Đề tài " Các giải pháp nâng cao vai trò của trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam " potx - Pdf 16

Luận văn
Các giải pháp nâng cao vai trò của
trung gian tài chính trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
MỤC LỤC

4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Để thực hiện đường lối công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, duy
trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế bền vững và chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu
kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, đòi hỏi phải có
nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển.
Vì vậy việc xây dựng thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã trở
thành nhu cầu bức xúc và cấp thiết nhằm huy động các nguồn vốn trung,
dài hạn ở trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển kinh tế thông qua
chứng khoán nợ và chứng khoán vốn.
Thêm vào đó, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước với sự
hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán sẽ tạo môi trường ngày
càng công khai và lành mạnh hơn. Ngày 10/7/1998 Thủ tướng Chính phủ
đã ký ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và Thị trường
chứng khoán cùng với Quyết định thành lập hai Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán tại Hà Nội và tp.Hồ Chí Minh.
Qua 7 năm với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với thị
trường chứng khoán thế giới, Trung tâm giao dịch Chứng khoán tp.HCM
đã chính thức được Chính phủ ký Quyết định số 599/QĐ-TTg ngày
11/05/2007 chuyển đổi thành Sở giao dịch Chứng khoán tp.HCM. Ngày
08/08/2007, Sở giao dịch chứng khoán tp.HCM đã chính thức được khai
trương.
Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội được thành lập theo Quyết định
số 01/2009/QĐ-TTg ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở

- Nghiên cứu một số mô hình các trung gian trên thị trường chứng
khoán quốc tế.

6
- Đánh giá vai trò của các trung gian tài chính trong quá trình phát
triển thị trường chứng khoán.
- Các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của các trung gian tài chính.
- Các hoạt động của trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán.
- Đánh giá thực trạng của các trung gian tài chính Việt Nam và hiện
trạng tham gia của các định chế này vào thị trường chứng khoán.
- Đánh giá vai trò điều hòa cung cầu chứng khoán thông qua hoạt
động của các tổ chức tài chính trung gian.
- Kiến nghị một số giải pháp tham gia.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài này tập trung nghiên cứu các hoạt động chính, các kết quả đạt
được, sự tham gia của trung gian tài chính từ khi thị trường chứng khoán
Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động.
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nên phạm vi nghiên cứu
chỉ đề cập đến một số trung gian tài chính hoạt động mang tính chất trung
gian trên thị trường chứng khoán, trong đó khía cạnh nghiên cứu tập trung đi
sâu vào các ngân hàng thương mại và một số trung gian tài chính khác tham
gia dưới hình thức cung ứng các dịch vụ tài chính và điều tiết thị trường
(môi giới, tư vấn, định mức tín nhiệm, bảo lãnh phát hành, kế toán, kiểm
toán. v.v )
4. Các phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp duy vật lịch sử
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp thống kê


8
- Chương III: Giải pháp nâng cao vai trò trung gian tài chính trên thị
trường chứng khoán
3.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam và vai trò
trung gian tài chính.
3.2. Giải pháp nâng cao vai trò trung gian tài chính.
3.2.1. Giải pháp vĩ mô
3.2.2. Giải pháp cụ thể

9
CHƯƠNG I - TRUNG GIAN TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ TRUNG
GIAN TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.Khái niệm trung gian tài chính
1.1.1.Khái niệm trung gian tài chính
Trong nền kinh tế, bên cạnh những chủ thể thừa vốn luôn luôn tồn tại
các chủ thể thiếu vốn, từ đó nảy sinh nhu cầu chuyển vốn từ chủ thể thừa
vốn đến chủ thể thiếu vốn một cách trực tiếp và gián tiếp:
- Trực tiếp
Chủ thể thừa vốn đáp ứng trực tiếp nhu cầu tài trợ của chủ thể thiếu
vốn bằng việc mua các chứng khoán khởi thủy do các chủ thể thiếu vốn
phát hành.
- Gián tiếp
Chủ thể thừa vốn không đáp ứng trực tiếp nhu cầu tài trợ của các chủ
thể thiếu vốn thông qua các định chế tài chính đóng vai trò trung gian tài
chính (gọi là các định chế tài chính trung gian).
Các định chế tài chính trung gian là những tổ chức kinh doanh trên
lĩnh vực tài chính tiền tệ. Hoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là
huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội dưới các hình
thức tiền gửi, phí bảo hiểm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu và các loại

