.Về nguyên tắc các công ty chứng khoán thành viên không được thực hiện
giao dịch mua bán ngoài sở giao dịch đã đăng ký. Các công ty chứng khoán thực hiện
giao dịch mua bán chứng khoán với cương vị là người môi giới nên phải tuân thủ lệnh
của khách hàng, hiện nay có thể phổ biến dung ba loại lệnh cơ bản sau: lệnh thị
trường – lệnh giới hạn – lệnh dừng để mua hoặc bán. Tất nhiên trong điều kiện hiện
nay, các nhà đầu tư khó mà lựa chọn được một loại lệnh có lợi nhất, với loại lệnh thị
trường thường được áp dụng khi chỉ số giá chứng khoán ổn định trong một thời gian
dài, người ta mua chứng khoán để hưởng lợi tức là chính và đây cũng là loại lệnh
thông dụng nhất cho các nhà đầu tư sử dụng, tất nhiên đối với các nhà môi giới vẫn
phải thận trọng tính toán để sao cho việc mua bán cho khách hàng là có lợi nhất, có
như vậy các nhà môi giới mới mới thu hút được khách hàng, tạo ra uy tín lớn trong
Như vậy, qua quá trình phân tích trên, chúng ta có thể rút ra khái quát về các
nghiệp vụ của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán như sau:
18
Đối với hoạt động ngân hàng đầu tư, được chia thành 2 nhóm nghiệp vụ, nhóm
được trực tiếp thực hiện hoặc phải triển khai thông qua các công ty con. Ngân hàng
thương mại được phép trực tiếp tư vấn tài chính doanh nghiệp, mua bán, sáp nhập
doanh nghiệp và tư vấn đầu tư chứng khoán; lưu ký chứng khoán, mua bán trái phiếu
chính phủ.
Với các nghiệp vụ như bảo lãnh phát hành chứng khoán; tự doanh chứng khoán
bao gồm cả mua bán cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp; môi giới chứng khoán; quản
lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán… ngân
hàng không được trực tiếp thực hiện mà phải thông qua các công ty con của mình.
* Trên thị trường sơ cấp
- Vai trò phát hành: Nhằm phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng, nhu cầu vốn dài hạn
thông qua phát hành trái phiếu của các NHTM là rất lớn. Cho đến nay, hoạt động phát
hành trái phiếu của các NHTM chưa phải là hoạt động thường xuyên, liên tục. Tuy
nhiên, đợt phát hành trái phiếu tăng vốn vừa qua của Ngân hành Ngoại thương
(NHNT) đã chứng tỏ mối quan tâm lớn của thị trường đối với trái phiếu ngân hàng,
đặc biệt là các NHTM hoạt động tốt có uy tín. Nhằm phục vụ cho tăng trưởng kinh tế,
yêu cầu về mở rộng quy mô vốn của các NHTM càng đặt ra bức thiết. Việc các
NHTM phát hành trái phiếu có ý nghĩa quan trọng: một mặt, nó góp phần tăng hàng
hoá cho thị trường chứng khoán, mặt khác nó là một kênh dẫn vốn quan trọng cho các
NHTM cho mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế
- Vai trò đầu tư trực tiếp: Với tiềm lực tài chính mạnh và khả năng sử dụng vốn
ngắn hạn đầu tư dài hạn, các NHTM có thể đóng vai trò là nhà đầu tư trên thị trường
trái phiếu, đặc biệt là đối với trái phiếu Chính phủ, vốn đòi hỏi tầm nhìn đầu tư trung
và dài hạn. Trên thực tế, một số lượng lớn trái phiếu Chính phủ và công trái là do
NHTM mua. Trong năm 2005, tổng lượng trái phiếu Chính phủ phát hành là 17.226
tỷ đồng, trong đó các NHTM mua 12.058 tỷ đồng, chiếm khoản 70%.
19
các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh (đầu cơ) và bảo hiểm rủi ro, đồng thời
tăng tính thanh khoản của thị trường.
- Cho vay chứng khoán:
Nghiệp vụ cho vay chứng khoán rất phổ biến đối với các TTCK phát triển. Tại Mỹ,
Cục dự trữ liên bang (Fed) thực hiện nghiệp vụ này với các đại lý sơ cấp đối với trái
phiếu Chính phủ. Nghiệp vụ này một mặt làm tăng thanh khoản của thị trường, mặt
khác giúp Fed điều tiết được lượng cung tiền. Tài sản thế chấp thường là tiền mặt.