hiểm: nhân thọ và phi nhân thọ, quỹ trợ cấp hưu trí,…).
+ Các trung gian đầu tư
Các trung gian đầu tư huy động vốn bằng cách phát hành các loại
chứng từ có giá như trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư,…đồng thời sử dụng
vốn đầu tư vào những mục đích riêng biệt vì quyền lợi của các chủ đầu tư.
(công ty tài chính, quỹ đầu tư).

11
1.1.2.1.Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một loại hình trung gian tài chính tiêu biểu.
Nó là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan (trong đó hoạt động ngân hàng là
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung
cấp các dịch vụ thanh toán).
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại chủ yếu và thường
xuyên là thu hút vốn thông qua các khoản tiền gửi phát séc, tiền gửi tiết
kiệm và những khoản tiền gửi khác từ các chủ thể trong nền kinh tế. Tiếp
đó, ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để cấp tín dụng và thực hiện các
hoạt động đầu tư tài chính trên thị trường; bên cạnh đó, trong quá trình kinh
doanh ngân hàng thương mại còn thực hiện cung ứng các dịch vụ trung
gian tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại thực hiện các
chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán, chức năng
tạo tiền. Cùng với các chức năng này, ngân hàng thương mại thực hiện các
nghiệp vụ chủ yếu như nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn,
nghiệp vụ trung gian (dịch vụ ngân hàng).
1.1.2.2.Công ty tài chính
Công ty tài chính là một trung gian tài chính, là một tổ chức kinh
doanh tiền tệ với hoạt động chủ yếu và thường xuyên là:

- Công ty tài chính bán hàng
Thực hiện cung cấp tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các hộ
gia đình, cá nhân dưới hai hình thức:

13
o Trực tiếp cung ứng tín dụng cho các hộ gia đình, cá nhân để mua
sắm hàng hóa tiêu dùng, hầu hết các khoản vay đều được trả góp theo định
kỳ hoặc cấp thẻ tín dụng cho khách hàng để họ mua sắm ở hệ thống các cửa
hàng bán lẻ.
o Gián tiếp cấp tín dụng cho người tiêu dùng để mua sắm hàng hóa
do công ty mẹ hoặc từ một doanh nghiệp sản xuất. Sau khi người tiêu dùng
thỏa thuận và ký một hợp đồng mua hàng trả góp, công ty tài chính sẽ mua
lại các hợp đồng đó. Quan hệ giữa công ty tài chính và công ty bán hàng rất
khăng khít. Thông thường công ty bán hàng là công ty mẹ của công ty tài
chính. Công ty tài chính được quyền kiểm tra quá trình thu nợ của công ty
bán hàng. Khi hợp đồng trả góp đến hạn, người tiêu dùng trả tiền cho công
ty bán hàng, công ty bán hàng phải hoàn đủ số tiền cho công ty tài chính.
Trong trường hợp công ty bán hàng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ,
công ty tài chính có quyền thu hồi bằng hàng hóa của công ty bán hàng.
- Công ty tài chính thương mại
Chủ yếu thực hiện cung cấp tín dụng bằng cách mua lại hoặc chiết
khấu những khoản phải thu của doanh nghiệp, thực hiện cung cấp tín dụng
cho thuê tài chính (tín dụng thuê mua).
Trong trường hợp các doanh nghiệp bán hàng chưa thu tiền nhưng lại
có nhu cầu tiền mặt để thanh toán tiềm mua nguyên vật liệu phục vụ sản
xuất kinh doanh hoặc trả lương,… các doanh nghiệp này đem các khoản
phải thu thế chấp để vay tại các công ty tài chính (gọi là tài trợ các khoản
phải thu), hoặc các doanh nghiệp này có thể bán đứt các khoản phải thu mà
không cần thế chấp cho các công ty tài chính (gọi là mua nợ).
Công ty tài chính thương mại thực hiện cung cấp tín dụng dưới hình

các tụ điểm dân cư gắn với địa bàn hành chính cấp xã, phường.
1.1.2.4.Công ty bảo hiểm

15
Công ty bảo hiểm là một định chế tài chính trung gian thực hiện việc
huy động vốn bằng cách bán các hợp đồng bảo hiểm, đồng thời sử dụng
vốn vào các hoạt động đầu tư, bù đắp cho người mua bảo hiểm khi có rủi ro
xảy ra theo các điều khoản ký kết trong hợp đồng bảo hiểm. Các hợp đồng
bảo hiểm có thể do các công ty bảo hiểm nhân thọ hoặc công ty bảo hiểm
phi nhân thọ cung cấp.
Công ty bảo hiểm thực hiện trung gian tài chính bằng cách sử dụng
phí bảo hiểm đã thu được thông qua việc bán các hợp đồng bảo hiểm để
đầu tư kinh doanh sinh lời. Từ kết quả hoạt động đầu tư, công ty bảo hiểm
sử dụng thanh toán cho các khoản tổn thất do rủi ro bất ngờ trong phạm vi
được quy định trong hợp đồng bảo hiểm.
- Các loại hình bảo hiểm
* Căn cứ theo đối tượng bảo hiểm:
+ Bảo hiểm tài sản: là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là
giá trị tài sản. Các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản phổ biến hiện nay như:
- Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu.
- Bảo hiểm thân tàu, thuyền, ô tô
- Bảo hiểm cháy
+ Bảo hiểm con người: là bảo hiểm toàn bộ thân thể của người được
bảo hiểm. Đối tượng bảo hiểm là đời sống sức khoẻ, tính mạng, khả năng
lao động của con người. Các nghiệp vụ bảo hiểm con người phổ biến hiện
nay:
- Bảo hiểm nhân thọ.
- Bảo hiểm tai nạn chết người và mất khả năng lao động.
- Bảo hiểm tai nạn cá nhân bất ngờ.
- Bảo hiểm trẻ em.


17
Công ty bảo hiểm có thể là công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công
ty liên doanh, chi nhánh của tổ chức bảo hiểm nước ngoài, công ty 100%
vốn nước ngoài hay tổ chức môi giới bảo hiểm. Mỗi loại hình doanh nghiệp
có thể có các cách thức khác nhau để huy động nguồn vốn ban đầu của
mình.
Muốn được phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm thì
phải đảm bảo mức vốn pháp định cần thiết. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể
quy định mức vốn điều lệ cao hơn mức vốn pháp định. Trong quá trình
hoạt động, vốn của doanh nghiệp có thể được bổ sung thêm từ kết quả hoạt
động kinh doanh mang lại.
* Doanh thu và thu nhập
Doanh thu của công ty bảo hiểm là toàn bộ số tiền công ty bảo hiểm
thu được trong một giai đoạn kinh doanh nhất định, thường là một năm.
+ Doanh thu bao gồm:
- Thu kinh doanh bảo hiểm như doanh thu của các nghiệp vụ bảo
hiểm gốc, thu từ hợp đồng nhận tái bảo hiểm.
- Thu từ hợp đồng nhượng tái bảo hiểm.
+ Doanh thu có ý nghĩa quan trọng đối với các công ty bảo hiểm:
Thông thường, lượng vốn ban đầu nhiều hay ít chỉ là tiền đề hoạt
động của công ty. Doanh thu mới là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát
triển của công ty bảo hiểm. Doanh thu càng lớn chứng tỏ số lượng khách
hàng càng lớn, đảm bảo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” của hoạt động
bảo hiểm và là cơ sở để giàn trải, san sẻ rủi ro.
Ngoài ra, còn có thu từ hoạt động đầu tư là nhân tố quan trọng làm
gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm ngoài phần thu nhập từ hoạt
động bảo hiểm. Trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm là nhà đầu tư quan