Nghiệp vụ cho vay chứng khoán giữa các trung gian tài chính có phạm vi rộng hơn cả
về danh mục chứng khoán cho vay cũng như danh mục tài sản thế chấp. Bên vay thế
chấp tài sản khi nhận chứng khoán và phải trả lại chứng khoán, đồng thời nhận lại tài
sản thế chấp khi đáo hạn. Việc cho vay chứng khoán thực sự góp phần làm tăng tính
thanh khoản của thị trường, đồng thời có thể giúp các bên tham gia (đặc biệt là đối với
các trung gian tài chính) tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kinh doanh chứng khoán
đi vay hoặc nhận thế chấp.
3. Mối quan hệ giữa hoạt động của NHTM và hoạt động của thi trường chứng
khoán
Với khoảng thời gian hình thành và hoạt động còn non trẻ song TTCK Việt Nam
đã có những bước phát triển đáng kể.
21
Tuy còn non trẻ, nhưng TTCK Việt Nam đã chứng tỏ là một kênh dẫn vốn quan
trọng, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước. Người ta thường
cho rằng, khi TTCK có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ thì lượng chu chuyển vốn qua
hệ thống NHTM bị giảm sút và ngược lại. Tuy nhiên, đặc thù của nền kinh tế Việt
Nam với tiềm năng về vốn trong dân cư còn rất lớn thì nếu có sự tham gia của các
NHTM vào TTCK sớm hơn và mạnh mẽ hơn thì TTCK còn có những bước phát triển
ngoạn mục hơn nữa.
Sau đây, nhóm em có tìm hiểu về vai trò của các NHTM trên thị trường chứng
khoán. Từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của các
NHTM vào TTCK.
1. Trên thị trường sơ cấp
Với vai trò là trung gian trên thị trường, các NHTM có thể thực hiện các
nghiệp vụ sau:
2.1. Kinh doanh trái phiếu
Có thể thấy rõ rằng hoạt động kinh doanh trái phiếu của NHNT thực chất là hoạt
động chiết khấu, tạo thanh khoản cho thị trường. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh
trái phiếu, công trái với các nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng có tiềm năng phát triển lớn, nhưng
chưa được tổ chức thật sự chuyên nghiệp. Một ưu điểm nữa của hình thức kinh doanh
này là không bị giới hạn bởi thời gian giao dịch của thị trường chứng khoán tập trung.
2.2. Sản phẩm phái sinh
23
Các NHTM có thể thực hiện các sản phẩm phái sinh như: hoán đổi, kỳ hạn, quyền
chọn, hợp đồng tương lai đối với các trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường. Ở đây, sự kết
hợp liên thị trường giữa thị trường tiền tệ với thị trường chứng khoán sẽ cung cấp cho
các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh (đầu cơ) và bảo hiểm rủi ro, đồng thời
tăng tính thanh khoản của thị trường.
2.3. Cho vay chứng khoán
Nghiệp vụ cho vay chứng khoán rất phổ biến đối với các TTCK phát triển. Tại
Mỹ, Cục dự trữ liên bang (Fed) thực hiện nghiệp vụ này với các đại lý sơ cấp đối với
trái phiếu Chính phủ. Nghiệp vụ này một mặt làm tăng thanh khoản của thị trường,
mặt khác giúp Fed điều tiết được lượng cung tiền. Tài sản thế chấp thường là tiền mặt.
Nghiệp vụ cho vay chứng khoán giữa các trung gian tài chính có phạm vi rộng hơn cả
về danh mục chứng khoán cho vay cũng như danh mục tài sản thế chấp. Bên vay thế
chấp tài sản khi nhận chứng khoán và phải trả lại chứng khoán, đồng thời nhận lại tài
sản thế chấp khi đáo hạn. Việc cho vay chứng khoán thực sự góp phần làm tăng tính
thanh khoản của thị trường, đồng thời có thể giúp các bên tham gia (đặc biệt là đối với
các trung gian tài chính) tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kinh doanh chứng khoán
đi vay hoặc nhận thế chấp.
Từ đó ta thấy rằng: NHTM có vai trò rất lớn trong việc phát triển thị trường
chứng khoán; (i) Vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc tạo hàng hoá cho thị
trường chứng khoán, (ii) vai trò trung gian chứng khoán, (iii) vai trò điều chỉnh cung
người dân.
1.1.2 Giai đoạn 2006 : Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam.
Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển “đột phá”,
tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với hoạt động
25