18

các nội dung chi phí kinh doanh khác như chi hoàn phí bảo hiểm gốc, chi
lương, dịch vụ mua ngoài, đề phòng hạn chế tổn thất, chi hoa hồng, chi đại
lý, giám định
+ Hoạt động đầu tư vốn của công ty bảo hiểm
Công ty bảo hiểm được phép sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi của mình để tham gia vào các hoạt động đầu tư.
Để đảm bảo quyền lợi cho những người được bảo hiểm, các công ty
bảo hiểm khi đầu tư phải thực hiện các cam kết của mình bằng các tài sản
Có thể hiện trên bảng tổng kết tài sản. Khi sử dụng quỹ của những người
được bảo hiểm, các công ty bảo hiểm bắt buộc phải tuân theo những
nguyên tắc nhất định để đảm bảo sự an toàn, sự sinh lời và tính thanh
khoản của các khoản vốn đầu tư:
• An toàn về mặt tài chính để thực hiện chắc chắn những cam kết của
công ty bảo hiểm đối với những người được bảo hiểm.
• Sinh lời nhằm bảo đảm nguyên tắc hạch toán trong hoạt động kinh
doanh bảo hiểm của các công ty bảo hiểm và tạo điều kiện giảm phí
bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm.
• Khả năng thanh toán để công ty bảo hiểm có thể thanh toán các
khoản bồi thường tổn thất cho các chủ nợ vào bất kỳ thời điểm nào.
Chính vì lý do này mà Nhà nước quy định danh mục các hoạt động
mà công ty bảo hiểm có thể đầu tư và tỷ lệ đầu tư cho mỗi loại.
Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu:
• Các giá trị bất động sản: như nhà cửa, đất đai, Hình thức đầu tư
này có thể là chắc chắn và sinh lời nhưng tính thanh khoản lại rất
thấp.
• Các giá trị động sản: chủ yếu là trái phiếu và cổ phiếu.

20
• Các khoản cho vay và tiền gửi: các khoản cho vay thông qua việc
cấp tín dụng, hay mua trực tiếp các trái phiếu, tín phiếu kho bạc của

Dự phòng nghiệp vụ
Hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng song phương, trong đó người
được bảo hiểm và công ty bảo hiểm phải có nghĩa vụ qua lại. Người được
bảo hiểm phải trả phí bảo hiểm và công ty bảo hiểm cam kết bồi thường khi
có thiệt hại quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy, các công ty bảo hiểm
phải lập quỹ dự phòng nghiệp vụ nhằm thực hiện các cam kết của mình đối
với người được bảo hiểm và người được hưởng hợp đồng bảo hiểm. Tuy
nhiên, mức độ bồi thường thường là không biết được chính xác mà phải
qua đánh giá mang tính chất ước đoán. Trong trường hợp việc ước tính
thiếu chính xác thì công ty bảo hiểm phải sử dụng ngay các khoản phí thu
giành để bồi thường cho những tổn thất trong tương lai để bồi thường cho
những tổn thất từ những năm trước.
Các quỹ dự phòng phải lập là dự phòng rủi ro tổn thất phải trả, dự
phòng rủi ro tăng lên, dự phòng cam kết chia lời, dự phòng giảm giá tài sản
hiện có
Quỹ dự trữ bắt buộc
Các công ty bảo hiểm và môi giới bảo hiểm phải trích một tỷ lệ phần
trăm nhất định trên lãi ròng hàng năm để lập quỹ dự trữ bắt buộc. Nó đảm
bảo bổ sung cho các quỹ dự phòng trong trường hợp các quỹ dự phòng lập
không đủ và nó làm tăng quy mô vốn của công ty.
Nộp thuế
*Thuế giá trị gia tăng
Tính cho các đối tượng phát sinh doanh thu như tính trên các khoản
phí bảo hiểm gốc, phí nhận tái bảo hiểm, từ kinh doanh bất động sản, từ

22
hoạt động cho vay; từ giám định, xét bồi thường và các hoạt động kinh
doanh khác.
Các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm con
người, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng và các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp

bộ máy tổ chức thích hợp, các công ty chứng khoán hoàn toàn có thể thực
hiện tốt trung gian tài chính cho các nhà đầu tư.
Ngoài các công ty chứng khoán hoạt động trung gian tài chính trên
thị trường chứng khoán, các tổ chức trên thị trường chứng khoán còn bao
gồm các tổ chức quỹ đầu tư – là những tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên
nghiệp, được hình thành bởi những nhà tiết kiệm và đầu tư cùng góp vốn.
Thay vì tiết kiệm và đầu tư số vốn của mình cho nhà môi giới chứng khoán
thị họ góp vốn vào quỹ đầu tư chung tạo thành một số vốn lớn, đầu tư tập
thể.
1.1.2.6.Quỹ hưu trí
Quỹ hưu trí được thành lập với mục đích hỗ trợ cho người lao động
khi về hưu có một mức thu nhập ổn định. Để đạt được mục đích này, các tổ
chức, doanh nghiệp sử dụng lao động, người lao động và các tổ chức công
đoàn, chính phủ cùng nhau xây dựng kế hoạch lương hưu trí, trong đó quy
định tỷ lệ đóng góp định kỳ của những người tham gia kế hoạch trong thời
gian người lao động còn đang làm việc. Tiền lương hưu của người lao động
về hưu được trả một lần hoặc đều đặn theo định kỳ. Nguồn vốn nhàn rỗi
của quỹ được đầu tư vào các công cụ đầu tư dài hạn như cổ phiếu, trái
phiếu công ty, trái phiếu chính phủ, gửi tiền ở các ngân hàng,…Việc đầu tư
nhằm bảo toàn và phát triển quỹ vừa giúp đảm bảo thu nhập thường xuyên
ổn định cho người lao động về hưu vừa giúp di chuyển vốn nhàn rỗi đến
tay các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế (trung gian tài chính).
1.1.2.7. Sự trung gian tài chính của Chính phủ

24
Chính phủ tham gia trung gian tài chính theo hai cách cơ bản:
- Thành lập các tổ chức tín dụng nhà nước.
- Sự đảm bảo chính phủ cho các khoản vay tư nhân.
Trên đây là một số loại hình trung gian tài chính phổ biến. Mặc dù
phương thức hoạt động cụ thể của tổ chức này là khác nhau song chúng thể

chính trung gian.
1.3.1. Vai trò chuyển đổi thời gian đáo hạn của các công cụ tài
chính
Nhờ có các trung gian tài chính, cả người đầu tư và người đi vay đều
có thể lựa chọn được những thời hạn thích hợp với mục tiêu của mình,
tránh tình trạng người vay phải tìm người đồng ý chấp nhận thời hạn vay
của mình. Điều đó có nghĩa là cơ hội lựa chọn về mặt thời gian đáo hạn cho
cả hai bên đã tăng lên.
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư thường không thích cho vay dài hạn.
Với hoạt động của các khoản tiền gửi ngắn hạn nối tiếp nhau, các trung
gian tài chính sẵn sàng thực hiện các khoản cho vay dài hạn hơn.
1.3.2. Vai trò giảm rủi ro đến nức thấp nhất thông qua việc đa dạng
hóa danh mục đầu tư
Khi các nhà đầu tư đặt tiền của họ vào các quỹ đầu tư, những quỹ
này có thể đầu tư số tiền đó vào chứng khoán của một số công ty lớn với
danh mục đầu tư phong phú, đa dạng. Bằng cách này, quỹ đầu tư đã giảm
đến mức thấp nhất rủi ro đối với số vốn của các nhà đầu tư. Trong đầu tư,
nhất là đầu tư chứng khoán các nhà đầu tư chuyên nghiệp khuyên rằng phải
đa dạng các khoản mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro. Việc “không bỏ trứng
vào cùng một giỏ” luôn được áp dụng. Khi đến với các quỹ đầu tư, nhà đầu
tư đã phần nào đa dạng danh mục đầu tư để phân tán rủi ro.

26
1.3.3. Vai trò giảm thiểu đến mức thấp nhất chi phí hợp đồng và chi
phí xử lý thông tin
Các trung gian tài chính là các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Các tổ
chức này có thể dễ dàng thu hút được những người gửi tiền và những người
đi vay. Hoạt động của các trung gian tài chính giúp giảm chi phí để những
người này tìm kiếm nhau. Với đông đảo nhân viên được đào tạo chuyên
phân tích và quản lý các công cụ tài chính, các trung gian tài chính có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status